Áo dài, nón bài thơ - nét duyên thầm xứ
Huế
Ở xứ mưa lắm, nắng nhiều, người buôn thúng bán bưng cũng vương nét đoan
trang. Trong tấm áo dài bạc màu vì một nắng hai sương, nối tay, nối vạt vì thiếu
vải hay may bằng nhung điều quyền quý, người phụ nữ vẫn dịu dàng đến e ấp,
nhẹ như mây, hiền như lúa, thơm như sen mùa hạ trong hồ Nội đô.
Áo dài Huế thời trước 1945 không chỉ khác với áo dài Hà Nội, Sài Gòn, mà tự
thân nó còn đa dạng hoá cho phù hợp với vị trí xã hội, đặc thù lao động của nhiều
tầng lớp phụ nữ Huế. Chiếc áo dài Huế cách điệu làm tôn vẻ đẹp của Nam Phương
Hoàng hậu trong Tử Cấm Thành. Chiếc áo dài "nối thân" để dễ thay thế khi sờn
mòn vì lao động không làm giảm đi vẻ dịu dàng duyên dáng của cô gái chèo đò
trên sông Hương Áo dài sớm có vị trí đặc biệt với phụ nữ Huế bởi sắc lệnh vua
Minh Mạng ban hành và bởi nếp sống vương giả, điều kiện sinh hoạt của người
dân đất đế đô. Các huyện ngoại thành Huế như Hương Trà, Phú Vang vẫn còn tên
tuổi, dấu tích các làng dệt sản xuất các mặt hàng vóc, sa, lĩnh, gấm và những
làng thêu danh tiếng như Sơn Điền, Dương Xuân , tất cả đã tạo nên một phong
cách riêng biệt và nổi bật.
Cuộc đời bà Nguyễn Thị Duyên Sanh (52 tuổi, cựu nữ sinh Đồng Khánh, giáo
viên trường THCS Hai Bà Trưng sau này), tấm áo dài là phần không thể thiếu. Bà
Sanh mặc áo dài lần đầu tiên khi tròn 16 tuổi, lúc ấy Huế vừa qua cơn bão lịch sử
Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968. Chiếc áo ấy được chị gái bà may tay bằng vải
mộc trắng đục, cổ vuông ngắn, eo buông, tay dài, tà rộng che kín toàn thân, mộc
mạc đúng kiểu đồng phục nữ sinh Đồng Khánh thời bấy giờ.
Nếu chiếc áo chỉ là một kỷ vật thời hoa phượng, bà Duyên Sanh sẽ không nâng
niu cẩn thận đến 36 năm nay. Chiếc áo mở đầu giai đoạn tuyệt diệu nhất trong
đời bà: kể từ đây, cô bé Duyên Sanh trở thành người lớn, không còn mặc áo cộc
ra đường và bắt đầu được phép coi áo dài như trang phục duy nhất khi rời cổng
như mọi phụ nữ trưởng thành đất Cố Đô những năm trước 1975. Cũng từ đây,
trong tà áo dài mềm mại mà khá cồng kềnh, phiền toái với người thiếu ý tứ, bà
Sanh và các thiếu nữ cùng lứa giữ gìn dáng đi, cách đứng, nết ngồi sao cho luôn
mặc thiếu đồng nhất tại các miền sau giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhà
vua ra sắc chỉ thống nhất y phục trên toàn quốc: Các phi tần, người hầu kẻ hạ đều
mặc áo dài ngay khi vừa bước chân khỏi cấm cung. Dân gian phải mặc quần, cấm
váy. Riêng với người lớn, áo dài trở thành trang phục bắt buộc khi ra đường.
Ngày ấy, áo dài Huế cũng như ở các vùng miền khác thường đậm màu và có đến
5 tà (sau này thành áo tứ thân - 4 tà). Mỗi thân trước và sau đều có 2 tà, khâu lại
với nhau dọc theo sống áo. Tà thứ 5 ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối
dưới khuỷu tay (do ngày ấy các loại vải rộng nhất cũng chỉ đến khổ 40cm). Cổ áo
cao khoảng 2-3cm cùng tay và thân áo trên ôm sát người. Tà áo được may rộng
ra từ sườn đến gấu và không chiết eo, dài đến đầu gối. Gấu áo thường võng, vạt
rộng đến 80cm. Về quần mặc cùng áo dài, trong khi các bà các cô từ Nam chí
Bắc thịnh màu đen giản dị thì phụ nữ Cố Đô thường chọn màu trắng đầy nữ tính.
Người trong hoàng tộc và các gia đình giàu có còn may quần chít ba (có 3 ly dọc
2 mép ngoài quần) để tạo dáng quần xòe rộng, trông yểu điệu mà cử động lại
thoải mái hơn.
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt khi thành lập trường Nữ sinh Trung học Đồng Khánh
(1917), nữ sinh Trung kỳ đều dồn về Huế học, áo dài trở thành đồng phục sử
dụng hàng ngày. Các nữ sinh đều mặc quần trắng, áo dài tím khi đến trường (sau
này đổi thành áo trắng mùa khô, xanh nước biển mùa mưa).Đến những năm 30 -
40 của thế kỷ XX, kiểu dáng của áo dài xứ Huế cũng như các vùng miền không
thay đổi, tuy nhiên, màu sắc và chất liệu phong phú hơn hẳn. Chị em có thể chọn
lựa nhiều loại vải nhập từ châu Âu với các tông màu tươi sáng. Nhờ khổ vải
ngoại nhập rộng rãi, áo dài Huế cũng như các nơi khác không còn phần nối giữa
sống áo, kéo dài xuống cách mắt cá 20cm, trông mềm mại hẳn. Phụ nữ Cố Đô
vẫn nền nã với quần trắng - áo dài; thói quen này dần trở thành mốt thời trang của
thiếu nữ nhiều vùng miền (trừ người đã lập gia đình).
Áo dài xứ Huế sẽ không có kiểu dáng như ngày nay nếu không trải qua cuộc cách
tân, do một họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, chủ tiệm may Le
Mur danh tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng tên là Cát Tường khởi xướng. Ông đem
đến Hội chợ Huế 1939 một bộ sưu tập áo dài cách điệu lối Âu châu, với 2 tà thay
liệu, kiểu dáng qua thời gian có nhiều thay đổi nhưng quan niệm về sắc màu và
mục đích sử dụng của người phụ nữ Cố Đô thì vẫn vẹn nguyên. ''Một nửa thế giới''
ở đây tuyệt nhiên không bị làn sóng thời trang lung lạc, vẫn nhuần nhụy ''trông
màu trời, chọn sắc áo''. Áo Tết thường có màu tươi sáng. Áo mặc các dịp cúng,
lễ,giỗ, kỵ may rộng, vải màu nâu (người Huế gọi là màu đà), xanh noir (gọi là màu
tím), màu ghi (ở Huế là màu lam), màu cà phê sữa, với hoa văn chìm. Áo ra ngoài
trời mưa màu đậm; còn để đi dưới nắng, thường nhạt màu, sáng trong. Phụ nữ xứ
chiều tím cũng có màu áo tím đặc trưng của mình, không giống ở mọi nơi. Theo
ông Chi, tím Huế không phải là màu bông bèo (màu hoa lục bình) trong Nam hay
tím hoa cà ngoài Bắc, cũng không giống màu tím đậm của nước quả mồng tơi như
nhiều người lầm tưởng. Với người Cố Đô, tím Huế không ngả qua đen, không tía
qua đỏ mà chỉ đủ đậm như màu mực học trò trên giấy trắng.
Cùng với sự nền nã của màu sắc, vẻ kín đáo của kiểu dáng, nét dịu dàng, quý
phái trong cử chỉ người mặc, chiếc áo dài tím với tà áo lồng lộng gió (như lời hát
của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) cùng vành nón lá che nghiêng mái tóc thề, không
biết tự bao giờ, thành hình ảnh khó có thể thiếu khi người ta nhắc đến xứ sông
Hương, núi Ngự.
Các bạn người nước ngoài của nhà văn Bửu Ý (một người Huế gốc) từng ngưỡng
mộ thốt lên: ''Không đâu có loại trang phục nữ nào kín đến thế, cũng không có
loại áo nào hở cho bằng, nhất là khi khoác trên mình những cô gái dịu hiền xứ
Huế''. Bởi đủ dài tha thướt để hút ánh mắt người ta theo vóc dáng thanh tao như
bay, như múa trên phố. Đủ kín để người ta ước tìm chỗ hở, chỗ nhô. Càng đủ nhẹ
để người ta thấy sức nặng quyến rũ của ánh mắt trong sáng, nụ cười e ấp, cử chỉ
duyên dáng, rồi cảm nhận trái tim nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ vùng non
thanh, thủy tú này. Cùng với áo dài, phụ nữ Huế còn có chiếc nón bài thơ duyên
dáng. Chiếc nón bài thơ ngày nay cũng là kết quả của nhiều lần sàng lọc, qua
thực tế sử dụng che mưa, nắng. Để làm ra những chiếc nón đẹp, người thợ làm
nón phải chọn những lá non của cây cọ đem phơi khô, là phẳng để lợp nón. Bên
trong lớp lá trắng ngần như lụa là hình ảnh con đò, bến nước quê hương và vần
thơ quen thuộc.