nghiên cứu tỷ lệ và tổn thương một số cơ quan đích của tăng huyết áp “áo choàng trắng” bằng kỹ thuật đo huyết áp lưu động 24 giờ - Pdf 20


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là một bệnh tim mạch phổ biến nhất hiện nay, đang là mối
đe doạ rất lớn đối với sức khoẻ của nhân dân các nước trên thế giới, là nguyên
nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu đối với người lớn tuổi ở các nước phát
triển cũng như các nước đang phát triển [4].
Trên thế giới, các tác giả nhận thấy có 8-18% người trên 18 tuổi bị tăng
huyết áp [7]. Những cuộc điều tra trong dân cư cho thấy người tăng huyết áp
chiếm từ 5-30% dân số tuỳ từng nước, tuỳ từng chủng tộc.Theo thống kê năm
1993, ở Pháp có 5 triệu người bị tăng huyết áp bằng 12% dân số người lớn
(1997), còn ở Mỹ có khoảng 50 triệu người bị tăng huyết áp. Ở Việt Nam, các
nghiên cứu y học cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp từ 1-2% dân số trong những
thập kỷ 60 lên đến 11,7% ở đầu thập kỷ 90 [4]. Ở các tỉnh phía Bắc theo điều
tra của viện Tim mạch Việt Nam, con số đã tăng lên rất cao, tỷ lệ tăng huyết
áp chiếm 16,32% ở người dân từ 25 tuổi trở lên [6]
Thông thường để chẩn đoán tăng huyết áp người ta thường dựa vào chỉ số
đo huyết áp tại phòng khám qua nhiều lần khám để đi đến kết luận tăng huyết áp.
Tuy nhiên, trong số những bệnh nhân đó có những người chỉ tăng tại phòng
khám nhưng lại bình thường ở hầu hết các thời điểm khác nhau trong ngày, gọi
là tăng huyết áp “áo choàng trắng” [5],[12],[26][27]. Trong những năm gần đây
cùng với sự phát triển của các thiết bị đo huyết áp ở nhà và kỹ thuật đo huyết áp
lưu động 24 giờ ( Ambulatory Blood Pressure Monitoring - ABPM ) có những
tiến bộ đáng kể thì vấn đề tăng huyết áp “áo choàng trắng” mới được quan tâm
nhiều hơn.Việc chẩn đoán tăng huyết áp “áo choàng trắng” là vấn đề cần thiết
trong thực tế lâm sàng. Ngày nay bằng kỹ thuật đo huyết áp lưu động 24 giờ
(ABPM) người ta càng có nhiều chứng cứ khoa học cho thấy tăng huyết áp “áo
choàng trắng” là tình trạng lành tính và thuộc nhóm nguy cơ thấp [11],[22],[29].

2
Do đó, vấn đề đặt ra là khi nào thầy thuốc nên nghi ngờ bệnh nhân có tăng huyết

Năm 1993 cùng với hội THA Thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới đã qui
định lại huyết áp tâm thu (HATT) từ 140mmHg trở lên và huyết áp tâm
trương (HATTr) từ 90mmHg trở lên được coi là THA chính thức.
Đầu năm 1999, Tổ chức Y tế Thế giới và hội THA Thế giới vẫn khẳng
định được coi là THA khi huyết áp từ 140/90mmHg trở lên [79].
Năm 2004 chỉ số huyết áp này vẫn được khẳng định lại một lần nữa. Cho
đến nay WHO/ISH đã thống nhất gọi là THA khi HA tâm thu (140mmHg và
hoặc tâm trương ( 90mmHg.
1.1.2. Dịch tễ tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự đoán có 8-18% người trưởng
thành nhiều nơi trên thế giới có trị số HA tăng. Trong đó dân Châu Âu10%,
Châu Mỹ15-20%, Pháp 20%. Châu Á: Inđônêxia tỷ lệ THA: 5-15% và trên 20
tuổi là 20% [79]. Công bố mới nhất của Liên uỷ ban Quốc gia về phòng ngừa,
phát hiện, đánh giá và điều trị THA lần thứ 7 năm 2003 [57] cho thấy tại Hoa
Kỳ có gần 50 triệu người lớn THA, trên toàn thế giới có xấp xỉ 1 tỷ người
THA và khi dân số già đi thì xuất độ THA sẽ nhiều hơn nữa. Dự báo đến năm
2025 số nguời lớn THA sẽ tăng lên đến 60% chiếm 1,56 tỷ người. Dữ liệu
gần đây từ nghiên cứu Framingham cho thấy những người có huyết áp bình

4
thường ở tuổi 55 thì 90% nguy cơ bị THA [47],[57].
Bệnh THA cũng có tần suất thay đổi theo giống nòi, giới tính và đặc biệt
là trình độ phát triển kinh tế, năm 2000 có 333 triệu người THA ở các nước
phát triển thì tới 639 triệu người THA ở các nước nghèo [61].
Trị số huyết áp ở nữ thấp hơn ở nam cùng độ tuổi từ 20-25, nhưng sau
50 tuổi nữ lại cao hơn nam [21],[22],[23],[24].
Ở Việt Nam trong khoảng10-15 năm gần đây, cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, cách sống của
người dân có thay đổi, hút thuốc lá nhiều, ít hoạt động thể lực, trọng lượng cơ
thể tăng, béo phì, kèm bệnh đái đường tăng, tuổi thọ nâng cao, nên tỷ suất

- Bệnh Thận:
+ Bệnh nhu mô một hoặc 2 bên: Viêm cầu thận cấp, mãn, viêm thận, bể
thận mãn.
+ Thận đa nang.
+ THA mạch máu thận.
+ Khối u renin.
- Bệnh ống thận với hạ kali máu (hội chứng Liddle) hoặc tăng kali máu
(hội chứng Gordon).
- Bệnh Enzym làm tăng hoạt động quá mức corticoid khoáng (hội chứng
Ulick).
- Bệnh tuyến thượng thận:
+ U tủy thượng thận.
+ Tăng tiết aldosteron nguyên phát do khối u hoặc tăng sản.
+ Tăng tiết corticoid khối u, tăng sản, cận tân sinh.
+ Tăng tiết desoxycorticoid.
- Nội tiết (không phải là tuyến thượng thận):

6
+ Tăng hoạt tuyến cận giáp.
+ To đầu chi.
+ Rối loạn tuyến giáp.
- Bệnh mạch máu:
+ Hẹp động mạch chủ.
+ Hở động mạch chủ gây THA tâm thu.
- Bệnh chuyển hoá:
+ Đái đường.
+ Bệnh thống phong (Goutte).
- THA thai nghén.
- Nhiễm độc và do thuốc:
+ Thuốc ngừa thai Oestroprogesteron.

phát triển [74]. Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim Mạch 1989-1992 cho
thấy tỉ lệ đó là 6% ở lứa tuổi 16-39, đã tăng lên 21,5% ở lứa tuổi 50-59,
30,6% ở lứa tuổi 60-69 và 47% ở lứa tuổi trên 70 [47].
- Giới:
Hầu hết ở mọi lứa tuổi các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch ở nam
nhiều hơn ở nữ.
- Trọng lượng:
Béo phì, THA và kháng Insulin có sự liên quan qua cơ chế sinh nhiệt,
tăng hoạt giao cảm. Độ béo càng cao thì nguy cơ THA càng lớn [7].
- Đái tháo đường:
Ở những quần thể đái tháo đường, THA chiếm tỉ lệ cao, nhất là đái tháo
đường týp II.
- Yếu tố di truyền:
Người ta thấy tính chất gia đình của bệnh THA. Bố hoặc mẹ bị bệnh thì

8
trong số con cái cũng có người mắc bệnh.

- Yếu tố tâm lý xã hội:
Một cơn xúc cảm, một stress cấp sẽ đưa đến sự gia tăng HA tạm thời.
Đối với stress mãn tính người ta không ghi nhận sự gia tăng lâu dài HA. Tuy
nhiên stress kết hợp với yếu tố di truyền hay kết hợp với sự gia tăng tiêu thụ
natri lại làm THA thực sự.
- Rối loạn giấc ngủ:
Giấc ngủ có ảnh hưởng lên HA.
1.1.4.2. Yếu tố liên quan đến môi trường và lối sống
- Điều kiện làm việc: Tiếp xúc với tiếng động trên 85 dB làm THA.
- Hoạt động thể lực: Trị số HA và thể trọng thường thấp ở những người
có luyện tập hơn là những người ngồi lâu, ít hoạt động.
- Độ cao, thời tiết: Những người sống trên vùng cao, mùa đông băng giá

xuyên mỗi 6 tháng. Băng cuốn có chiều rộng ít nhất 40% chiều dài hoặc chu
vi đoạn chi được đo HA. Nếu băng cuốn hẹp quá, số HA đo được sẽ cao hơn
thực tế. Ở người béo có chu vi cánh tay lớn hơn 40 cm, HA tâm thu sẽ cao
hơn số đo thực tế 10 mmHg với băng quấn thông thường 12cm.
Nếu đoạn chi gầy nhỏ quá, con số HA đo được sẽ thấp hơn thực tế. Đối
với trẻ nhỏ, bề rộng băng cuốn nên vào khoảng 4cm, trẻ từ 2-5 tuổi: 7-8 cm,
đối với người to béo 20 cm.
Bộ phận chứa hơi của băng cuốn có chiều dài ít nhất phải cuốn được 2/3
hoặc 80% của chu vi cánh tay (khoảng 25cm đối với người lớn), hoặc một
băng quấn "3 túi", nghĩa là có 3 túi hơi.
- Tiến hành đo: Bệnh nhân nghỉ ngơi thoải mái trong tư thế đo ít nhất 5
phút. Đối với chi trên:

10
+ Tư thế: BN ngồi để cẳng tay đặt trên mặt bàn hoặc nằm thoải mái,
cánh tay để ngang mức tim. Cánh tay để trần, tránh để ống tay áo xắn lên tạo
thành garrot, làm sai lệch kết quả. Bàn tay mở, không gồng cứng cơ.
+ Quấn băng tay: túi hơi ở giữa so với vùng đập của động mạch cánh
tay, băng cuốn phải được áp vừa khít đoạn chi, bờ dưới băng cuốn cách nếp
khuỷu 2,5 cm hoặc hai khoắt ngón tay trên hố trụ trước.
+ Bơm nhanh cho HA lên cao hơn HA tâm thu dự đoán khoảng
30mmHg (bơm tới khi đã vượt động mạch quay đập 30mmHg), xác định vị trí
HA tâm thu bởi sự biến mất của mạch quay.
+ Ống nghe được đặt ở vị trí đập của mạch quay, không luồn dưới băng
tay.
+ Xả hơi băng tay với tốc độ đều 2-3mmHg/giây.
* HATT: Xuất hiện ở tiếng đập đầu tiên Korotkoff (Giai đoạn 1).
* HATTr: Sự biến mất hoàn toàn của tiếng đập (Giai đoạn 5).
+ Đo HA luôn luôn phối hợp với đếm tần số tim, thường nghe tim nhất
là trong trường hợp loạn nhịp.

cuốn ngay dưới mắt cá chân, loa ống nghe đặt trên động mạch chày sau, nơi
bờ trong mắt cá chân.
Đo HA chi dưới có lợi thế để phát hiện một số bệnh như hở van động
mạch chủ: Huyết áp ở chi dưới cao hơn nhiều so với chi trên (dấu hiệu Hill).
Trong hẹp eo động mạch chủ hoặc hẹp động mạch chủ bụng HA chi trên cao,
HA chi dưới thấp [25],[29],[34],[49].
Lợi ích và hạn chế:
Lợi ích của phương pháp đo này là tiện lợi, nhanh chóng xác định được
mức độ HA của bệnh nhân. Tuy nhiên có một vài sai số liên quan đến người
bệnh, sự quan sát và đọc kết quả của thầy thuốc hoặc qui chuẩn chất lượng

12
của máy đo HA.
Trong một số trường hợp có hiệu ứng "áo choàng trắng" làm cho thầy
thuốc đánh giá quá cao mức độ của HA, hoặc bệnh nhân không được nghỉ
ngơi trước cũng ảnh hưởng đến kết quả.
Để khắc phục tình trạng này cần phải đo ít nhất 2 lần trong một lần
khám, và ít nhất 2 lần khám bệnh sau khi phát hiện ban đầu kèm theo phải cho
bệnh nhân được nghỉ trước đó ít nhất 10 phút. Giúp tránh tác động do thầy
thuốc làm ảnh hưởng đến kết quả HA và tiện lợi cho bản thân, bệnh nhân cần
sử dụng máy tự đo HA ở nhà.
2- Tự đo HA tại nhà [5],[34],[52].
Dụng cụ là máy đo HA điện tử dựa trên nguyên lý dao động mạch không
cần ống nghe và đặt lên cổ tay, máy nhỏ gọn tiện lợi.
Các loại máy đã qua thử nghiệm, được chuẩn hoá và khuyến cáo bởi hội
chống THA Anh, là loại OMRON 705 và TENSIOPULS. Máy có bộ nhớ và
có thể lưu được 10 lần đo, tiện lợi cho thầy thuốc và bệnh nhân theo dõi con
số HATT, HATTr và tần số tim.
Nguyên tắc tự đo cũng phải được tôn trọng giống như đo ơ phòng khám
hay bệnh viện, bệnh nhân cần phải nghỉ ít nhất 5 phút. Bệnh nhân ngồi ở tư

- Nên đo cả 2 tay lấy bên có HA cao hơn.
- Đo ít nhất 2 lần trong một lần khám tính trung bình ( 2 lần đo cách
nhau 2 phút. Nếu 2 lần đo đầu tiên có con số lệch nhau >5mmHg thì đo thêm
và tính trung bình.
Chẩn đoán xác định THA khi thấy HATT ( 140mmHg và/ hoặc HATTr
 90mmHg.
Tuy nhiên nếu đo lần đầu mà HATT từ 140 -159mmHg và HATTr từ 90
- 99mmHg, thì nên kiểm tra và khẳng định lại trong vòng 2 tháng ít nhất 2 lần

14
khám nữa. Còn HA ( 160/100mmHg thì chẩn đoán xác định THA.
1.1.5.3. Chẩn đoán giai đoạn THA
Từ năm 1978 đến nay đã có nhiều thay đổi trong cách phân chia giai
đoạn, mức độ của THA. Có những tổ chức quốc tế lớn tham gia vào phân loại
THA đó là tổ chức Y tế Thế giới cùng với hội THA Thế giới (WHO/ISH), hội
THA Châu Âu (ESH), Uỷ ban liên quốc gia Hoa Kỳ (JNC) về phòng ngừa,
phát hiện, đánh giá và điều trị THA, từ JNC V (1993), JNC VI (1997), JNC
VII (2003). Mỗi cách phân loại có những đặc điểm riêng nhưng đều dựa trên
những căn cứ chung là con số HA kết hợp với yếu tố nguy cơ và tổn thương
cơ quan đích để đánh giá mức độ nặng của bệnh.
Hiện nay có một số cách phân loại chủ yếu áp dụng trên lâm sàng như sau:
Bảng 1.1.Phân loại THA theo JNC VI (1997) [56]
Khái niệm
HATT (mmHg)
HATTr (mmHg)
HA tối ưu
< 120
< 80
HA bình thường
< 130

130-139
85-89
Độ I: THA nhẹ
140-159
90-99
Phân nhóm
THA ranh giới
140-149
90-94
Độ II: THA vừa
160-179
100-109
Độ III : THA nặng
 180
 110
THA tâm thu đơn độc
 140
< 90
Phân nhóm ranh giới
140-149
< 90
Cách phân loại của WHO/ISH-1999 cũng giống phân loại của JNC VI
chỉ khác là có thêm phân nhóm ranh giới và THA tâm thu đơn độc.
Đến năm 2004 WHO/ISH đã phân loại mới, lần này các con số HA của
người bình thường không đưa vào trong bảng phân loại của người THA.
Bảng 1.3. Phân loại THA theo WHO/ISH - 2004 [67]
GIAI ĐOẠN
HATT (mmHg)
HATTr (mmHg)
GĐ I

- Triệu chứng nghi ngờ là nguyên nhân của THA.
Các thói quen, lối sống (hút thuốc lá, uống rượu, cà phê, ăn nhiều mỡ
bão hòa, ăn mặn )
- Bệnh sử dùng thuốc tây, thảo dược, thuốc gây nghiện, hoặc những
thuốc làm THA.
- Việc sử dụng thuốc chống THA kết quả và tác dụng phụ của thuốc.
+ Khám thực thể
Đo HA đúng qui cách, trong một số trường hợp nghi ngờ cần đo HA các

17
tư thế và đo HA tứ chi.
- Khám toàn trạng: Đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông.
- Thăm khám đáy mắt.
- Thăm khám hệ tim mạch, chú ý các tiếng thổi ở tim, nhịp tim các dấu
hiệu suy tim, tiếng thổi ở các mạch máu lớn
- Thăm khám bụng chú ý tiếng thổi ở động mạch chủ bụng hay động
mạch thận, thận to hay không, có các khối bất thường ở bụng không.
+ Cận lâm sàng
Các thăm dò thường qui trong THA là:
- Phân tích nước tiểu.
- Công thức máu.
- Sinh hoá máu (Bilan lipid, điện giải đồ, glucose lúc đói).
- Điện tâm đồ 12 chuyển đạo.
+ Các thăm dò hổ trợ
Creatinin máu, ure máu, protein niệu 24 giờ.
Nồng độ renin, catecholamin máu trong một số ít trường hợp.
Siêu âm tim để đánh giá khối lượng cơ thất trái, chức năng thất trái hoặc
có kèm theo bệnh hay các biến chứng tim mạch khác không.

1.1.5.5. Xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch

* Giai đoạn IV: GĐ III + phù gai thị.
+ Xếp loại của Kirkendall [29],[34] có 3 giai đọan gồm:
* Giai đoạn I: Hẹp động mạch (ĐM) lan toả, nhưng không đều.
* Giai đoạn II: GĐ I + xuất huyết và nốt dạng bông.
* Giai đoạn III: GĐ II + phù gai thị.
-Tổn thương xơ cứng động mạch võng mạc.

19
+ Giai đoạn I: ĐM có màu hồng và dấu hiệu bắt chéo động-tĩnh mạch
+ Giai đoạn II: GĐ I + hẹp các tiểu động mạch tại chỗ.
+ Giai đoạn III: Tiền huyết khối hoặc huyết khối TM và tạo vỏ ĐM
- Tổn thương thận trong THA [5],[25],[33],[34],[52],[56],[57].
Các tổn thương thận xuất hiện muộn và kín đáo hơn các cơ quan khác,
thường chỉ bộc lộ ở giai đoạn cuối của bệnh. Ngay trong giai đoạn đầu người
ta đã thấy giảm cung lượng thận, nhưng độ lọc cầu thận vẫn giữ được do cơ
chế bù trừ. Về lâu dài, khi tổn thương xơ các mạch thận phát triển, thận bị teo
nhỏ thì suy thận mới thấy rõ.
Cần phải đánh giá chức năng thận một cách hệ thống ở tất cả BN THA.

Ngoài việc tìm các dấu hiệu đái đêm, trước tiên cần thử nước tiểu với
giấy thử hoạt tính cho phép phát hiện được protein niệu, hồng cầu và sự hiện
diện của nitrit.
Sau đó cần có một xét nghiệm nước tiểu đầy đủ hơn như: định lượng
Protein niệu, creatinin niệu 24 giờ. Ngoài ra có thể định lượng ure, Na, K.
Khám nghiệm máu: Định lượng urê, creatinin máu, là xét nghiệm cần
thiết để đánh giá chức năng thận.
Định lượng Albumin niệu vi thể: Có thể đo trên nước tiểu 24 giờ, nước
tiểu của ngày lúc hoạt động hoặc nghỉ ngơi, hoặc trên nước tiểu ban đêm,
ngưỡng bệnh lý thu được là 30mg/24h.
Albumin niệu vi thể có liên quan đến tiên lượng của BN THA. Theo

1.2.1.1. Một số nét về kỹ thuật
Năm 1905 Nicolai Korotkoff là người đầu tiên đã đưa ra phương pháp
đo HA dựa trên nguyên lý dao động mạch qua ống nghe. Ông đã dùng bao hơi
quấn vào cánh tay, bơm lên cho áp lực cao hơn hẳn trong động mạch

21
30mmHg, rồi xả hơi với tốc độ đều 2-3mmHg, đến khi nghe thấy tiếng đập
đầu tiên (pha 1 của Korotkoff) là HA tâm thu, và mất tiếng đập (pha 5) là HA
tâm trương. Tiếng đập là do sự rung động của thành động mạch đàn hồi đang
nằm giữa hai chế độ áp suất bằng nhau hay nói cách khác tiếng đập báo hiệu
áp suất trong bao hơi bằng áp suất trong lòng động mạch. Để biết được tiếng
đập của động mạch có thể nghe bằng ống nghe hay bắt mạch quay.
Kể từ đó đến nay việc đo HA tại phòng khám bằng HA kế thuỷ ngân hay
đồng hồ theo nguyên lý Korotkoff vẫn là phương tiện thường qui trong chẩn
đoán và điều trị của các thầy thuốc lâm sàng [5],[25],[29],[34],[49],[52].
Tuy nhiên việc đo HA, theo dõi BN, chỉ thực hiện ở một thời điểm trên
lâm sàng, không thể biết được diễn biến HA trong 24 giờ đặc biệt là khi ngủ.
Mặt khác trị số đo có thể hoàn toàn không chính xác do chủ quan của người
đọc kết quả, do kỹ thuật đo, do phương tiện kỹ thuật, hoặc do phản ứng tâm lý
của BN Vì vậy không phản ảnh đúng thực tế HA của BN.
Để tiện lợi trong việc theo dõi và điều trị THA, khắc phục phản ứng tâm
lý khi thầy thuốc đo HA tại phòng khám hay bệnh viện, người ta đã sử dụng
HA kế điện tử gọn nhẹ dùng cho BN tự đo HA ở nhà [72].
Phương pháp đo này cũng dựa trên nguyên lý dao động mạch, kết quả
HATT, HATTr, TS tim được hiện diện trên màn hình. Tuy nhiên phương
pháp này cũng không đo được HA lúc BN ngủ vì khi đo lần nào thì phải bấm
nút khởi động lần đó, đây là điều khó thực hiện khi đang giấc ngủ.
Năm 1980 tại Oxford (Anh) người ta đã theo dõi HA liên tục 24 giờ
bằng một máy đo tự động khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp
trên gọi là phương pháp theo dõi HA lưu động 24 giờ (APBM). Như vậy cùng

nhau, nhưng các chương trình đều có những thông số chung là:
+ Khoảng cách đo: 15-30-60 phút một lần liên tục suốt ngày đêm trong

23
khi BN vẫn sinh hoạt bình thường. Một số chương trình có thể đặt chế độ đo 5
phút một lần kéo dài trong khoảng thời gian 4 giờ, tối đa có thể 95 phút đo
một lần, thông thường khoảng cách đo 30 phút một lần cho cả ban ngày và
ban đêm để bảo đảm tỉ lệ thành công cao.
+ Tổng thời gian đo: Ngắn nhất là 4 giờ, dài nhất là 48 giờ tuỳ mục đích
của người sử dụng.
+ Chọn thời gian ngày đêm:
* Ban ngày từ 6-22 giờ (6AM-10PM).
* Ban đêm từ 22-6 giờ (10PM- 6AM).
Có một số tác giả lại chọn thời gian bắt đầu ban ngày là7 giờ, bắt đầu
ban đêm là 22 giờ hoặc 23 giờ.
Thông thường tổng thời gian ban ngày có thể từ 16h, ban đêm từ 7- 8h
đó là thời gian ngủ. Thời gian bắt đầu ngày, đêm, tùy thuộc vào chế độ làm
việc của từng BN và thời gian bắt đầu làm việc của mỗi vùng, thời gian này
có thể điều chỉnh được trong máy tính, nhưng nếu làm nghiên cứu thì phải
thống nhất các mốc thời gian.
Sau đó kết quả được phân tích nhờ phần mềm xử lý trong máy vi tính và
in kết quả ra máy in.

1.2.1.2. Kết quả phân tích huyết áp bằng máy đo liên tục 24 giờ (ABPM)
Tùy từng loại máy và phần mềm phân tích HA mà có cách thống kê khác
nhau, thông thường kết quả máy đo được và phân tích như sau:
- Các thông số mà máy đo được là: HATT, HATTr, HATB (MAP: huyết
áp trung bình), tần số tim.
MAP = HATTr + 1/3 (HATT - HATTr).
- Trị số và thời điểm HATT, HATTr, MAP, TS tim cao nhất và thấp nhất


25
Trung bình HA khi ngủ (ban đêm) : 120/75mmHg.
-Ngưỡng HA 24 giờ, ngày, đêm, của HATT và HATTr đã được chọn sẵn
trong phần mềm phân tích HA và có thể điều chỉnh được.
Theo Hội THA Châu Âu (ESH), đưa ra khuyến cáo về giá trị bình
thường của đo HA ngoại trú như sau.
Bảng 1.4: Khuyến cáo của ESH về mức HA ngoại trú bình thƣờng [62]
Trạng thái
Lý tưởng
Bình thường
Bất thường
Thức
<130/80
<135/85
>140/90
Ngủ
<115/65
<120/70
>125/75 -Hiện tượng giảm “trũng”, không giảm “không trũng” HA ban đêm được
đánh giá nhờ vào chỉ số ban ngày DI (Diurnal Index ) hay còn gọi là tỷ lệ %
“trũng” của HATT và HATTr.
DI = (HATB/ngày - HATB/đêm) / HATB/ngày x 100%
Bình thường: 10% < DI < 20%
-Chu kỳ ngày đêm kiểu dao động HA “trũng“ và “không trũng“:
Qua đo HA lưu động 24h ta có được bảng trị số HA ngày và đêm, từ đó
vẽ được biểu đồ dao động của HA trong suốt 24h. Đó là chu kỳ ngày đêm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status