Lời mở đầu
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới,
chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà n ớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, cùng với xu thế toàn cầu hoá nh hiện nay đòi
hỏi các doanh nghiệp phải thích ứng với nhu cầu của xã hội. Hoạt
động trong hoàn cảnh mà các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều
phải tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ
việc tổ chức vốn, tổ chức kinh doanh đến việc tiêu thụ sản phẩm.
Có thể nói thị trờng là môi trờng cạnh tranh, là nơi luôn diễn ra sự
ganh đua cọ xát giữa các thành viên tham gia để dành phần lợi cho
mình. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tập trung mọi
cố gắng, nỗ lực vào hai mục tiêu chính : có lợi nhuận và tăng thị
phần của doanh nghiệp trên thị trờng. Doanh nghiệp nào nắm bắt
đầy đủ và kịp thời các thông tin thì càng có khả năng tạo thời cơ
phát huy thế chủ động trong kinh doanh và đạt hiệu quả cao. Kế
toán với t cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán là
một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính, đảm nhiệm
hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế. Do
đó kế toán là động lực thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng làm ăn có
hiệu quả.
Cùng với sự phát triển kinh tế, cùng với sự đổi mới sâu sắc
của cơ chế kinh tế đòi hỏi hệ thống kế toán phải không ngừng đ ợc
hoàn thiện để đáp ứng đợc yêu cầu của quản lý.
Với doanh nghiệp thơng mại - đóng vai trò là mạch máu
trong nền kinh tế quốc dân - có quá trình kinh doanh theo một chu
kỳ nhất định là : Mua- Dự trữ - Bán, trong đó khâu bán hàng là
khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và có tính
quyết định đến cả quá trình kinh doanh. Có bán đợc hàng thì mới
1
lập đợc kế hoạch mua vào và dự trữ cho kỳ tới, mới có thu nhập để
2
chơng I : lý luận chung về kế toán nghiệp vụ bán
hàng ở các doanh nghiệp thơng mại trong điều
kiện kinh tế thị trờng.
I. đặc điểm nghiệp vụ bán hàng và nhiệm vụ kế toán
1. đặc điểm của kinh tế thị tr ờng và hoạt độn g của
doan h nghiệp thơng mại trong nền kinh tế thị t r ờng.
Cùng với lịch sử phát triển của loài ng ời thì kinh tế xã hội
cũng có bớc tiến phù hợp. Hình thái kinh tế chuyển từ kinh tế tự
nhiên lên hình thái kinh tế cao hơn đó là kinh tế hàng hoá. Kinh
tế hàng hoá ra đời đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế xã hội,
cho đến nay nó đã phát triển và đạt tới trình độ cao đó là nền kinh
tế thị trờng. Kinh tế thị trờng là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà
trong đó các quan hệ kinh tế, phân phối sản phẩm, lợi ích đều do
các quy luật của thị trờng điều tiết, chi phối.
Thị trờng là nơi mua bán trao đổi một hoặc một số loại hàng
hoá nào đó, hay nói cách khác đây là nơi gặp giữa cung và cầu.
Thị trờng cũng là nơi tập trung nhiều nhất các mâu thuẫn của nền
kinh tế hàng hoá, là nơi khởi điểm và kết thúc của quá trình kinh
doanh. Trong thị trờng giá cả là phạm trù trung tâm là bàn tay vô
hình điều tiết và kích thích nền sản xuất xã hội. Thông qua giá cả
thi tròng, thị trờng thực hiện các chức năng điều tiết và kích thích
của mình trong đó cung và cầu là hai phạm trù kinh tế lớn bao
trùm lên thị trờng, quan hệ cung cầu trên thị tr ờng đã quyết định
giá cả thị trờng.
Tóm lại, kinh tế thị trờng là nền kinh tế đợc vận hành theo cơ chế
thị trờng, mà cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố quan hệ cơ
bản vận động dới sự chi phối của các quy luật thị trờng trong môi
3
trờng cạnh tranh nhằm mục đích sinh lợi.
hiếm hàng hoá.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, mối quan hệ
giữa mục tiêu tăng cờng tự do cá nhân và mục tiêu công bằng xã
hội, giữa đẩy mạnh tăng trởng kinh tế và nâng cao chất lợng cuộc
sống. Thị trờng có vai trò trực tiếp hớng dẫn các đơn vị kinh tế,
các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng lựa trọn lĩnh vực hoạt động,
định ra các phơng án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.
Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế
đợc tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh nằm trong khuôn khổ pháp
luật quy định.
Qua đó ta thấy nền kinh tế thị trờng có khả năng tự động tập
hợp đợc các loại hành động, trí tuệ và tiềm lực của hàng loạt con
ngời nhằm hớng đến lợi ích chung của xã hội đó là : Thúc đẩy
tăng trởng kinh tế, tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh
tế. Nhng nền kinh tế thị trờng không phải là một hệ thống đợc tổ
chức hài hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng đầy những
mâu thuẫn phức tạp. Vì vậy để khắc phục và hạn chế đ ợc những
tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng cần thiết phải có sự can
thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thị trờng.
Với điều kiện nền kinh tế thị trờng nh thế các doanh nghiệp
thơng mại cũng cần phải thay đổi cách nhìn về kinh doanh của
mình. Nếu nh trớc đây mọi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp đều phải tuân theo một hệ thống kế hoạch từ trên truyền
xuống : vốn thì đã đợc nhà nớc cấp, kế hoạch mua bán, giá cả đã
có sẵn chỉ việc tuân theo, lãi doanh nghiệp h ởng, lỗ đã có nhà nớc
bù. Nhng ngày nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các
doanh nghiệp lúc này phải tự chủ về tài chính, tự điều chỉnh hoạt
động kinh doanh của mình, lãi thì hởng, lỗ tự bù. Do vậy, mọi hoạt
động kinh doanh đều đợc doanh nghiệp tính toán kỹ càng để đ a ra
các quyết định đúng đắn tránh rủi ro cho công ty mình.
2.1. Các phơng thức bán hàng.
6
Bán hàng trong các doanh nghiệp thơng mại đợc tiến hành
theo 2 khâu
+Bán buôn
+Bán lẻ
2.1.1. Bán buôn:
Bán buôn là việc bán hàng cho các đơn vị các tổ chức kinh tế
khác với mục đích để chuyển bán hoặc để tiếp tục sản xuất. Đặc
điểm của nghiệp vụ bán buôn là hàng hoá ch a đến tay ngời tiêu
dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá ch a đợc thực hiện
đầy đủ.
Hiện nay có 2 phơng thức bán buôn nh sau:
+Bán buôn qua kho
+Bán buôn chuyển thẳng.
2.1.1.1 Bán buôn qua kho:
Là bán buôn hàng hoá mà hàng bán đ ợc xuất ra từ kho bảo
quản của doanh nghiệp. Trong phơng thức này có 2 hình thức.
a. Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp:
Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho doanh
nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao trực
tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua kí nhận đủ
hàng, bên mua đã thanh toán tiền mặt hoặc chấp nhận nợ, hàng
hoá đợc xác định là tiêu thụ.
b. Bán buôn qua kho bằng cách chuyển hàng:
Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã kí kết, doanh
nghiệp xuất kho hàng hoá, bằng phơng tiện vận tải của mình hoặc
thuê ngoài, chuyển đến giao cho bên mua ở một địa điểm thoả
thuận trớc giữa hai bên. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp, số hàng này đợc xác nhận là tiêu thụ khi
2.1.2.1. Phơng thức bán hàng thu tiền tập trung :
Phơng thức này tách rời nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ
thu tiền. Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ viết hoá đơn thu tiền và
8
giao cho khách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do
nhân viên bán hàng giao .
Cuối ca hoặc cuối ngày, nhân viên thu ngân tổng hợp tiền, kiểm
tiền và xác định doanh số bán. Nhân viên bán hàng căn cứ vào số
hàng đã giao theo hoá đơn lập báo cáo bán hàng, đối chiếu với số
hàng hoá hiện còn để xác định số hàng thừa, thiếu.
2.1.2.2. Phơng thức bán hàng thu tiền trực tiếp :
Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho
khách. Cuối ca (hoặc cuối ngày) nhân viên bán hàng kiểm tiền
làm giấy nộp tiền, kiêm kê hàng hoá hiện con ở quầy để xác định
lợng hàng hoá bán ra trong ca(ngày). Sau đó lập báo cáo bán hàng
để xác định doanh số bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy
nộp tiền.
Ngoài hai phơng thức trên, trong bán lẻ còn có các hình thức khác
nh bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động,...
2.2. Các phơng thức thanh toán :
Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận đ ợc chấp nhận thanh
toán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều ph ơng thức khác
nhau tuỳ vào sự tín nhiệm, thoả thuận giữa hai bên mà lựa chọn
phơng thức thanh toán cho phù hợp.
Hiện nay các doanh nghiệp thong mại áp dụng hai phơng
thức thanh toán:
Thanh toán trực tiếp
thanh toán không trực tiếp
2.2.1. Thanh toán trực tiếp :
Là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, ngân phiếu giữa ng ời
bán tiền hàng theo kế hoạch. Cuối kỳ hai bên sẽ điều chỉnh thanh
toán theo số thực tế.
2.2.2.3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi :
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngân
hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho ng ời cung
10
cấp hàng hoá, dịch vụ.
2.2.2.4. Thanh toán bằng séc :
Séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in
sẵn đặc biệt của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài
khoản của mình để trả cho ng ời đợc hởng có tên trên tờ séc dó.
Đơn vị phát hành séc phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc,
séc chỉ đợc phát hành khi tài khoản ở ngân hàng có số d .
Có 3 loại séc : Séc bảo chi, Séc chuyển khoản, Séc định mức.
2.2.2.5. Thanh toán bù trừ :
Hình thức này áp dụng trong trờng hợp hai bên có quan hệ
mua bán hàng hóa với nhau. Định kỳ hai bên phải tiến hành đối
chiếu giữa số tiền đợc thanh toán với số tiền phải thanh toán. Các
bên tham gia thanh toán bù trừ chỉ cần phải trả số chênh lệch sau
khi đã bù trừ.
2.2.2.6. Thanh toán bằng th tín dụng và tài khoản đặc biệt :
Th tín dụng là lệch của ngân hàng phục vụ bên mua đề nghị
ngân hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán về số tiền hàng
mà bên bán đã cung cấp cho bên mua. Hình thức này th òng áp
dụng với các đơn vị khác địa phơng không có sự tín nhiệm lẫn
nhau.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa tích cực đối với
nền kinh tế quốc dân cũng nh đối với doanh nghiệp. Nó làm giảm
dợc lợng tiền trong lu thông, giảm chi phí có liên quan đến việc in
ấn và phát hành tiền, giảm chi phí liên quan đến việc bảo quản,
Thời điểm xác định bán hàng là thời điểm chuyển quuyền sở
hữu về hàng hoá, nó phụ thuộc vào ph ơng thức bán hàng và thanh
toán tiền hàng.
Đối với nghiệp vụ bán buôn, việc bán hàng có thể thanh toán
ngay hoặc cha thì thời điểm đợc xác định là bán hàng là khi nhận
đợc tiền của bên mua hoặc nhận đợc báo có của ngân hàng hoặc
giấy chấp nhận thanh toán của bên mua.
12
Đối với phơng thức bán lẻ thì thời điểm ghi chép hàng bán là
ngay sau khi nhận đợc báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền.
2.4. Giá cả hàng bán:
Doanh nghiệp nào kinh doanh cũng vì mục tiêu lợi nhuận.
Do vậy mà khi kinh doanh một mặt hàng nào thì cũng phải xác
định đợc giá bán sao cho hợp lý để không ảnh hởng đén tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp. Tức là phải đảm bảo bù đắp đ ợc giá
vốn, bù đắp đợc chi phí kinh doanh và hình thành lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thờng xác định giá bán theo công thức sau:Thặng số thơng mại đợc dùng để bù đắp chi phí kinh doanh và
hình thành lợi nhuận và đợc tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua
thực tế của hàng hoá tiêu thụ.
Cách tính mới là :
Hiện nay, Nhà nớc chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết
yếu, quan trọng còn các hàng hoá khác giá cả đ ợc xác định theo
cung cầu thị trờng. Gía hàng bán đợc xem là một công cụ cạnh
tranh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp phải tự xác định đ ợc
mức giá bán phù hợp dựa vào nhu cầu thị tr ờng, chu kỳ sản phẩm,
hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý vốn của
các doanh nghiệp. Đồng thời nó là nguồn thông tin số liệu tin cậy
để Nhà nớc điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân, kiểm tra, kiểm
soát hoạt động của các ngành, các lĩnh vực.
Do đó kế toán bán hàng cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu
sau:
+ Ghi chép, phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời tình hình
14
bán hàng cả về mặt giá trị và hiện vật của từng mặt hàng, nhóm
hàng.
+Kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch về quá trình bán hàng. Tính toán chính xác giá vốn hàng
hoá đã tiêu thụ từ đó xác định đúng đắn kết quả hoạt động bán
hàng.
+ Phản ánh và giám đốc tình hình thu hồi tiền, tình hình
công nợ và thanh toán công nợ với ngời mua.
+ Cung cấp các thông tin tổng hợp và chi tiết cần thiết về
hàng bán kịp thời phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
II. Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán nghiệp vụ
bán hàng trong các doanh nghiệp thơng mại.
1. Sự cần thiết :
Kế toán là một hệ thống thông tin kiểm tra tình hình và sự
biến động tài sản của đơn vị. Kế toán là một công cụ quản lý quan
trọng để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, để tổ chức,
phản ánh và giám đốc các loại tài sản vật t tiền vốn.Từ việc phân
tích các số liệu kế toán các nhà quản lý đề ra biện pháp và h ớng
kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp thơng mại tiêu thụ hàng hoá là khâu
vận động cuối cùng của hàng hoá nó ảnh h ởng trực tiếp đến lợi
+ Sử dụng mẫu chứng từ
+ Số lợng chứng từ lập
+ Tổ chức luân chuyển chứng từ.
Kế toán nghiệp vụ bán buôn bán lẻ sử dụng các mẫu chứng từ
sau :
+ Hoá đơn GTGT ( Sử dụng đối với doanh nghiệp tính thuế
GTGTtheo phơng pháp khấu trừ ). Hoá đơn GTGT đợc lập làm 3
liên, một liên giao cho khách hàng, hai liên giữ lại. Trên hoá đơn
16
GTGT ghi rõ giá bán ch a thuế, thuế GTGT, tổng gia thanh toán.
Nếu trên hoá đơn chỉ ghi tổng giá thanh toán thì thuế GTGT đ ợc
tính trên tổng giá thanh toán theo công thức sau :
Đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp tính thuế GTGT
trực tiếp trên GTGT thì chứng từ sử dụng ban đầu là hoá đơn bán
hàng.
Gía ghi trên hoá đơn bán hàng là giá đã có thuế.
+ Biên bản thừa thiếu hàng hoá : phản ánh số hàng thiếu
hoặc thừa trong các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
+ Biên bản hàng không đúng hợp đồng : phản ánh số hàng
không đúng hợp đồng bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh
toán.
+ Các chứng từ gốc phản ánh quá trình thu hồi tiền, thu hồi
công nợ. Cụ thể :
-Nếu thu bằng tiền mặt, ngân phiếu nhập quỹ thì căn cứ vào
các phiếu thu, nếu thu bằng séc thì căn cứ vào bảng kê nộp séc.
-Nếu thu qua ngân hàng thì là giấy báo có và bản sao kê của
ngân hàng.
+ Báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hoá (với bán lẻ
hàng hoá )
18
- Phản ánh doanh thu thực tế về bán
hàng
- Phản ánh thuế TTĐB hoặc thuế
XNK phải nộp.
- phản ánh doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán.
- Kết chuyển doanh thu bán hàng
thuần để xác định kết quả.
Nợ TK 511 Có
TK 511không có số dư cuối kỳ
ánh trên TK511 là phần hoa hồng đơn vị đợc hởng.
Các trờng hợp sau không đợc phản ánh vào doanh thu :
Các khoản thu về nhợng bán hoặc thanh lý TSCĐ.
Các khoản thu về bán cổ phiếu, trái phiếu, thu đ ợc phân chia
về liên doanh.
Ngời mua ứng trớc tiền cho đơn vị.
Trị giá vật t, thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công
chế biến.
(2) Tài khoản 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ : Tài khoản này
dùng để phản ánh doanh thu nội bộ của số sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị
trực thuộc trong cùng một doanh nghiệp.
Tài khoản 512 đợc mở cho các tài khoản cấp 2 sau :
+ TK5121 - Doanh thu về hàng hoá đã đợc xác định là tiêu
thụ
+ TK 5122 - Doanh thu về bán thành phẩm.
+ TK 5123 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ.
+ TK 5124 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh
TK 33311 - Thuế giá trị gia tăng đầu ra
TK 33312 - thuế giá trị gia tăng của hàng nhập khẩu.
TK 3331 có kết cấu nh sau:
20
Nợ TK 131 Có
SDĐK:Phản ánh số tiền còn phải thu
ở người mua đầu kỳ.
- Phản ánh số tiền phải thu ở người
người mua tăng trong kỳ.
- Phản ánh trị giá hàng hoá đã giao
cho người mua ứng với số tiền nhận
đặt trước.
SDCK : Phản ánh số tiền còn phải thu
ở người mua đến cuối kỳ.
- Phản ánh số tiền đã thu được
ở người mua trong kỳ
- Phản ánh số tiền nhận đặt trư
ớc của người mua.
(6) Tài khoản 157 -" Hàng gửi bán ": Tài khoản này dùng để phản
ánh giá trị, tình hình biến động của hàng hoá đã gửi, trị giá lao
vụ, dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho ng ời đặt hàng nhng cha
chấp nhận thanh toán.
Trong buôn bán TK 157 chỉ sử dụng trong tr ờng hợp áp dụng
hình thức gửi hàng.
Kết cấu chung của tài khoản 157 nh sau:
21
Nợ TK 3331 Có
- Thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ
hàng hoá gửi bán chưa được
xác định tiêu thụ cuối kỳ.
Cụ thể :
+ Hàng hoá gửi cho
người mua, người mua chưa
nhậnđược.
+Hàng hoá người mua
trả lại đang bảo quản
hộ.
(7) Tài khoản 532 -" Giảm giá hàng bán ": Tài khoản này dùng để
phản ánh các khoản giảm giá, bớt giá của việc bán hàng trong khi
hạch toán.
Giảm giá: là khoản giảm trừ cho ng ời mua tính trên giá bán
vì lí do hàng bán kém phẩm chất hoặc không đúng quy cánh theo
qui định của hợp đồng.
Bớt giá: là khoản giảm trừ vì lí do ng ời mua đã mua với khấu
lợng lớn, nó đợc tính theo một tỉ lệ nào đó trên giá bán. Việc bớt
giá đợc ngời bán tiến hành theo từng lần mua hàng.
(8) Tài khoản 531 -" Hàng bán bị trả lại : tài khoản này dùng để
phản ánh trị giá của số sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ bị
khách hàng trả lại do: vi phạm hợp đồng, hàng không đúng chủng
loại, quy cách, phẩm chất. Trị giá của hàng hoá bị trả lại phản ánh
trên tài khoản này sẽ điều chỉnh doanh thu bán hàng thực tế đ ợc
thực hiện trong kỳ để tính doanh thu thuần của khôí l ợng hàng
hoá đã tiêu thụ trong kỳ.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác có liên
quan nh TK 111, 112, 136, 641, 642, 811, 721...
2.2.2. Vận dụng các tài khoản vào hạch toán:
2.2.2.1. Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở các doanh nghiệp áp dụng
tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ:
Có TK 111, 112
(6) Khi thu đợc tiền bao bì, tiền chi hộ :
Nợ TK 111, 112
Có TK 1388
Bán buôn vận chuyển thẳng :
+Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán :
(1a) Trị giá hàng mua đợc vận chuyển bán thẳng :
23
Nợ TK 157 : Trị giá mua cha có thuế.
Nợ TK 133 : Thuế GTGT đầu vào.
Có TK 111, 112, 331 : Tổng giá thanh toán.
(1b) Trờng hợp mua bán thẳng giao nhận trực tiếp tay ba với nhà
cung cấp và khách hàng :
Nợ TK 632 : Trị giá mua cha có thuế.
Nợ TK 133 : Thuế GTGT đầu vào.
Có TK 111, 112, 331 : Tổng giá thanh toán.
(2) Phản ánh trị giá vốn hàng vận chuyển bán thẳng đã đợc tiêu
thụ :
Nợ TK 632
Có TK 157
(3) Phản ánh doanh thu bán hàng :
Nợ TK 111,112,131 : Tổng giá thanh toán.
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng.
Có TK 33311 : Thuế GTGT đầu ra.
+Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán :
(1) Phản ánh doanh thu :
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511 Hoa hồng đựoc hởng.
(2) Nếu phát sinh chi phí môi giới :
Nợ TK 641
Có TK 112 : Tiền gửi ngân hàng.
Có TK 141 : Tiền tạm ứng.
(4) Phản ánh trị giá hàng bị trả lại :
Nợ TK 156 ( nếu hàng về nhập kho )
Nợ TK 157 ( nếu hàng cha về nhập kho ) Trị giá xuất kho.
Có TK 632
Trờng hợp giảm giá hàng bán :
Căn cứ vào chứng từ chấp thuận giảm giá cho khách hàng về số l -
ợng hàng đã bán, kế toán phản ánh :
25