GIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 8 - Pdf 19


134
- Thu gom thứ cấp: rác thải được thu gom từ các bãi chứa chung, các điểm hẹn chuyển
đến bãi xử lý. Quá trình này phụ thuộc vào các loại xe thu gom và quãng đường vận
chuyển, và ít ảnh hưởng đến người dân.
VI.3.1.1. Hiệu quả của việc thu gom được đặc trưng bởi các tiêu chí sau:
- Số tấn chất thải được thu gom trong một giờ.
- Tổng số hộ được phục vụ trong một giờ làm vi
ệc của một kíp.
- Chi phí của một ngày thu gom.
- Chi phí cho mỗi lần dừng để thu gom.
- Số lượng người được phục vụ bởi một xe trong một tuần.
VI.3.1.2. Các hình thức thu gom khác
- Thu gom theo khối: trong hình thức thu gom này các xe thu gom này xe thu gom sẽ
chạy theo một quy trình đều đặn theo tần suất đã được quy định trước đó (từ 2-
3lần/tuần hoặc theo ngày, ). Những xe này sẽ dừng tại các ngã ba, tư
hay điểm hẹn
nhất định nào đó và rung chuông. Theo tín hiệu này những người dân xung quanh đó
mang sọt rác của mình đến để đổ vào các xe. Có nhiều dạng khác nhau của hình thức
thu gom này nhưng điểm chung là mọi gia đình đều được yêu cầu phải có thùng rác
của riêng mình ở trong nhà và mang đến cho công nhân thu gom rác đúng giờ theo tín
hiệu đã quy đinh.
- Thu gom lề đường: đây là một hình thức thu gom đòi hỏi có một dịch vụ
đều đặn và
một thời gian biểu tương đối chính xác. Các hộ dân cần phải đặt lại thùng rác sau khi
rác đã được đổ ra khỏi thùng. Điểm quan trọng là những thùng này đòi hỏi phải dạng
chuẩn, nếu không lượng rác bỏ vào thùng sẽ dư ra ngoài hoặc chỉ chiếm một phần
nhỏ thể tích của thùng. Trong những điều kiện này, rác có thể bị gió thổi bay hay súc
vật hoặc người b
ới rác làm vung vãi ra đường làm cho quá trình thu gom kém hiệu
quả hoặc gây lãng phí.

cố định, người công nhân chỉ nhấc lên đổ vào xe lớn và sau đó đặt lại vị trí cũ.
Tuy nhiên, dù sử dụng phương tiện vận chuyển nào, chúng ta cũng phải thỏa các điều kiện sau:
- Vận chuyển rác với giá rẻ nhất.
- Rác phải được đậy kỹ trong quá trình chuyên chở.
-
Các loại xe này phải được thiết kế phù hợp với hệ thống giao thông hiện hành.
- Tải trọng xe không vượt tải trọng cho phép của hệ thống đường xá hiện hành.
- Phương pháp để tháo dỡ rác trong xe phải đơn giản và thuận tiện,

136
-


Thùng rác, bể
chứa rác
Các hộ gia đình
Khách sạn
Cơ quan trường
học
Các cơ sở sản
xuất ngành công
nghiệp
Đội quân nhặt rác
lưu động
Thu mua đồng nát
tại kho chứa
Đại lý và những
người buôn bán
Xuất
khẩu
Những người mua đồng
nát lưu động
Hoạt động thu mua
dọc đường phố
Nhà hàng ăn
uống, nhà trọ

137
VI.3.3 Thu hồi và tái chế
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến
thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Đây là công
việc ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực quản lý và xử lý rác nhằm thỏa mãn hai mục tiêu: bảo
vệ tài nguyên thiên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hoạt động tái chế c

Môi trường toàn cầu
(Hệ sinh thái)
Tác động môi
trường
Tiêu hủy cuối cùng
(chôn lấp)
Sản xuất

Phân phối

Tiêu dùng
Chất thải
Tái chế
Xử lý trung gian
“Xử lý tốt hơn”
(Tái chế)
Tài nguyên
thiên nhiên
Tài nguyên
kinh tế
Các nguồn tài
nguyên tái chế
Tài nguyên có
thể tái chế
Hoạt động kinh tế
“kinh tế thị trường”
Tái sản xuất
Các tác động môi trường

138

được hành nghề mà không gây nguy hại đến môi trường, ví dụ: giấy
thẩm định môi trường, giấy thỏa thuận môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi
trường tùy theo loại hình và quy mô sản xuất mà các cơ quan quản lý có các yêu cầu khác
nhau. Theo Thông tư 490/1998/TT-BKHCNMT về hướng dẫn và thẩm định báo cáo đánh
giá tác động môi trường có quy định:
- Các dự án đầu tư có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng, dễ gây ra sự
cố môi trường, khó khống chế và khó xác định tiêu chuẩn môi trường thì phải lập và
trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các dự án còn lại sẽ đăng ký
đạt tiêu chuẩn môi trường trên cơ sở tự xác lập và phân tích báo cáo đánh giá tác
động môi trường của mình.
- Phiếu xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường là căn cứ pháp lý về mặt môi
trường để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét và cho phép dự
án thực
hiện các bước tiếp theo.

139
VI.4.1.3 Kiểm soát môi trường
Kiểm soát môi trường chính là khống chế ô nhiễm, ngăn ngừa hoặc loại bỏ chất thải nguy hại
ngay tại nguồn phát sinh, làm sạch ô nhiễm, thu gom, tái sử dụng và xử lý chất thải. Kiểm soát
môi trường là kiểm soát nguồn thải vào môi trường: các ống khói, các cống xả nước thải, các
nguồn rác thải. Muốn quản lý được các nguồn này, buộc các cơ quan quản lý về môi trường
tiến hành thố
ng kê được các cơ sở sản xuất và các dòng chất thải đổ ra. Căn cứ thống kê là các
báo cáo đánh giá chất lượng môi trường. Trên cơ sở hồ sơ kiểm kê nguồn thải có thể xác định
được các khu vực cơ nguy cơ cao về ô nhiễm hoặc sự cố môi trường để từ đó có sự chú ý hoặc
đầu tư nhất định trong việc phòng ngừa ô nhiễm hoặc kiểm soát nguồn thả
i.
VI.4.1.4 Thanh tra môi trường
Thanh tra môi trường là biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi
phạm về BVMT, góp phần quan trọng đảm bảo cho hiệu lực Luật BVMT được thực hiện

- Nghiêm cấm việc xuất, nhập khẩu chất thải có chứa độc tố hay các vi trùng gây bệnh
có thể gây ô nhiễm môi trường.

140
- Bộ KHCN&MT chịu trách nhiệm trước Chính phủ tổ chức và chỉ đạo thực hiện chức
năng thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, quyền hạn, phạm vi hoạt động của thanh tra chuyên ngành về BVMT do Bộ
trưởng Bộ KHCN&MT và Tổng thanh tra Nhà nước thống nhất quy định, phù hợp
với các quy định của Luật BVMT và Pháp lệnh thanh tra (Điều 38).
Các tiêu chuẩn chất thải rắ
n trong quá trình sản xuất
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6696:2000. Chất thải rắn-Bãi chôn lấp hợp vệ sinh –
Yêu cầu chung về BVMT
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6705:2000. Chất thải rắn không nguy hại-Phân loại
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6706:2000. Chất thải nguy hại – Phân loại
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 6707:2000. Chất thải nguy hại – Dấu hiệu cảnh báo,
phòng ngừa.
- Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN ISO 14001:1998. Hệ thống quản lý môi trường-Quy
định và hướ
ng dẫn sử dụng.

VI.4.2 Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
VI.4.2.1 Xây dựng chiến lược quản lý CTR
- Dự báo lượng thải căn cứ vào sự phát triển của sản xuất
- Quy hoạch các khu công nghiệp, dự kiến cho việc thu gom, vận chuyển, chôn lấp
- Đầu tư trang thiết bị cho việc thu gom và vận chuyển CTR
- Lựa chọn công nghệ xử lý hợ
p lý
- Lập kế hoạch tài chính cho việc xử lý, tái sử dụng
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, đặc biệt là áp dụng chiến lược sản xuất sạch.

bệnh tật như HIV/ASDS, viêm gan, viêm não, lao, thương hàn, tả hoặc các hóa chất
độc hại mà nếu chôn lấp không tốt sẽ gây ô nhiễm nước ngầm; giảm từ 75% đến 95%
theo thể tích lượng rác chôn lấp. Như vậy có thể tiế
t kiệm được rất lớn diện tích đất
để làm bãi chôn lấp; có thể tái sử dụng nhiệt sinh ra do quá trình đốt để đun nước
nóng, hơi nước và chuyển hóa thành điện. Nhược điểm là vốn đầu tư ban đầu cao, giá
thành xử lý cũng cao, cao hơn chôn lấp từ vài lần đến hàng chục lần. Ngoài ra việc xử
lý khí thải cũng phải cẩn thận vì trong khí thải có chứa dioxin và furan, là những chất
có ti
ềm năng gây ưng thư cao.
-
VI.5 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI
VI.5.1 Khái niệm về chất thải nguy hại
Chất thải độc hại là các chất thải có thể được sinh ra do các hoạt chất công nghiệp, thương
nghiệp và nông nghiệp. Các chất thải độc hại có thể là các chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc
chất sệt. Trong định nghĩa chất thải độc hạ
i không nói đến các chất thải rắn sinh hoạt, nhưng
thật ra rất khó phân biệt một cách toàn diện chất thải công nghiệp với chất thải sinh hoạt.
Chất thải độc hại không bao gồm chất thải phóng xạ vì loại chất thải này đã được hầu hết các
nước phân cách và tổ chức quản lý riêng. Độ độc hại của các chất thải độc hại rất khác nhau,
có chất gây nguy hiểm cho con ng
ười như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn
trùng, các vật liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ hơn nhưng khối lượng
của nó lại là vấn đề lớn như các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phốt phát cũ hoặc các sệt
hydroxyt khác. Những chất thải có chứa những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt
cháy. Tiếp xúc với axít hoặ
c kiềm mạnh gây bỏng da. Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu có thể
gây ngộ độc cấp tính. Những thùng, hòm chứa chất thải hoá chất nếu không được xử lý, để
bừa bãi vào nơi không được bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm trọng
(Hodgson, & Levis, 1987).

pháp luật thông qua. Nước Mỹ, năm 1976 hệ thống kiểm tra chất thải độc hại được thành lập
do sự phản đối của công chúng vì sự ô nhiễm gây nên bở
i các đống rác không được kiểm
soát (Lê Huy Bá, 2002).
VI.5.1.1 Phương thức gây ô nhiễm của chất thải độc hại
Các chất thải độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường trực tiếp như bay hơi hoá chất trong khí
quyển hoặc có thể gây ô nhiễm gián tiếp qua vận chuyển của gió hoặc bề mặt nước. Vấn đề
quan trọng không phải chỉ phụ thuộc vào nơi đổ thải và tình trạng đất ở
bên dưới.
- Đất bị ô nhiễm:
Khi đất bị ô nhiễm chất thải nguy hại sẽ làm cho đất mất đi chức năng vốn có của đất, những
nơi đó hầu như không có thảm thực vật che phủ, đất bị biến đổi thành màu đen
các loài sinh vật đất hầu như biến mất (Hình 6.13)

143

Hình 6.13 Đất bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại (Lê Văn Khoa, 2005)
- Ô nhiễm nước bề mặt:
Bề mặt ngoài của nước ở gần chỗ chất thải có thể nhận những chất thải độc hại từ bề mặt
chảy. Hơn nữa, dòng chảy đất - nước của các hoá chất cũng đưa ô nhiễm vào mặt nước.
Trong điều kiện tiếp xúc không khí sẽ thúc đẩy quá trình phân huỷ hoá, hoá sinh các hợp
chất hữu cơ. Quá trình bay hơ
i ở mặt nước cũng dễ hơn ở đất.
- Các đường ô nhiễm khác:
Các hợp chất hữu cơ có thể bay hơi trong không khí, gió có thể đưa chất thải độc hại vào
môi trường, rau quả trồng gần nơi chất thải có thể hấp thụ những độc tố của chất thải.
VI.5.1.2 Phân loại chất thải độc hại
Chất gây cháy
- Là những chấ
t lỏng có chứa ít hơn 24% cồn và điểm bốc cháy dưới 60

cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm. Ở Việt Nam
nguồn nước mặt và nước ngầm thường được sử dụng để làm nước uống sinh hoạt, nước
phục vụ cho SXNN. Bất cứ sự ô nhiễm nào các nguồn nước này đều gây ảnh hưởng tiềm
tàng đến sức khoẻ nhân dân địa phương. Mặt khác n
ước ta, việc phân lập và QLCTNH còn
nhiều bất cập. do vậy việc ảnh hưởng đến các nguồn nước và MT là rất lớn. Chôn lấp CTNH
liên quan đến vấn đề sau:
- Ô nhiễm nước ngầm là do việc lưu giũ lâu dài CTNH không được kiểm soát, chôn lấp
tại chỗ, chôn lấp tại nơi chôn rác, hoặc để lấp các vùng đất trũng.
- Bản chất ăn mòn tiềm tàng của các chất độc hại có th
ể phá huỷ hệ thống cống cũng
như ngộ độc cho MTST
- Ô nhiễm nước mặt và nước ngầm là do việc thải các chất độc hại không được xử lý
đầy đủ, hoăc do việc xử lý chất thải CN không đúng với khoa học
Ở Việt Nam hầu hết các chất thải nguy hại đều được gom chung với rác thải thông thường
và lại được tập trung ở bải rác. H
ầu hết các chất thải không được phân lập tại nguồn. Trông
trường hợp chất thải lưu giữ qua lâu sẽ gây nên sẽ tạo ra sự rò rĩ quá lớn và tạo ra rủi ro và
nguy hiểm đến sức khỏe cho khu vực chung quanh. Một số sơ đồ dưới đây thể hiện sự di
chuyển và biến đổi CTNH đối với MT

VI.5.3 Tác động chất thải nguy hại đối với sức kh
ỏe
VI.5.3.1 Chất thải công nghiệp
Ô nhiễm không khí do công nghiệp gây ra thiệt hại rất lớn về nền kinh tế, bệnh tật cho con
người và thảm thục vật, Ví dụ ở Châu Âu do ô nhiễm KK mà diện tích cây xanh bị thu hẹp
khoảng 40%. Ngoài ra các sự cố rò rỉ vủa các nhà máy sản xuất hoá chất hay điện hạt nhân
vẫn luôn là mối đe doạ và thảm hoạ của nhân loại

145

Tẩy vải sợi

Luyên dầu khí, sản xuất phân
bón, sành sứ, thuỷ tinh
Công nghiệp hoá chất, tinh
luyện nhiên liệu, nhựa đường
Ống xả khói của ôtô, xe máy
Từ lò đốt của mọi ngành công
nghiệp

Giảm hồng cầu trong máu, bệnh
vàng da, hại thận
Giảm khả năng v
ận chuyển oxy
trong máu, bệnh tim mạch, nặng
gây tử vong
Nguy hại đối với đường hô hấp
và mắt
Gây mệt mỏi toàn thân, gây viêm
da, bệnh thận và xương

Gây nôn, kích thích mắt và họng

Gây bệnh phổi, và bộ phận hô
hấp
Gây đau mắt và có thể bị ung thư

Chất thải nguy hiểm từ sản xuất công nghiệp là thảm hoạ đối với cộng đồng. Thực tế đã có
nhiều hậu quả rất nghiêm trọng xảy ra rât nhiều quốc gia trên thế giới:
- Chứng bệnh Minamata ở Nhật Bản

Hình 6.14 Sơ đồ di chuyển CTNH trong môi trường đất (Lê Văn Khoa, 2000)

Chất gây ON xâm nhập
vào đất
Dự báo tốc độ thẩm thấu
của hoá chất vào đất
Hoá chất có thể ảnh
hưởng đến nước mặt
Các loại vật nuôi có tiếp
xúc với đất không
Dự báo cho người tiếp
xúc trực tiếp với đất
Các chất ON dễ bay hơi
không có không có không có
Đánh giá khả năng xâm
nhiễm vào nước ngầm
Đánh giá lượng ON do vật
nuôi và hoa màu mà con
người tiêu thụ
Đánh giá sự dịch
chuyển của hoá chất
vào không khí

147
Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt được nhiều loại côn
trùng. Khi dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng bị diệt luôn, đồng thời ảnh
hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đã trúng độc. Nói cách khác, sau khi
phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên địch của nhiều loại sâu cũng giảm. Điều đó có lợi cho sự
phát triển của sâu h
ại.

sinh học
Rửa trôi bề
mặt và
xói mòn
Rửa trôi Rửa trôi
Bay hơi

148
- Đất và nước bị ô nhiễm:
Sự có mặt của vùng chưa bão hoà ở bên dưới mặt đất của nơi đổ thải rất quan trọng. Đó là
vùng cao hơn mặt nước, ở nơi này nước thấm xuống dưới đến khi gặp mặt nước chảy ngang.
Nếu bên dưới chỗ rác thải là vùng chưa bão hoà thì hoạt động đất nước như trên sẽ là một
quá trình lọc bởi các hoạt
động hoá và hoá sinh.
- Ô nhiễm nước bề mặt:
Bề mặt ngoài của nước ở gần chỗ chất thải có thể nhận những chất thải độc hại từ bề mặt
chảy. Hơn nữa, dòng chảy đất - nước của các hoá chất cũng đưa ô nhiễm vào mặt nước.
Trong điều kiện tiếp xúc không khí sẽ thúc đẩy quá trình phân huỷ hoá, hoá sinh các hợp
chất hữu cơ. Quá trình bay h
ơi ở mặt nước cũng dễ hơn ở đất.
- Các đường ô nhiễm khác:
Các hợp chất hữu cơ có thể bay hơi trong không khí, gió có thể đưa chất thải độc hại vào
môi trường, rau quả trồng gần nơi chất thải có thể hấp thụ những độc tố của chất thải.
Hình 6.16 Con đường di chuyển của hóa chất trong nông nghiệp (Lê Văn Khoa, 1995)

Nobel về hoá học.
Nhưng 30 năm sau, DDT bị tuyên án "tử hình" (bị cấm sản xuất và sử dụng). Khi DDT mới
ra đời, đúng là nó có sức mạnh vô
địch. Nhưng chỉ mười mấy năm sau đã có một số loại côn
trùng có hại không sợ DDT nữa. Chúng đã nhờn với DDT. Đến năm 1960 đã có 137 loại côn
trùng có hại nhờn thuốc DDT. Chưa hết, DDT đã kém hiệu quả trong việc tiêu diệt côn trùng
có hại, lại còn giết chết khá nhiều chim chuyên ăn côn trùng có hại. Do DDT có thành phần
tương đối ổn định nên khó bị phân giải trong môi trường tự nhiên và thâm nhập vào cơ thể

các loại chim theo hệ thống nước, thực vật phù du, động vật phù du, tôm cá nhỏ DDT khi
ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi xâm nhập vào cơ thể chim, nồng độ của
DDT sẽ tăng lên hàng triệu lần khiến chim nếu không bị chết cũng mất khả năng sinh sản.
Đây là điều mà con người không ngờ tới.
Cũng do được sử dụng khắp thế giới, DDT qua nướ
c và thực phẩm xâm nhập vào cơ thể con
người, phá hủy nội tiết tố giới tính của con người, gây ra các bệnh về thần kinh, ảnh hưởng
tới công năng của gan. Hậu quả này xảy ra cũng ngoài dự kiến của con người.
Thuốc trừ sâu DDT còn có đặc điểm ngoại lệ, đó là kể từ năm 1974 toàn thế giới hoàn toàn
ngừng sản xuất DDT, nhưng hậu quả c
ủa DDT trong môi trường còn lâu mới hết. Thuốc
DDT trong không khí phải sau 10 năm mới giảm nồng độ xuống tỉ lệ ban đầu là 1/10; DDT
tan trong biển còn phải mất thời gian lâu hơn nữa mới phân hủy hết. Theo dự đoán của các
nhà khoa học, phải đến sau năm 1993 DDT trong nước biển mới phân hủy về cơ bản.

VI.6 XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)
VI.6.1 Xử lý CTNH bằng phương pháp biến đổi vậ
t lý-hoá học
Phương pháp biến đổi vật lý - hoá học bao gồm:
- Ôxy hoá khử CTNH: là phương pháp cho thêm hóa chất vào CTNH để biến đổi CTNH
thành không nguy hại.

TT Chất thải nguy hại Phương pháp xử lý
1 Thạch cao thải từ các quá trình công nghiệp hoá chất + Hiệu chỉnh độ pH
2 Chất thải amiăng (bụi và sợi) + Ổn định hoá học
+ Chôn lấp đặc biệt
3 Chất thải từ quá trình sản xuất hoặc chế biến than cốc,
nhựa đường từ dầu mỏ
+ Thiêu đốt trong lò xi măng
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
4 Các chất thải từ sản xuất, đóng gói và sử dụng nhựa,
mủ, chất hoá dẻo, keo và chất kết dính có tính nguy
hại
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
+ Chôn lấp đặc biệt
5 Phenol, hợp chất có phenol bao gồm chlorophenol + Thiêu đốt trong lò xi măng
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
6 Chất thải bụi đá, tro, bùn và bột chứa các hợp chất
crom 6 hoặc chất diệt sinh vật
+Ôxy hoá khử

151
7 Các chất halogen hữu cơ + Thiêu đốt trong lò xi măng
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
8 Các chất thải từ quá trình sản xuất hydro cacbon mạch
thẳng được halogen hoá
+ Thiêu đốt trong lò xi măng
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
9 Cặn nhựa thải (trừ bê tông nhựa) từ các quá trình tinh
chế, chưng cất và xử lý nhiệt phân váv vật liệu hữu cơ
+ Thiêu đốt trong lò đặc biệt
+ Chôn lấp đặc biệt

các quốc gia đều có đưa ra các quy định pháp luật cụ thể về công tác quản lý chất thải nguy
hại để ngăn ngừa và giả
m thiểu tối đa các tác hại của chất thải nguy hại.
VI.7.1.1 Quản lý CTNH ở Pháp
Văn bản quy định đầu tiên về những cơ sở sản xuất bị đưa vào danh sách xếp hạng gây ô
nhiễm môi trường là một sắc lệnh Napoléon ký năm 1810, và từ năm 1917 trở đi văn bản này
được liên tục sửa đổi, bổ sung. Chính sách của Pháp trong việc quản lý chất thải đã được cụ

thể hoá bằng một văn bản đầu tiên mang tên Luật về chất thải rắn được thông qua vào năm

152
1975, đây là mốc đánh dấu giai đoạn đầu tiên việc thiết lập một quá trình quản lý hiện đại
công tác xử lý chất thải. Cũng chính tại Luật này đã đưa ra những công cụ và cơ chế để quản
lý những loại hình rác thải đặc biệt (hay còn gọi là chất thải nguy hại). Ngày 2/2/1995, Pháp
lại có thêm một bộ luật mới là Bộ luật về tăng cường bảo vệ
môi trường đã thiết lập thêm phụ
phí đối với việc xử lý chất thải nguy hại, tương đương 40F (frăng Pháp)/1 tấn chất thải được
loại bỏ để lại trong một cơ sở xử lý, và sẽ được tăng gấp đôi nếu tấn chất thải đó được tích
trong một bãi thải đặc biệt. Phụ phí này do Cục Môi trường và quản lý năng lượng thu lạ
i và
trong vài năm tới sẽ tăng gấp đôi. Năm 1998, phụ phí trên đã mang lại 10 triệu frăng Pháp
được sử dụng cho việc phục hồi và xử lý những địa điểm ô nhiễm đã bị bỏ hoang.
VI.7.1.2 Cộng hoà liên bang Đức
Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về
quản lý chất thải. Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy
định về hành chính với
nội dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước về thu thập, vận chuyển,
xác định biện pháp giải quyết chất thải. Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và
chặt chẽ hơn. Đó là những biện pháp xử lý bằng pháp luật rất nghiêm các trường hợp làm
phát sinh các chất thải nguy hại mà chưa xử lý hoặc quá giớ

chúng còn là một vấn đề nan giải. Các nước đang phát triển đang phải đương đầu với những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status