GIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG part 5 - Pdf 19


77
- CFC chiếm 20%
- CH
4
chiếm 16%
- O
3
chiếm 8% (tầng đối lưu)
- NO chiếm 6%
Vấn đề ở đây là sự tích lũy ngày càng nhiều lượng CO
2
và một số khí khác trong nhà kính.
Từ đó phần lớn tia bức xạ từ mặt đất phân phối lại khí quyển bị giữ trong nhà kính, vì vậy
làm nhiệt độ trung bình mặt đất ngày càng tăng lên.
a Nguyên nhân dẫn đến gia tăng nồng độ khí nhà kính
- Sự đóng góp của ngành năng lượng: 80 % khí CO
2
tỏa ra do việc đốt các nhiên liệu
hóa thạch để tạo nguồn năng lượng, còn lại là do sự tàn phá rừng và các hoạt động
khác. Có khoảng 35% khí CH
4
tỏa ra có thể quy về năng lượng (20% từ việc đốt sinh
khối, còn 15% từ việc khai thác khí thiên nhiên). Hàng năm, con người thải vào khí
quyển 550 triệu tấn CH
4
. Khoảng 50% khí NO có liên quan đến việc sử dụng nhiên
liệu hóa thạch.
- Hậu quả của việc tàn phá rừng: thực vật mới có khả năng hấp thụ trực tiếp năng
lượng của các dao động điện từ, trước hết là ánh sáng mặt trời. Nhờ năng lượng này,
chúng có thể chuyển hóa các chất vô cơ, đặc biệt là nước và khí CO

quyển của các chất khí đó nên nó đã đóng góp đáng kể vào việc làm tăng
nhiệt độ trái đất.
b Hậu quả của việc nóng lên của trái đất
Theo dự đoán, nếu nồng độ khí CO
2
trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của
trái đất sẽ tăng lên khoảng 3,6
0
C. Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người

78
đang làm cho nồng độ khí CO
2
của khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO
2
và các khí nhà
kính khác

trong khí quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính toán của các nhà
khoa học, khi nồng độ CO
2
trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên
khoảng 3
o
C. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5
o
C trong khoảng
thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi của nồng độ CO
2
trong khí quyển từ 0,027% đến

IV.2.6.1 Tài nguyên nước trên trái đất
Nước tham gia vào thành phần cấu trúc của sinh quyển và điều hòa các yếu tố của khí hậu,
đất đai và sinh vật thông qua chu trình vận động của nó. Nước còn chứa đựng những tiềm
năng khác, đáp ứng những nhu cầu đa dạng c
ủa con người: Tưới tiêu cho nông nghiệp; dùng
cho sản xuất công nghiệp, tạo ra điện năng và nhiều thắng cảnh văn hóa khác
Trên trái đất, các đại dương chiếm một diện tích khoảng 361 triệu km
2
(71% diện tích bề mặt
Trái đất). Trữ lượng tài nguyên nước có khoảng 1,5 tỉ kilômét khối (km
3
) trong đó có
khoảng 91 triệu km
3
(0,07%) là các vực nước ngọt nội địa, 97,61% là đại dương và biển. Tài
nguyên nước ngọt cần thiết cho sự sống của loài người, có khối lượng khoảng 28,25 triệu
km
3
, chiếm 2,08% khối lượng chung của thủy quyển. Phần lớn nguồn nước ngọt này ở dạng
đóng băng không thể sử dụng được. Trên thực tế, nước có thể sử dụng được chỉ có 4,2 triệu
km
3
, tương ứng với 0,31%
IV.2.6.2 Chu trình nước và sự phân bố của nước
Nước trên hành tinh phân bố không đều. Nước tự nhiên tập trung phần lớn ở biển và đại
dương, sau đó là khối băng ở các cực, rồi nước ngầm. Nước ngầm tầng mặt chiếm

79
một tỉ lệ không đáng kể. Nước không ngừng vận động và chuyển trạng thái, tạo nên vòng
tuần hoàn của nước trong sinh quyển. Nước bốc hơi, ngưng tụ rồi mưa. Nước mưa rơi xuống

a có thể điều khiển thời tiết và khí hậu, mà mới chỉ có khả năng tác động có
hiệu quả đến sự phân bố của nước rơi (do mưa) như tác động đến hệ thực vật, canh tác lớp
đất mặt, tạo ra vi địa hình, xây dựng các hồ chứa, đắp đê ngăn lũ lụt, khai thác nước ngầm
Trong vùng khí hậu ẩm , rừng bảo vệ nguồn nước cho các sông su
ối và độ ẩm đất, ngăn chặn
và hạn chế tác động của nước mưa rơi xuống đất. Ở những vùng có du canh, rừng bị tàn phá
hoặc ở những nơi khô hạn có nền nông nghiệp và chăn nuôi truyền thống kiểu du mục,
thường xảy ra cháy rừng hoặc thảm cỏ bị dẫm đạp quá mức, nạn rửa trôi, xói mòn xảy ra
càng mạnh, lòng sông suối ngày càng nông do bồi đắp bở
i các vật liệu xói mòn, nạn lũ quét
đe dọa nghiêm trọng. Việc xây dựng các hồ chứa, các hệ thống đập ngăn lũ đã trở thành yêu
cầu của cuộc sống nhằm sử dụng nước tưới cho nông nghiệp, phát triển nghề thủy sản và
khai thác điện năng
Khai thác nước ngầm cũng trở thành phổ biến, trước hết người ta khoan thăm dò, đánh giá
trữ lượng và xây d
ựng bản đồ phân bố của nó. Theo số liệu thống kê, mỗi người trên Trái đất
có thể có được hơn 70 triệu gallon nước ngầm, tuy nhiên chưa xác định được lượng nước
ngọt, vì trong số này một phần đáng kể là nước lợ và nước mặn.

80
- Về chất lượng: đây là vấn đề quan trọng khi đã có nguồn nước. Chất lượng nước phải phù
hợp với từng nhu cầu sử dụng, ví dụ: dùng cho sinh hoạt; cho công nghiệp; cho nông nghiệp
hoặc cho nuôi trồng thủy sản. Thực tế cho thấy, ở nhiều nước không phải thiếu nguồn nước mà
là thiếu nước có chất lượng cần thiết, nhất là nước dùng cho sinh hoạt. Một biệ
n pháp khả thi và
hữu hiệu hiện nay là tái sử dụng nước, nghĩa là quay vòng số lượng nước đã sử dụng. Đây là
một quy trình công nghệ thanh lọc nước có chất lượng xấu thành nước có chất lượng tốt.

IV.2.7 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được. Cả nước hiện có tổng cộng trên 1.000 mỏ

đối với thế giới ngày nay. Khởi đầu, quan niệm bảo vệ môi trường được quan niệm thu hẹp
trong việc bảo vệ thiên nhiên và vệ sinh môi trường, chống ô nhiễm nên nhiều người nghĩ
rằng chỉ liên quan đến các nước phát triển là chính. Thái độ này đã dần d
ần thay đổi khi loài
người ý thức được sự huỷ diệt môi trường do quá trình phát triển không chú ý đến cân bằng

81
sinh thái trong tự nhiên. Thực tế sử dụng hợp lý và hiệu quả TNTN không chỉ giúp năng cao
năng suất lao động và đời sống của người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và chất
lượng cuộc sống của cộng đồng. Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững các nguồn
tài nguyên thiên nhiên cần được đặc biệt ưu tiên, bao gồm các hoạt động về khai thác hợp lý
và sử dụng ti
ết kiệm, có hiệu quả tài nguyên. Bởi vì hầu hết các vấn đề ô nhiễm môi trường
là do việc khai thác và sử dụng tài nguyên kém hiệu quả nhất là tài nguyên đất, nước, rừng
và khoáng sản (Bộ Tài Nguyên & MT, 2005).

IV.3.1 Sử dụng hiệu quả tài nguyên đất
- Sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất đã và đang thực hiện các chính sách,
chương trình và dự án thích hợp như : giao đất khoán rừng cho hộ gia đình, trồ
ng rừng,
nông lâm kết hợp, phát triển cây lâu năm trên đất dốc, bảo tồn và sử dụng bền vững đất
ngập nước, quản lý lưu vực sông và đới ven bờ Một số hành động quốc tế nhằm chống
thoái hoá đất cũng đã được thực hiện, song quy mô còn rất nhỏ. Những hoạt động ưu tiên
nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất: b
ổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hơn
các chính sách và pháp luật về quyền sở hữu, sử dụng và quản lý nhà nước về đất đai.
Xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống thông tin về tài nguyên đất. Tiếp tục xây
dựng và ban hành các chính sách, các quy định về quản lý đất dốc, đất lưu vực sông và
đất ngập nước. Lồng ghép tốt hơn nữa các chính sách quốc gia với các kế hoạch hành
độ

Đối với các nguồn nước quốc tế mà Việt Nam cùng có chung với các nước láng giềng, cần
thiết tăng cường sự phối hợp và hợp tác quốc tế trong việc sử dụng và b
ảo vệ, nhằm phục vụ
lợi ích công bằng và hợp lý giữa các bên (Bộ Tài Nguyên & MT, 2005).
Do vậy việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước cần phải:
- Xây dựng các chính sách, văn bản pháp luật, các quy định và quy trình kỹ thuật về sử
dụng, bảo vệ và quản lý nguồn nước. Nâng cao năng lực cho các cơ quan chính quyền
các cấp ở địa phương và cho cộng đồng dân cư trong việc quản lý và giám sát s
ử dụng
nguồn nước.
- Xây dựng chính sách, luật pháp quản lý tổng thể các nguồn nước quốc gia nhằm xem xét
các nhu cầu khác nhau về nước như: tiêu thụ sinh hoạt của con người, tưới tiêu nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản, thủy điện, du lịch và giải trí để cân đối những nhu cầu
này với tính lợi ích của nước tự nhiên và tiêu chí quản lý hệ sinh thái.
- Nghiên cứu nhu cầu và các phươ
ng án sử dụng nước lâu dài nhằm cân đối nguồn nước
trên quy mô quốc gia và ở từng vùng. Đặc biệt chú ý quy hoạch tổng thể nguồn cung cấp
nước cho các đô thị lớn, trung bình và các khu công nghiệp.
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ tài
nguyên nước. Khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi
trường và tiế
t kiệm nguồn nước. Huy động sự tham gia rộng rãi của người thụ hưởng
nước vào quá trình lập kế hoạch, vận hành và tài trợ cho các cơ sở hạ tầng về nước.
- Kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Rà soát lại các chức
năng quản lý nguồn nước của các cơ quan khác nhau nhằm tránh chồng chéo, trùng lặp
nghiên cứu hình thành bộ máy tổ chức quản lý tài nguyên n
ước nước mang tính thống
nhất và liên ngành. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc sử dụng, quản lý và bảo vệ
các nguồn nước dùng chung giữa Việt Nam và các nước láng giềng.
- Xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án quản lý tổng hợp các lưu vực sông, các

khích nhân dân địa phương tham gia vào công tác quản lý và bảo vệ rừng.
- Thúc đẩy phát triển nông-lâm nghiệp sinh thái, các loại hình trang trại nông-lâm nghiệp,
đồng thời tăng cường các dịch vụ mở rộng nông nghiệp. Khuyến khích sử dụng bền vững
các sản phẩm rừng phi gỗ. Phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu thay thế gỗ.
Nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuậ
t và công nghệ mới trong sản xuất lâm nghiệp.
Khuyến khích trồng các loài cây bản địa trong tất cả các hoạt động trồng rừng và tái
trồng rừng. Áp dụng công nghệ khai thác và chế biến gỗ hiện đại, có hiệu quả sử dụng tài
nguyên rừng cao.
- Khuyến khích sử dụng các loại nhiên liệu để thay thế gỗ củi như than, khí ga và thủy
điện quy mô nhỏ Nghiên cứu đánh giá để lựa ch
ọn nhiên liệu thay thế gỗ củi và đề xuất
việc sử dụng hữu hiệu các nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí ga tự nhiên
hoặc năng lượng thủy điện.

IV.3.4 Sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được, nếu quản lý chưa chặt chẽ và tình trạng
khai thác thiếu quy hoạch như hiện nay đã gây ra tình trạng thất thoát tài nguyên khoáng sả
n,
huỷ hoại môi trường đất, thảm thực vật và gây nhiều sự cố môi trường như sụt lở, sập hầm lò
khai thác Đặc biệt các mỏ nhỏ nằm phân tán ở các các địa phương không được tổ chức
quản lý thống nhất, đồng bộ nên tình trạng thất thoát tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
càng trầm trọng hơn. Bên cạnh việc làm lãng phí tài nguyên do không tận thu được hàm
lượng khoáng sản hữu ích, việc khai thác b
ằng công nghệ lạc hậu còn gây ra tình trạng mất
rừng, xói lở đất, bồi lắng và ô nhiễm sông suối, ven biển. Để sử dụng tiết kiệm và có hiệu
quả nguồn tài nguyên khoáng sản, cần lưu ý một số mặt sau:
- Kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên khoáng sản ở Trung ương và các địa
phương. Sử dụng các công cụ kinh tế, hành chính và chế tài pháp luật nhằm thực hiệ
n

thị và dân cư ven biể
n, phát triển các ngành nghề đa dạng và cải thiện đời sống cho
những cộng đồng dân cư ven biển, phòng ngừa và làm giảm tác hại của thiên tai ven
biển, trước hết là bão, lụt, sạt lở, nước dâng, tăng cường năng lực quản lý môi trường
biển và ven biển, phòng ngừa và ứng phó với các sự cố môi trường biển.
- Hình thành một thể chế liên ngành, thống nhất quản lý vùng biển và bờ bi
ển. Cần đổi
mới cách lập quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lý chủ yếu nhằm đạt được lợi ích
kinh tế cục bộ của ngành mà ít chú ý đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường. Cần có chế tài buộc phải lồng ghép các vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và
môi trường vào trong kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế của ngành. Trước mắt, các
ngành khai thác dầu khí, giao thông vận tải thuỷ, th
ủy sản, lâm nghiệp, du lịch cần có
chương trình phối hợp để cùng khai thác hợp lý,
bảo vệ tài nguyên và môi trường biển và ven biển.
- Tham gia và lập kế hoạch thực hiện các hiệp định và chương trình hành động quốc tế và khu
vực về đánh cá, sử dụng bền vững và bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ đa dạng sinh học biển.
- Phát triển mạnh ngành nuôi, tr
ồng thuỷ sản trong nước lợ, nước mặn ven biển theo
hướng hài hòa với môi trường, đồng thời với việc phát triển và ứng dụng công nghệ sau
thu hoạch nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm sản phẩm của nghề thủy sản, bảo đảm an toàn
thực phẩm và tăng thu nhập ngoại tệ qua xuất khẩu.
- Phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề để tă
ng khả năng tạo việc làm, xóa đói giảm
nghèo và nâng cao mức sống cho các cộng đồng ngư dân ven biển, giúp cho công tác bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển và ven biển được tốt hơn.

85
- Thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển và ven biển. Đẩy mạnh áp dụng các
tiêu chuẩn môi trường ngành và quốc gia. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ

Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành
cấu trúc nhất định. Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong đất. Các thành phần này
có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau. Môi trường đất được xem như là môi trường
thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu

V.1.2. Những thành phần chủ yếu của môi trườ
ng đất
V.1.2.1. Thành phần vô sinh
Thành phần này gồm có một nữa là các khoáng chất, phân nữa còn lại là không khí và nước và
một ít chất hữu cơ từ xác bã các động thực vật có trong đất. Chất khoáng trong đất có được từ
sự phân hũy đá mẹ, và nguồn khác đến từ sông hồ, dòng chảy đại dương, các cơn gió bảo, và
từ các nguồn khác Tùy theo kích thước cỡ hạt người ta chia thành cát, bụi, sét, hạt keo.
V.1.2.2 Thành phần hữu sinh.
V.1.2.2.1 Vi sinh vậ
t
Vi sinh vật đất gồm vi sinh vật hiếu khí, yếm khí và hiếm khí. Vi sinh vật là hệ sinh vật quan
trọng của môi trường đất. Đóng vai trò phân hũy để cung cấp chất hữu cơ.
V.1.2.2.2 Thực vật
- Thực vật sống trong lòng đất như rễ cây, thực vật không diệp lục, thực vật đơn bào.
- Thực vật trên mặt đất gồm nhiều loài, họ, bộ tạo nên quần xã thực vậ
t, mỗi dạng môi
trường đất đặc trưng cho hệ thực vật nhất định. Thí dụ; cỏ năng thấy ở vùng đất phèn.
V.1.2.2.3 Động vật
Động vật trong và trên lòng đất như: giun, chuột, mối, kiến, sâu bọ, côn trùng đẻ trứng trong lòng
đất. Mỗi loại đất cũng có hệ động vật nhất định như cá sặc rằng ở vùng đất phèn Các thành
phần này liên kết thành chuỗi thực phẩ
m và năng lượng tồn tại tất yếu trong môi trường đất.
Các thành phần vô sinh và hữu sinh tạo thành một dây chuyền thực phẩm và dây chuyền
năng lượng, tồn tại tất yếu trong môi trường đất.


V.1.3.2 Các nguyên nhân chính gây suy thoái đất (Hình 5.1)
V.1.3.2.1 Do tự nhiên.
- Địa hình đất có độ dốc cao
- Các tiến trình đị
a chất
- Do gió
- Do mưa
V.1.3.2.2 Do con người
- Do canh tác không đúng khoa học (du canh, phá rừng, thâm canh) nên đất bị cằn
cỗi và cạn kiệt dưỡng chất, cấu trúc cuả đất bị phá vỡ.
- Làm gia tăng nồng độ độc chất và các muối trong đất như: lạm dụng phân bón,
thuốc trừ sâu.
- Độc chất và ô nhiễm đến từ các hoạt động công nghiệp và chất thải từ các thành phố.
- Quản lý đất kém (đất b
ị phá vỡ cấu trúc). Đa dạng sinh học trong môi trường đất
bị giảm thiểu, nhất là giảm sút hoạt động của vi sinh vật đất do hạn chế trồng các cây có thể
tạo độ phì tự nhiên cho đất. Sừ dụng đất đai không hợp lý
V.1.3.3 Các cấp độ suy thoái đất
- Suy thoái đất nhẹ: một phần đất bề mặt bị mất đi, 70% thực vật còn được duy trì che phủ
đất.
- Suy thoái đất trung bình: hầu hết đất bề mặt bị mất đi. Dinh dưỡng bị nghèo kiệt, có thể
gây độc cho cây trồng, khả năng giữ nước kém. Chỉ có từ 30-70% thảm thực vât che phủ.

89
- Suy thoái đất nặng: dinh dưỡng nghèo kiệt trầm trọng, độc chất tác hại đến cây, thực vật
nghèo nàn. Có khoảng ít hơn 30% thực vật tự nhiên che phủ. Khả năng phục hồi chất lượng
đất tương đối khó và cực kỳ tốn kém.
- Suy thoái đất trầm trọng: không còn thực vật che phủ và không thể phục hồi.

Hình 5.1 Các nguyên nhân chính gây suy thoái đất trên thế giới (Lê Văn Khoa, 2005)

tích đất bình quân khoảng 0.6 ha/người, thấp thứ 159 s/v thế giới). Đặc biệt, đất vùng đồi núi
chiếm khoảng 22 triệu ha (67% s/v tổng diện tích cả nướ
c). Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới,
mưa nhiều, nhiệt độ không khí cao, do đó, các tiến trình khoáng hóa và rửa trôi, xói mòn
trong đất xảy ra khá mạnh. Do đặc điểm khí hậu Việt Nam, nên đất dễ dàng có chiều hướng
bị thoái hóa. Hiện nay, khoảng 55 % diện tích đất tự nhiên được sử dụng cho sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp và chuyên dùng khác trong đó gần 7 triệu ha (21% s/v tổng diện tích tự
nhiên) là đất nông nghiệp.
V.1.3.6.1 Vài số liệu
đất bị suy thoái ở Việt Nam
Đất bị xói mòn do nước khoảng 10 triệu ha (Hình 5.2) và khoảng 1,35 triệu ha đất nghèo kiệt
dưỡng chất. Diện tích đất bị chua hóa, phèn hóa (Hình 5.3), xói mòn do gió (Hình 5.4), ngập
úng (Hình 5.5), chưa tổng kết cụ thể (ước tính khoảng 2 triệu ha).
Riêng đất ĐBSCL với hệ thống phân loại USDA/soil taxonomy, cho thấy đất cũng có những
trở ngại nhất định trong sự suy thoái đất.

Hình 5.2 Đất bị suy thoái do nước(Lê Văn Khoa, 2005)


92
V.1.3.6.2 Thực trạng suy thoái đất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tài nguyên đất ở ĐBSCL đã được khai thác và sử dụng qua nhiều thế hệ, cùng với thời gian
con người định cư và sinh sống tại đây. Người dân địa phương đã áp dụng nhiều biện pháp
và kinh nghiệm: làm đất thủ công, làm đất bằng cơ giới, ém phèn, rửa phèn, tưới tiêu, bón
phân hoặc chỉ thuần túy dựa vào sức sản xuất t
ự nhiên của đất trên từng vùng đất khác nhau
nhầm đạt hiệu qủa cao nhất. Ngoài những tác động của con người, đất ĐBSCL vẫn phát triển
theo các tiến trình lý-hóa-sinh học tự nhiên trong đất dưới ảnh hưởng của các điều kiện môi
trường. Kết quả của những tiến trình này đã làm cho đất ngày càng thay đổi, phát triển có
khả năng dẫn đến những suy thoái về dinh dưỡng, phèn hóa, mặn hóa, lý tính kém, nghèo về
qu
ần thể vi sinh vật và cuối cùng làm cho đất giảm tiềm năng sản xuất, đưa đến sự phát triển
nông nghiệp không ổn định và lâu bền trên toàn vùng. Qua kết quả phân loại đất theo hệ
thống phân loại USDA/Soil taxonomy (Lê Văn Khoa, 2005), đất ĐBSCL có khả năng bạc
màu theo các dạng sau đây:
- Đất có tiềm năng nén dẻ, hình thành tầng đất tích tụ sét có tính thấm và những đặc
tính vật lý khác kém, làm giới hạn tầng đấ
t canh tác đối với sự phát triển của hệ thống
rễ cây trồng, xảy ra trên các các loại đất thuộc nhóm đất phù sa xa sông Tiền và sông
Hậu đang và đã phát triển mạnh (Hình 5.6).

Hình 5.6 Phẩu diện đất điển hình tại đất lúa 2 vụ Trà Vinh (Lê Văn Khoa, 2005)
93
- Đất có khả năng xảy ra hiện tượng khô cứng trên mặt đất, đối với các nhóm đất
có thành phần cơ giới tầng mặt khá nhẹ thuộc nhóm đất phù sa ven sông Tiền và sông
Hậu (Hình 5.7).

trưng dụng.
- Ít mang lại lợi ích cho người nông dân, đôi khi có những ảnh hưởng tiêu cực.
Quan điểm mới
- Chú ý quyền lợi người dân.
- Khích lệ các dự án có hiệu quả.
- Thuyết phục nông dân trong công tác bảo tồn tài nguyên đất.
- Nông dân thực hiện nhiệm vụ chính.
- Áp dụng trên quy mô nhỏ
- Tìm kiếm hệ thống sở hữu đất đai tốt, môi tr
ường kinh tế, xã hội và điều kiện chính
trị phù hợp.
Các bước hành chính sau đây cần chú ý thực hiện để “chiến lược bảo tồn tài nguyên đất quốc
gia” được thành công:
- Thành lập hội đồng hoặc ban tư vấn về chiến lược bảo tồn tài nguyên đất.
- Xác định các nguyên chính đưa đến sử dụng đất sai lầm.
- Phân nhiệm cụ thể.
- Xây d
ựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất đai.
- Giới thiệu các hệ thống luật pháp có liên quan
- Thiết lập các nhu cầu huấn luyện.
- Xây dựng các chương trình bảo tồn tài nguyên đất rỏ ràng.
- Xuất bản các tài liệu có liên quan.
V.1.4.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến bảo tồn tài nguyên đất
- Tốc độ gia tăng dân số
- Đặ
c tính môi trường sinh sống
- Khả năng khai thác vùng đất mới
- Sự hình thành và phát triển mô hình xã hội mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status