Tố tụng dân sự Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự - Pdf 20

MỞ ĐẦU
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, khâu đầu tiên và quan trọng
nhất chính là việc xác định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án đối với từng vụ việc.
Sau khi xác định thẩm quyền theo vụ việc và theo cấp, còn cần xác định thẩm
quyền theo lãnh thổ để biết được chính xác vụ việc dân sự sẽ được xử tại Tòa án
huyện, tỉnh nào. Bên cạnh đó, đương sự cũng có quyền tự lựa chọn Tòa án sẽ thụ
lý vụ việc của mình, trong một số trường hợp luật định. Để làm rõ hơn về vấn đề
này, nhóm số 2 tìm hiểu về “Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh
thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự” trên cơ sở những kiến thức đã
học.
NỘI DUNG
I. Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ.
1. Khái niệm.
Thẩm quyền dân sự của tòa án được tiếp cận dưới ba góc độ là thẩm
quyền theo loại việc, thẩm quyền của tòa án các cấp và thẩm quyền theo lãnh
thổ. Để xác định một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của một tòa án cụ thể
nào, đầu tiên phải xác định vụ việc đó có thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
tòa án theo loại việc hay không. Việc thứ hai cần để xác định thẩm quyền giải
quyết thuộc tòa án nào là phải xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền của
tòa án cấp nào. Thứ ba cần dựa trên cơ sở xây dựng thẩm quyền theo loại việc
và thẩm quyền theo cấp để xác định trong số tòa án cùng cấp đó thì tòa án nào
theo lãnh thổ có thẩm quyền giải quyết.
Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ là quyền của một
Tòa án cụ thể, trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền hạn ra
các quyết định khi lần đầu tiên giải quyết các vụ việc đó, được xác định dựa
trên cơ sở nơi cư trú, nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự, nơi có bất
1
động sản hoặc nơi phát sinh sự kiện hoặc các dấu hiệu khác mà pháp luật quy
định.
2. Nguyên tắc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh
thổ

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì: Toà án có thẩm quyền giải
quyết vụ án dân sự là Toà án nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nếu bị đơn là cá
nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên,
BLTTDS không qui định về nơi cư trú mà nơi cư trú được qui định ở Bộ luật
dân sự (BLDS) và Luật cư trú (LCT) hiện hành. Điều 52 BLDS qui định: “Nơi
cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống, nếu không xác định được nơi
người đó thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú sẽ được xác định là nơi người
đó hiện sinh sống”. “Thường xuyên sinh sống” hay “nơi hiện sinh sống” tại
Điều này không đòi hỏi việc phải có đăng ký hộ khẩu thường trú. LCT qui
định cụ thể hơn, “nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó
thường xuyên sinh sống, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi
tạm trú”. Vậy nơi cư trú có thể là nơi thường trú hoặc tạm trú của bị đơn. Mặt
khác, trong TTDS, bị đơn là người bị động, và thường có tâm lý không muốn
hợp tác, nên bị đơn cần được tạo điều kiện thuận lợi nhất để tham gia tố tụng,
để thực hiện quyền tự bảo vệ của mình trước Tòa án, đồng thời tạo điều kiện
thi hành án sau này, từ đó cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên
đơn. Từ những lý do nêu trên, Tòa án nơi bị đơn cư trú cần được hiểu là Tòa án
nơi có điều kiện thuận lợi nhất để bị đơn tham gia tố tụng. Và “Việc xác định
nơi cư trú, làm việc… qui định tại Điều 35 BLTTDS được xác định tại thời
điểm nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự” (khoản
5 Điều 8 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP). Qui định này đã góp phần đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả nguyên đơn và bị đơn. Mặc dù vậy, qui
định này còn qui định chung chung nơi cư trú, làm việc mà không có giải thích
rõ ràng về ưu tiên Tòa án nơi cư trú hay nơi làm việc hơn. Nếu bị đơn (hoặc
3
nguyên đơn) cư trú ở một nơi, làm việc ở một nơi khác thì không có căn cứ
pháp luật chắc chắn để giải quyết vấn đề về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh
thổ. Do vậy, cần có qui định cụ thể hơn cho vấn đề này.
Theo điểm b khoản 2 Điều 35 BLTTDS thì: Các đương sự cũng có thể thoả
thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên


Căn cứ vào dấu hiệu về nơi cư trú của đương sự, đồng thời đảm bảo
thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết chính xác vụ việc và thuận lợi cho
người bị yêu cầu trong việc tham gia tố tụng, Khoản 2 Điều 35 BLTTDS qui
định thẩm quyền Tòa án giải quyết việc dân sự theo lãnh thổ được xác định
trên cơ sở Tòa án nơi cư trú của người bị yêu cầu. Cụ thể như sau:
- Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự; Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; Yêu cầu tuyên bố một người mất
tích hoặc là đã chết thì sẽ do Tòa án nơi người bị yêu cầu cư trú giải quyết.
- Đối với yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết thì
sẽ do Tòa án đã ra tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết giải quyết;
- Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành ở Việt Nam bản án, quyết
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa
án nước ngoài thì sẽ do Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước
ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người thi
hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có
tài sản liên quan đến thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài giải
quyết;
- Đối với yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có
yêu cầu thi hành tại Việt Nam thì sẽ do Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm
5
việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người
gửi đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết;
- Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của
Trọng tài nước ngoài thì sẽ do Toà án nơi người phải thi hành quyết định của
Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc
nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức

công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu.
- Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc
nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi
hành án theo quy định của pháp luật
Như vậy, pháp luật đã qui định riêng cho từng trường hợp xác định thẩm
quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ, đáp ứng nhu cầu giải
quyết đa dạng các quan hệ pháp luật dân sự, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho
Tòa án giải quyết chính xác vụ việc và thuận lợi cho đương sự trong việc tham
gia tố tụng.
3.3. Thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ trong trường
hợp đương sự nộp đơn tại nhiều Tòa án khác nhau
Vấn đề này được qui định cụ thể tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số
03/2012/NQ-HĐTP.
Theo đó, Trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa
chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự (ví dụ: Tòa án nơi
bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 36 của BLTTDS), thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu
7
cầu, Tòa án phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án
được Điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ
lựa chọn. Cho nên người khởi kiện, người yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi
kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi kiện hoặc không yêu cầu tại các
Tòa án khác.
Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện,
nộp đơn yêu cầu tại nhiều Tòa án khác nhau được Điều luật quy định, thì Tòa
án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự.
Các Tòa án khác, nếu chưa thụ lý thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 của
BLTTDS trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì căn cứ vào điểm

quyết các vụ việc dân sự giữa các Tòa án. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thi hành án dân sự, đảm bảo sự phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành
án trong việc chuyển giao bản án, quyết định, giải thích bản án, quyết định.
Ngoài các quy tắc về phân định thẩm quyền theo lãnh thổ được nhà lập
pháp xây dựng là cơ sở pháp lý để tránh việc đương sự lạm dụng quyền khởi
kiện để cùng một lúc khởi kiện vụ việc ở nhiều Tòa án khác nhau gây ra tình
trạng có nhiều Tòa án cùng giải quyết một vụ việc và ra những phán quyết trái
ngược nhau, gây mất niềm tin vào cơ quan bảo vệ pháp luật và khó khăn cho
công tác thi hành án dân sự sau này.
II. Quyền lựa chọn Toà án của đương sự
Những trường hợp nguyên đơn được quyền lựa chọn Toà án để giải
quyết vụ kiện đều nhằm mục đích đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của công
dân trong quan hệ pháp luật dân sự. Các nhà làm luật đã dựa trên căn cứ “tạo
điều kiện thuận lợi cho đương sự dựa vào pháp luật thực hiện quyền tố tụng”.
9
1. Các đương sự có thể thoả thuận với nhau.
Như đã phân tích ở trên thì quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35
BLTTDS cũng được coi là một trong các trường hợp thể hiện quyền lựa chọn
Tòa án của đương sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau để chọn Tòa
án nơi nguyên đơn cư trú nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi nguyên
đơn có trụ sở nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức để giải quyết vụ án dân sự.
Việc thoả thuận phải lập thành văn bản trong đó xác định rõ Toà án có thẩm
quyền giải quyết; Toà án này phải nằm trong các Toà án có thẩm quyền giải
quyết theo quy định của pháp luật. Quy định này phù hợp với nguyên tắc Quyền
tự định đoạt của đương sự, quyền lợi của bị đơn – người bị động trong vụ án dân
sự cũng được bảo đảm.
Quy định này đã tạo nhiều thuận lợi cho nguyên đơn, người có yêu cầu
trong việc tham giá tố tụng; giúp nguyên đơn, người yêu cầu có lựa chọn được
Tòa án phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mình.
2. Các đương sự không có thoả thuận với nhau.

quyền lợi của người khởi kiện và đảm bảo được việc giải quyết nhanh chóng,
thuận lợi cho Toà án (điểm b khoản 1 Điều 36 BLTTDS).
Nếu yêu cầu cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú
của mình giải quyết. Bởi lẽ, người yêu cầu cấp dưỡng là người có hoàn cảnh
khó khăn, nếu Toà án nơi người bị yêu cầu sinh sống ở xa thì việc khởi kiện
của người yêu cầu cấp dưỡng sẽ gặp khó khăn. Không đáp ứng được nguyên
tắc: Tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự để thực hiện quyền tố tụng (điểm c
khoản 1 Điều 36 BLTTDS).
Nếu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khoẻ thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Toà án nơi cư trú của mình, nơi xảy ra việc gây thiệt hại hoặc nơi
cư trú của bị đơn giải quyết. Mục đích: để đảm bảo quyền lợi người khởi kiện
11
để buộc người bị khởi kiện phải bồi hoàn một cách có hiệu quả những thiệt hại
mà họ gây ra.
Nếu vụ án phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể kiện ở
Toà án nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi thực hiện hợp đồng; nếu khi kí kết hợp
đồng mà các bên có thoả thuận về Toà án giải quyết việc tranh chấp thì nguyên
đơn chỉ được khởi kiện tại Toà án đó.
Nếu các bị đơn có nơi cư trú khác thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án
nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết.
Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác
nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải
quyết.
2.2.Việc dân sự mà đương sự có quyền lựa chọn toà án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTDS, những việc dân sự mà
đương sự có quyền lựa chọn Tòa án gồm:
Đối với các yêu cầu về dân sự thuộc một trong các trường hợp: yêu cầu
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu thông báo

càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo báo cáo tổng kết ngành Tòa án
năm 2009 của TANDTC: kết quả thụ lí giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm thụ
lí 1764 vụ, đã giải quyết 1634 vụ, đạt 92,6%. Điều đó cho thấy, chất lượng sơ
thẩm dân sự của Tòa án đang ngày càng cao hơn.
Song bên cạnh đó một vấn đề đặt ra là BLTTDS năm 2011 đã qui định
mở rộng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án cấp huyện. Đây là những qui
định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp, nhưng xác định thẩm quyền của Tòa
13
án theo cấp được tiến hành trước và là tiền đề cho việc xác định thẩm quyền
của Tòa án theo lãnh thổ do đó ảnh hưởng lớn đến việc xác định thẩm quyền
của Tòa án theo lãnh thổ và việc các Tòa án này thực hiện giải quyết vụ việc
dân sự. Việc mở rộng thẩm quyền này về mặt lý luận là hợp lý, tuy nhiên, hiện
nay việc mở rộng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án cấp huyện
như là trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp lao động đã và đang đặt ra thách
thức cho các Tòa án cấp huyện, đặc biệt là các vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế thiếu thốn. Bởi các thẩm phán ở cấp huyện
hiện nay phần lớn vẫn còn thiếu về số lượng, chất lượng yếu. Ở nhiều địa
phương , trình độ chuyên môn của các cán bộ Tòa án còn chưa cao và số
lượng còn ít chưa nhiều. Cho nên cần đào tạo các cán bộ Toà án có đủ năng
lực đưa về các huyện vùng sâu, vùng xa hoặc đào tạo cho các cán bộ tư pháp
hiện tại có thêm kinh nghiệm thông qua những lần tập huấn, hoặc trao đổi kinh
nghiệm giữa các Toà với nhau.
Bên cạnh những thành tích nổi trội đạt được thì việc áp dụng thẩm quyền
dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ vẫn còn một số những hạn chế nhất
định bên cạnh những hạn chế nói trên như sự thiếu rõ ràng trong quy định về
thẩm quyền của Tòa án theo nơi bị đơn cư trú, làm việc; vướng mắc trong việc
xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp tranh chấp về tài sản là bất
động sản; vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền trong trường hợp tranh
chấp về quan hệ về tài sản, bao gồm cả động sản và bất động sản; pháp luật
chưa có quy định về việc xử lý trong trường hợp thỏa thuận của đương sự về

quyết số 03/2012/NQ-HĐTP như đã phân tích ở trên, đây cũng là điểm mới,
tiến bộ hơn so với Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP. Tuy nhiên khoản 4 Điều
9 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP cũng mới chỉ nói một cách rất chung
chung là “vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,… mà có tranh chấp
về bất động sản” mà không nêu cụ thể về nội dung tranh chấp chính. Do đó,
kiến nghị qui định này cần được qui định cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng cần có
15
sự giải thích cụ thể thuật ngữ như thế nào là tranh chấp về bất động sản thuộc
thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản. Thiết nghĩ tranh chấp về bất động
sản cần được hiểu là áp dụng đối với những vụ tranh chấp mà đối tượng của vụ
tranh chấp là bất động sản, bao gồm tranh chấp quyền sở hữu như kiện đòi nhà
ở bị chiếm giữ bất hợp pháp; tranh chấp vật kiến trúc khác trên đất; kiện đòi
nhà, đất cho thuê, mượn; tranh chấp về việc ai là người có quyền sử
dụng Với các vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,… mà có tranh
chấp về bất động sản nhưng tranh chấp về bất động sản không phải là nội dung
tranh chấp chủ yếu thì thẩm quyền của Tòa án sơ thẩm được xác định theo qui
định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS.
Thứ hai: Việc xác định thẩm quyền trong trường hợp tranh chấp về quan
hệ về tài sản bao gồm cả động sản và bất động sản.
Đó là đối với những vụ tranh chấp là quan hệ về tài sản nhưng tài sản là
đối tượng tranh chấp lại bao gồm cả động sản và bất động sản. Dẫn đến các
Tòa án bị lúng túng khi xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp
đương sự có tranh chấp nhưng tài sản tranh chấp lại bao gồm cả động sản và
bất động sản. Vì vậy, trong các văn bản hướng dẫn thi hành cần có hướng dẫn
cụ thể về nguyên tắc xác định thẩm quyền trong trường hợp vụ việc có nhiều
quan hệ pháp luật tranh chấp. Cụ thể là trường hợp vụ việc có nhiều quan hệ
pháp luật thì Toà án có thẩm quyền là Toà án nơi có bất động sản tranh chấp,
nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản đồng thời đó là quan hệ tranh chấp
chính cần giải quyết trong vụ án dân sự đó.
Thứ ba: Các quy định về quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm

yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật trong khi điểm b khoản 2 Điều 36 lại cho
phép người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng
ký kết hôn trái pháp luật giải quyết. Do vậy yêu cầu đặt ra là các cơ quan có
17
thẩm quyền cần có hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn về cách xác định thẩm quyền
theo Điều 35 và Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thứ sáu quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án đối với các yêu
cầu liên quan tới hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam còn thiếu cụ thể.
Vấn đề thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với
những việc liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại không được quy
định cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự mà thực hiện thông qua sự dẫn chiếu tới
quy định của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam. Việc dẫn chiếu này không
thuận lợi cho đương sự và Tòa án trong việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật. Do
đó cần cụ thể hóa các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm Tòa án đối với
các yêu cầu liên quan tới hoạt động của Trọng tài thương mại Việt nam. Để
thuận tiện hơn cho các Tòa án khi áp dụng pháp luật, kiến nghị cần phải có văn
bản hướng dẫn đối với quy định tại điểm o khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân
sự về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với các yêu cầu liên quan tới hoạt
động của Trọng tài thương mại cụ thể hơn.
LỜI KẾT
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy, việc xác định Toà án có
thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ và quyền lựa chọn toà án của đương
sự có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng dân sự, nó là tiền đề để
tiến hành các hoạt động tiếp theo. Tuy có những quy định chưa hợp lý và chưa
dự liệu hết được các trường hợp thực tế có thể xảy ra nhưng chúng ta không thể
phủ nhận được tác dụng tích cực mà những quy định này đã đem lại
18
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo
1. Giáo trình luật tố tụng dân sự, học viện tư pháp, Nxb. CAND, Hà Nội,
2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status