115
hơn là chúng có thể được tái sinh (Trần Hữu Uyển & Trần Việt Nga, 2000). Trong sản xuất
bền vững lý tưởng, các nguyên, vật liệu được sử dụng trong những vòng khép kín với số chu
kỳ vô hạn. Điều hiển nhiên là chúng ta chỉ có thể tiệm cận chứ không bao giờ đạt tới khái
niệm sản xuất bền vững lý tưởng này. Nhưng "tiệm cận" đã là quá tốt so với tình hình hiện
nay (Nguyễn V
ăn Ngừng, 2004).
V.3. MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
Môi trường không khí là phần không gian bao quanh trái đất. Gồm nhiều lớp khí khác nhau.
Năng lượng từ mặt trời chuyền qua khí quyển đến môi trường không khí thông qua sự trao
đổi điện từ, phóng xạ, đối lưu, sự bay hơi, và cuối cùng là sự biến đổi nhiệt độ theo mùa theo
độ cao và thời gian. Môi trường không khí là môi trường cực kỳ quan trọng trong sự phát
triển và sinh tồn của nhân loại (Jorgensen, 1989). Là loại môi trường rất nhạy cả
m, rất dễ
biến đổi và lan truyền, sự lan truyền này không ở trong phạm vi một vài quốc gia, có thể lan
rộng khắp cả châu lục. Môi trường không khí tuân theo những qui luật về môi trường khí
hậu riêng của nó. Khi môi trường không khí bị ô nhiễm sẽ có ảnh hưởng trên qui mô rộng và
gây nhiều bất lợi cho con người và sinh vật. Mối quan hệ giữa khí quyển và chất lượng môi
trường không khí:
• Tầng trên cùng của khí quyển đ
óng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bề mặt trái
đất tránh được các tia tử ngoại từ mặt trời.
• Khí quyển tương đối trong suốt để cho ánh sáng hiện hữu làm nóng bề mặt trái đất và
ánh sáng này sẽ được sinh vật và thực vật sử dụng cho quá trình quang tổng hợp, và
nó được dự trữ như dạng năng lượng tiềm ẩn trong các hợp chất hóa học hữu cơ.
• Vòng quay c
ủa trái đất gây ra sự thay đổi hướng gió sự thay đổi này đã làm cho khối
khí di chuyển quay vòng theo hình xoắn ốc. Khối khí trôn ốc này được đốt nóng dần
bởi nhiệt độ và áp suất và năng lượng sẳn có trong hơi nước, từ đó có thể tạo ra bảo
vật và tài sản của nhân dân. Ở các nước phát triển, nước Pháp được xem là nước bị ô
nhiễm không khí nặng nề nhất, kế
đến là Mỹ, Úc, Nhật, Bỉ.
- Ô nhiễm công nghiệp gây ra từ ống khói của các nhà máy, nhất là các nhà máy có trang
thiết bị lạc hậu, chưa có bộ phận xử lý chất thải. Mỗi ngành công nghiệp tạo ra những
nguồn gây ô nhiễm khác nhau:
+ Ô nhiễm không khí từ nhà máy lọc dầu: HC, SOx, COx, NOx.
+ Nhà máy cao su chất dẻo tạo ra các chất có khả năng gây ung thư cao.
+ Nhà máy thuốc lá tạo bụi và mùi hôi nicotine.
+ Nhà máy điện và lò nung tạo ra SOx, NOx, CO
2
, CH
4
.
+ Nhà máy sơn tạo ra nhiều bụi và hỗn hợp hydrocacbon.
+ Các nhà máy chế biến thực phẩm tạo ra bụi và amoniac.
Ở Việt Nam. nhất là ở TPHCM ô nhiễm không khí chủ yếu là do các hoạt động công nghiệp,
bởi vì theo thống kê có khoảng 700 nhà máy công nghiệp, 30.000 cơ sở tiểu thủ công
nghiệp, và hàng trăm cơ sở đầu tư nước ngoài. Đây là vấn đề lớn về môi trường ở TPHCM
khi bước vào thế kỹ 21.
-
Ô nhiễm do sinh hoạt: đốt củi than để sưởi ấm . Quá trình đốt cháy này đã tạo ra CO
2
và
CO. Ngoài ra hút thuốc lá cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Trong khói thuốc
có khoảng 22 chất độc, ngoài ra có một số chất gây ung thư không những cho người
nghiện, mà cho cả những người xung quanh đó. Công trình xây dựng do nhu cầu ngày
càng tăng. Đây cũng là nguồn gây ô nhiễm đáng kễ về bụi, tiếng ồn.
- Ô nhiễm do nông nghiệp chủ yếu là do đốt rừng làm rẫy, làm cho khí CO
2
- CHx, là thành phần quan trọng của ô nhiễm không khí. Có nguồn gốc nhân tạo từ các máy
nổ, lò đốt công nghiệp. Nó cũng có thể hình thành từ tự nhiên khi có đi
ều kiện thích hợp.
b. Dẫn xuất của S.
- SOx, đến từ sự khai thác dầu mõ, kỹ nghệ cơ khí, đốt nhiên liệu Chủ yếu có SO
2
và SO
3
.
Chúng là những chất không màu có mùi đặc trưng. Hoạt tính của nó lệ thuộc vào độ ẩm,
chất xúc tác, cường độ ánh sáng măt trời.
- H
2
S là chất gây mùi hôi khó chịu, nó có nguồn gốc từ sự dư thừa chất hữu cơ, các quá trình
tinh chế dầu mỏ, các khu vực chế biến thực phẩm. Ở nồng độ thấp gây nhức đầu khó chịu,
nhưng ở nồng độ cao, sẽ gây nhiễm độc đường hô hấp.
c. Dẫn xuất của N
NO và NO
2
thường gặp trong các đô thị công nghiệp, những nhà máy hóa học chế tạo H
2
SO
4
,
sự sản xuất nylon, các động cơ nổ, dầu cặn. Dẫn xuất của N có từ tự nhiên trên phạm vi toàn
cầu, nguồn nhân tạo chỉ đến từ một số vùng bị ô nhiễm, đặc biệt ở các trung tâm đô thị, cao
gấp 10-15 lần vùng nông thôn. NO
2
ở nồng độ 15-50 ppm sẽ gây nguy hiểm cho tim và phổi.
- NOx trở thành chất gây ô nhiễm trong khí quyển, mà còn tham gia vào các quá trình quang
sinh ra trong quá trình gia công chế biến có sử dụng clo.
V.3.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
V.3.2.1 Ảnh hưởng ô nhiễm không khí trên thời tiết khí hậu.
- Làm giảm cường độ ánh sáng, tăng nhiệt độ, làm trái đất nóng dần lên. Sự tác hại này
có qui mô toàn cầu.
- Gây ra sự thay đổi thời tiết thất thường, có thể giảm nhiệt độ trung bình hàng năm ở
vùng bắc bán cầu.
- Gia tăng hiệu ứng nhà kính, gây sự b
ất ổn về thời tiết trong phạm vi toàn cầu.
- Lỗ hổng tầng ozon ngày càng lớn, tạo điều kiện ánh sáng tử ngoại xâm nhập gây ung
thư da, đục thuỷ tinh thể, giảm khả năng miễn nhiễm, hoặc gây chết cho nhiều sinh vật.
- Các chất ô nhiễm gây ra hiện tượng mưa acid, làm tăng độ acid trong đất và nước.
Gây tác hại rất lớn cho hệ sinh thái. Phá hủy các vật liệ
u của khí, sinh, thủy, địa
quyển. Tạo ra biến đổi rất lớn trong hệ sinh thái.
- Thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra hàng năm là rất lớn, tác động xấu trên nhiều
mặt khác nhau, rất dễ lan rộng trên phạm vi toàn cầu.
V.3.2.2 Tác động đến sức khỏe con người
- Tạo nên một số bệnh nghề nghiệp, chủ yếu trên cơ quan hô hấp và trên da. Ngoài ra
gây ra bệnh dị ứng trên da và một số c
ơ quan khác. Có thể gây ra bệnh ung thư khi
nhiễm nặng các chất phóng xạ hoặc kim loại nặng.
- Gây ra sự suy yếu cơ quan thần kinh.
V.3.2.3 Tác động đến sự phát triển của thực vật.
- Giảm khả năng quang hợp do giảm cường độ sáng và tổn hại đến thân lá.
- Giảm kích thước cây, biểu hiện bất thường như phình to, xoắn lại, Tạo ra sự dị dạng
cho cây.
- Thay đổi màu tạo ra màu khác thường của thân hay lá.
2
SO
3
, HNO
3
. Các giọt mưa này mang tính acid,
pH thấp có khi cá biệt pH=2. Những acid này sẽ theo mây di chuyển khắp nơi, và theo mưa
rớt xuống đất gây các tác hại sau:
- Làm tăng độ acid của đất, hủy diệt rừng, mùa màng, gây nguy hiểm đối với sinh vật trên
trái đất, làm hư hỏng nhà cửa, cầu cống và các công trình lộ thiên cũng như công trình
ngầm.
- Mưa acid làm tăng khả năng hòa tan của một số kim loại nặng, gây ô nhiễ
m hóa học.
Gây nhiễm độc cho con người thông qua chuỗi thực phẩm.
- Tác hại của mưa acid là đa quốc gia, do vậy ảnh hưởng của nó rất nghiêm trọng đối
với sự sống của sinh vật.
V.3.3.2 Hiệu ứng nhà kính
Cùng với việc tăng nhu cầu sử dụng năng lượng, thì lượng CO
2
thải ra càng nhiều, và chúng
được tích lũy dần trong khí quyển. Lượng CO
2
được hấp thu bởi quá trình quang hợp bị
giảm do diện tích rừng bị giảm nhanh, đưa đến lượng CO
2
trong khí quyển tăng nhanh. Dần
dần hình thành lớp khí CO
2
dày đặc bao quanh trái đất. Lớp này đã giữ nhiệt từ bức xạ mặt
trời, và làm cho nhiệt độ của trái đất tăng lên. Đây được gọi là hiệu ứng nhà kính. Ngoài
tham gia vào các phản ứng phân hũy ôzôn như: CO, CH
4
, NOx và các hợp chất hữu cơ. Như
vậy, sự giảm nồng độ ôzôn ở các cực trái đất mà các nhà khoa học ghi nhận được, có thể là do
các chất sinh ra từ hoạt động con người như: CH
4
, NOx, HCl, Cl
2
Tác dụng của tầng ôzôn:
bảo vệ cho mọi sinh vật tránh khỏi tai họa do bức xạ của tia tử ngoại. Nếu như tầng ôzôn bị
suy giảm thì nó sẽ gây ra thảm họa đối với mọi hệ sinh thái trên trái đất.
V.3.4 Ô nhiễm không khí trong gia đình
- Do khói thuốc.
- Các hoá chất được sử dụng trong các vật dụng trong nhà như: trần nhà, sơn tường, các
loại thảm có chứa các chất chố
ng mối mọt, chống vi khuẩn, nấm, côn trùng gây hại.
- Do sinh hoạt bừa bãi không hợp vệ sinh không đúng khoa học nên thường xảy ra hiện
tượng thừa khí CO
2
, hoặc các khí độc khác.
- Do khí đốt từ các bếp hoặc do sưởi ấm.
Nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nhà đôi lúc rất cao vượt rất nhiều lần nồng độ của ô
nhiễm không khí. Do vậy, ở các nước đang phát triển, việc thiết kế xây dựng rẻ, hiệu quả,
không ô nhiễm không chỉ tiết kiệm trên tài nguyên mà còn có tác động lớn trên sức khỏe.
Đây là vấn đề rất bứ
c xúc cho sự an sinh của cộng đồng.
V.3.5 Các khu vực đô thị và ô nhiễm không khí do đô thị hóa
- Ô nhiễm tại các thành phố lớn thường tập trung trong diện tích nhất định nên gây tác hại
- Hoạt động giao thông vận tải đô thị gây ra rất nhiều ô nhiễm như khói bụi, khí, tiếng ồn.
- Hoạt động xây dựng đô thị đặc biệt là ô nhiễm bụi.
- Nguồn thải từ sinh hoạt của dân đô thị chủ yếu là đun nấu.
V.3.6 Kiểm soát ô nhiễm không khí
Các nhà khoa h
ọc sẽ làm gì để khống chế sự ô nhiễm? Chúng ta làm gì với mức độ ô nhiễm
hiện nay? Một số biện pháp khả thi:
1. Một số luật lệ được ban hành để điều chỉnh nguồn và tác nhân gây ô nhiễm, nhằm cải
thiện chất lượng không khí.
2. Hạn chế các nguồn gây ô nhiễm, hoặc xử lý chúng trước khi thải chúng.
3. Các công nghệ làm sạch không khí phải luôn được hoàn thiện.
V.3.6.1 Biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí
a. Buồng lắng bụi
Bụi có kích thước khoảng 100-200μm được lắng dưới tác dụng của trọng lực. Buồng lắng có
cấu tạo đơn giản, tốn ít năng lượng. Hiệu quả xử lý thấp, làm giảm khoảng 40-70%.
122
b. Ly tâm bằng xyclon
Khí thải có bụi với kích thước 5-100μm, được đưa vào buồng lọc xyclon theo phương pháp
tiếp tuyến với vỏ xyclon. Dưới tác dụng của lực ly tâm bụi được lắng dưới phần hình phễu
của xyclon. nếu ghép nhiều xyclon thì hiệu quỉa lọc sẽ được tăng lên rất nhiều. Phương
pháp nà chỉ lọc được những hạt bụi có kích thước lớn.
c. Lọc tay áo
Khí thải
được cho qua túi vải lọc. Bụi giữ trên bề mặt túi vải còn khí sạch sẽ được thải ra
ngoài. Phương pháp này cho phép lọc bụi có kích thước khoảng 2-10μm, hoặc bụi có kích
thước lớn hơn. Hiệu quả khoảng 85-99%. Phương pháp này chỉ lọc bụi khô không bám dính,
chịu nhiệt độ <100
oC
d. Oxy hóa - khử
Phương pháp này được áp dụng cho khí thải là các chất gây mùi hôi bao gồm 3 lo
ại hóa chất
hấp phụ sau:
- Dung dịch acid sulfuric, dùng để hấp thụ các hợp chất amin và amoniac.
123
- Dung dịch kiềm dùng để hấp thụ acid cacboxylic, acid béo, phenol.
- Dung dịch hypoclorit natri dùng để oxy hóa aldehydes, H
2
S, mercaptans
Theo phương pháp này khí thải cần được làm lạnh ở 40-50
oC
để tăng cường khả năng hấp
thụ các chất trong dung dịch nước. Theo một số công ty của Mỹ, để xử lý mùi hôi trong
phạm vi rộng, dùng nguồn phát ra ôzôn và ion. Khí có mùi hôi sẽ bị oxy hóa tạo thành các
chất không mùi, ít độc hoặc không độc.
e. Phương pháp phân hũy nhiệt
Khí thải từ lò thiêu sẽ được đưa vào lò đốt bổ sung có nhiệt độ khoảng 1000
oC
. Bụi và các
chất hữu cơ gây mùi tiếp tục cháy thành các sản phẩm cháy hòan toàn không có mùi: CO
2
và
hơi nước. Nhiên liệu dùng cho đốt bổ sung có thể là dầu, điện.
V.3.6.3 Công nghiệp sinh thái
Công nghiệp sinh thái là sản xuất tối hảo hoá nguồn tài nguyên, năng lượng sản xuất, và vốn
đầu tư. Đây là hệ thống sản xuất không độc lập, không tách rời với các hoạt động chung quanh
mà nó có mối quan hệ rất mật thiết với các yếu tố môi trường chung quanh nó. Có thể nói đây
là nền sản xuấ
- Về mặt cơ học, che lấp âm thanh cần nghe.
- Về mặt sinh học của cơ thể.
- Về mặt hoạt động xã hội.
Tác hại của tiếng ồn là nguyên nhân của bệnh thần kinh, đau đầu, tăng huyết áp, và giảm trí
nhớ, cuối cùng ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của con người, ảnh hưởng đến cuộc sống
củ
a cộng đồng (WHO, 1995).
V.3.7.4 Kiểm soát tiếng ồn
Từ năm 1995 đến nay, các trạm quan trắc môi trường quốc gia đã tiến hành quan trắc tiếng
ồn giao thông ở một số thành phố, thị xã lớn của nước ta cho thấy mức độ ồn ở nước ta còn
thấp hơn so với các đô thị ở nước ngoài (trung bình giờ ban ngày khoảng 80 dB
٨
). Ở nước ta
chưa có tiêu chuẩn mức độ tiếng ồn ở cạnh đường giao thông. Theo tiêu chuẩn VN 5949-
1995 mức độ ồn cho phép trong giờ ban ngày và ban tối đối với khu thương mại ở cạnh
đường là 70dB
٨
. Phần lớn các đô thị nước ta mức ồn buổi tối dưới hoặc xấp xỉ 70dB
٨
, nhưng
vào ban ngày mức ồn vượt mức cho phép đôi lúc lên đến 94-104dB
٨
. Có thể giảm tiếng ồn
công nghiệp bằng nhiều biện pháp:
- Đặt thiết bị trên đệm đàn hồi.
- Tăng trọng lượng máy.
- Sử dụng vật liệu hút ẩm bao bọc thiết bị.
- Xây dựng nhà máy cách xa khu dân cư và xa chỗ công nhân nghỉ ngơi.
- Xây dựng tường cao và cây cối giảm tiếng ồn đáng kể.
- Tăng cường chất l
bị loại ra trong quá trình sống, sinh họat, hoạt độ
ng sản xuất của con người và động vật.
Chất thải rắn của một quá trình sản xuất này có thể là nguyên liệu cho một quá trình sản xuất
khác. Chất thải của động vật này có thể là thức ăn cho động vật khác trong dây chuyền thực
phẩm. Do vậy khái niệm về chất thải rắn cũng tương đối và mức độ gây hại của chúng đối
với môi trường trong những
điều kiện khác nhau sẽ khác nhau.
Rác thải từ quá trình phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh hưởng đến các tính chất vật
lý và hoá học của đất. Những tác động về vật lý như xói mòn, nén chặt đất và phá huỷ cấu
trúc đất do các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ. Các chất thải rắn, lỏng và khí
đều có tác động đến đất. Các chất thải có thể được tích luỹ trong đất trong th
ời gian dài gây
ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường (Trần Hiếu Nhuệ & ctv, 2001).
VI.1.2 Các nguồn tạo thành chất thải rắn
VI.1.2.1. Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
- Từ các trung tâm thương mại;
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng;
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
- Từ các hoạt động công nghiệ
p;
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố.
VI.1.2.2. Các loại chất thải rắn:
Chất thải rắn sinh hoạt:
là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn
tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương
mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói
vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre,
- Đất đá do việc đào móng trong xây dựng;
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo,
- Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như tr
ạm xử lý nước thiên nhiên,
nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố.
Chất thải nông nghiệp
: là những chất thải và mẩu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp,
thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, của
các lò giết mổ,… Hiện tại việc quản lý và xả các loại chất thải nông nghiệp không thuộc về
trách nhiệm của các công ty môi trường đô thị của các địa phương.
Trong số các chấ
t thải của thành phố, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ có thể sơ chế dùng ngay trong
sản xuất và tiêu dùng, còn phần lớn phải huỷ bỏ hoặc phải qua một quá trình chế biến phức
tạp, qua nhiều khâu mới có thể sử dụng lại nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của con người.
Lượng chất thải trong thành phố tăng lên do tác động của nhiều nhân tố như: sự
tăng trưởng
và phát triển của sản xuất, sự gia tăng dân số, sự phát triển về trình độ và tính chất của sự
127
tiêu dùng trong thành phố, các nguồn phát sinh chất thải và phân loại chất thải được trình
bày hình sau.
xuất
Các quá
trình phi
sản xuất
Hoạt động sống
và tái sản sinh
con người
Các hoạt
động
quản lý
Các hoạt động
giao tiếp và
đối ngoại
CHẤT THẢI
Dạng lỏng Dạng khí Dạng rắn
Bùn cống
Chất lỏng
dầu mở
Hơi độc
hại
Chất thải
sinh hoạt
Chất thải
công nghiệp
Các loại
khác
128
chưa cao, nguồn ngân quĩ cho công tác bảo vệ môi trường còn rất hạn chế, thiết bị máy móc
còn thô sơ, trong khi ở các nước phát triển chỉ cần 0,5 người làm công tác thu gom cho cộng
Bệnh viện Đa Khoa TW Cần Thơ (Bùi Thị
Nga & ctv, 2008)129
Trung bình tổng lượng chất thải rắn hàng năm chia ra theo tỷ lệ sau: Chất thải gia cư 44%,
chất thải y tế 1%, và chất thải công nghiệp chiếm 55%. Mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn chất
thải rắn phát sinh và dự báo rằng số lượng nầy tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong thập kỷ
sắp đến. Quá trình đô thị hóa và sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, hiện đại hóa các cơ
sở y tế sẽ làm tăng đáng kể lượng chất thải độc hại phát sinh. Và nếu không xử lý một cách
phù hợp sẽ có khả năng gây ra ảnh hưởng quan trọng dến sức khỏe con người và môi trường
(Bộ KH, CN& MT, 2004).
Chất thải y tế trên nguyên tắc phải được đốt ở các lò đốt trong bệnh viện, nhưng thực tế thì
không được như thế. Thí dụ ở Hà Nội có 36 bệ
nh viện mà chỉ có một bệnh viện có lò đốt mà
thôi. Và chất thải nầy dĩ nhiên cũng được đổ vào các bãi rác sinh hoạt gia cư.
Phế thải rắn công nghiệp, cũng giống như tình trạng của chất thải y tế là đi vào các bãi rác sinh
hoạt. Theo báo cáo của Bộ KH, CN& MT (2004), cả nước có 465 cơ sở gây ô nhiễm quan
trọng cần phải xử lý tức khắc. Vài con số vế chất thải công nghiệp để có thêm khái ni
ệm về
tình trạng CTR ở Việt Nam. Hiện tại, cty ciment Hà Tiên ở Thủ Đức chứa trên 30 tấn PCBs,
một hóa chất dioxin tương đương, số lượng chất thải rắn trung bình được thải ra hàng năm ở
TpHCM trên 45 ngàn tấn, tỉnh Đồng Nai, gần 35 ngàn tấn, Tp Hà Nội 18 ngàn tấn
Theo số liệu thống kê của 4 thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng và thành phố Hồ
Chí Minh, tổng lượng chất thả
i rắn công nghiệp chiếm 15 - 26% của chất thải rắn thành phố.
Trong chất thải rắn công nghiệp có khoảng 35- 41% mang tính nguy hại. Thành phần của
chất thải công nghiệp nguy hại rất phức tạp, tuỳ thuộc vào nguyên liệu sản xuất, sản phẩm
tạo thành của từng công nghệ và dịch vụ có liên quan (Niên giám thống kê, 2005).
Hình 6.5 Tác động của việc xử lý chất thải rắn không hợp lý
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ & CTV, 2001)
VI.2.1 Sức khoẻ cộng đồng
Từ việc thải các chất hữu cơ, xác chết các loài động vật qua những trung gian truyền bệnh sẽ
gây nên nhiều bệnh tật nhiều lúc trở thành dịch bệnh. Ảnh hưởng của CTR đối với sức khỏe
con nguời có thể gây ảnh hưởng trực tiếp qua đường hô hấp và qua da, ngoài ra khi CTR
xâm nhiễm vào MT có thể ảnh hưởng đến sức khỏ qua chuỗi thức
ăn (Hình 6.6)
Hình 6.6 Sơ đồ tác hại chất thải rắn đối với sức khoẻ con người.
Môi trường không khí
Rác thải (Chất thải rắn)
- Sinh hoạt
- Sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, )
- Thương nghiệp
-
T
ái
ch
ế
Nước mặt
Nước ngầm Môi trường đất
Người, động
v
ật
Bụi,CH
4
doanh
Tác động xấu đến
du lịch văn hóa
131
VI.2.2 Ô nhiễm môi trường đất do rác thải
Rác trong môi trường đất phân huỷ ở hai dạng yếm khí và hiếu khí. Khi có ẩm độ thích hợp,
rác thải sẽ phân huỷ cho ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng nên các chất khoáng
đơn giản, H
2
O và CO
2
. Trong điều kiện yếm khí, sản phẩm cuối cùng của rác chủ yếu là CH
4
,
H
2
S và CO
2
gây độc cho môi trường. nhờ khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ làm các
chất từ rác không trở thành ô nhiễm. nhưng với lượng rác quá lớn, môi trường đất sẽ trở nên
quá tải và gây ô nhiễm môi trường (Hình 6.7). Ngoài ra, các kim loại nặng và các chất độc
trong rác sẽ theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nước ngầm.
VI.2.4 Ô nhiễm môi trường không khí do rác thải
Rác thải có các bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí. Có những
chất có khả năng thă
ng hoa, phát tán vào không khí gây ô nhiễm môi trường trực tiếp. Trong
điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp (nhiệt độ 35
0
C, ẩm độ 70-80%) sẽ có qúa trình biến
đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật, kết quả tạo ra những chất khí H
2
S, CO, CH
4
, NH
3
, H
2
,
với hàm lượng cao sẽ gây nên ô nhiễm môi trường không khí. Trong đó khí sinh ra chủ yếu
ở các bãi rác là CH
4
và CO
2
Ngoài những tác hại của rác đối với môi trường đất, nước, rác còn gây nên những ảnh
hưởng khác như làm mất vẻ mỹ quan ở các khu công cộng và đô thị, gây cản trở dòng chảy
làm ứ đọng nước ở khu dân cư và là nơi cư trú của các vi sinh vật gây bệnh (Hình 6.9).
133
Hình 6.9 Rác thải được người dân vứt bừa bải trên đường phố(Bùi Thị Nga & ctv, 2007)