AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG potx - Pdf 20

Bài giảng. AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chương 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm về bảo hộ lao động
- Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề hệ thống các văn bản pháp luật, các
biện pháp về tổ chức kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ để cải tiến điều kiện lao động
nhằm:
+ Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động.
+ Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
+ Bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung.
+ Góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
- Nói 1 cách ngắn gọn hơn: Bảo hộ lao động là hệ thống các giải pháp về pháp luật, khoa học kỹ
thuật, kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của con người trong quá trình lao
động sản xuất.
- Từ khái niệm trên có thể thấy rõ tính pháp lý, tính khoa học, tính quần chúng của công tác bảo
hộ lao động luôn gắn bó mật thiết với nhau và nội dung của công tác bảo hộ lao động nhất thiết
phải thể hiện đầy đủ các tính chất trên.
1.2. Mục đích bảo hộ lao động:
- Mục đích:
+ Bảo đảm cho mọi người lao động những điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, thuận lợi và tiện
nghi nhất.
+ Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho người lao động.
+ Góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực lao động.
+ Nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà trước hết là của chính người lao
động.
- Đây cũng là chính sách đầu tư cho chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Chính sách bảo hộ lao động chính là những chủ trương, quyết định, quy định, hướng dẫn
nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, đường lối về công tác bảo hộ lao động. Thực tiễn hiện
nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết trong việc đổi mới chính sách bao hộ lao động cho
phù hợp với yêu cầu nền kinh tế hiện nay.
1.3. Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động:

Tóm lại, ở đâu có sản xuất, công tác, có con người làm việc thì ở đó phải tiến hành công tác bảo
hộ lao động. Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù của sản xuất, gắn liền với sản xuất nhằm
bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động; đồng thời nhờ chăm lo
sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ mỡ công tác bảo
hộ lao động có 1 hệ quả xã hội vỡ nhân đạo rất to lớn.
1.4. Nội dung của bảo hộ lao động:
Bảo hộ lao động gồm 4 phần:
- Luật pháp bảo hộ lao động: là những quy định về chế độ, thể lệ bảo hộ lao động như:
• Giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi.
• Bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho công nhân.
• Chế độ lao động đối với nữ công nhân viên chức.
• Tiêu chuẩn quy phạm về kỹ thuật an toà và vệ sinh lao động.
→ Luật lệ bảo hộ lao động được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tế của quần chúng lao động,
căn cư vào trình độ phát triển kinh tế, trình độ khoa học được sửa đổi, bổ sung dần dần thích
hợp với hoàn cảnh sản xuất trong từng thời kỳ kinh tế của đất nước.
- Vệ sinh lao động: nhiệm vụ của vệ sinh lao động là:
• Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường và điều kiện lao động sản xuất lên cơ thể con người.
• Đề ra những biện pháp về y tế vệ sinh nhằm loại trừ và hạn chế ảnh hưởng của các nhân tố
phát sinh những nguyên nhân gây bệnh nghề nghiệp trong sản xuất.
- Kỹ thuật an toàn lao động:
• Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân chấn thương, sự phòng tránh tai nạn lao động trong sản
xuất, nhằm bảo đảm an toàn sản xuất và bảo hộ lao động cho công nhân.
• Đề ra và áp dụng các biện pháp tổ chức và kỹ thuật cần thiết nhằm tạo điều kiện làm việc an
toàn cho người lao động để đạt hiệu quả cao nhất.
- Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy:
• Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân cháy, nổ trên công trường.
• Tìm ra biện pháp phòng cháy, chữa cháy có hiệu quả nhất.
• Hạn chế sự thiệt hại thấp nhất do hoả hoạn gây ra.
1.5. Những quan điểm trong công tác bảo hộ lao động:
Bảo hộ lao động là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các quan điểm cơ bản đã

a/Người lao động:
-Là phải kể cả người học nghề, tập nghề, thử việc được làm trong điều kiện an toàn, vệ sinh,
không bị tai nạn lao động, không bị bệnh nghề nghiệp; không phân biệt người lao động trong cơ
quan, doanh nghiệp của Nhà nước hay trong các thành phần kinh tế khác; không phân biệt
người Việt Nam hay người nước ngoài.
b/Người sử dụng lao động:
-Ở các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc
các thành phần kinh tế khác, các cá nhân có sử dụng lao động để tiến hành các hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị xí nghiệp, sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể nhân dân, các doanh
nghiệp thuộc lực lượng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, các cơ quan tổ chức nước ngoài
hoặc quốc tế tại Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.
Như vậy, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hộ lao
động trong đơn vị mình.
1.6.4. Các quy định về kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động:
- Nhà nước ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động, quy phạm quản lý đối với
từng loại máy, thiết bị, công trình, kho tàng, hoá chất nơi làm việc. Người sử dụng lao động
phải căn cứ để xây dựng nội quy, quy trình làm việc an toàn. Tiêu chuẩn
an toàn vệ sinh là tiêu chuẩn bắt buộc thực hiện.
- Khi lập luận chứng kinh sở sản xuất; sử dụng, bảo quản, lưu giữ các loại máy, thiết bị,
ngặt về an toàn vệ sinh lao động thì chủ đầu tư phải bảo vệ và lập luận chứng về an toàn và vệ
sinh lao động. Cơ quan thanh tra an toàn và vệ sinh lao động tham gia đánh giá tính khả thi của
nó. Danh mục các cơ sở, máy móc, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn
và vệ sinh lao động do Bộ Lđ-TB và XH vỡ Bộ Y tế ban hành.
- Khi triển khai thực hiện các dự án, chủ đầu tư phải thực hiện đúng các luận chứng về an toàn
và vệ sinh lao động trong dự án đã được Hội đồng thẩm định dự án chấp thuận.
- Người sử dụng lao động phải định kỳ kiểm định, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà
xưởng và định kỳ đo đạc các yếu tố vệ sinh lao động tại nơi làm việc và thực hiện các biện pháp
bảo đảm người lao động luôn luôn được làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh lao động

viên và vệ sinh viên.
- Xây dựng mới, bổ sung và hoàn thiện các nội quy an toàn - vệ sinh lao động, quy trình vận
hành phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật ưt, dây chuyền công nghệ. Định kỳ kiểm tra, kiểm
định độ an toàn của máy, thiết bị theo tiêu chuẩn quy định, đồng thời có biện pháp khắc phục
kịp thời những thiếu sót được phát hiện ngay sau khi kiểm tra, kiểm định.
b/Quyền hạn
- Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội dung, biện pháp an toàn, vệ sinh lao
động.
- Khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm thực hiện an toàn, vệ
sinh lao động.
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của thanh tra viên an toàn lao động nhưng
phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó.
2. Đối với người lao động:
a/Nghĩa vụ:
- Chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc và nhiệm vụ
được giao.
- Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang bị cấp phát, các thiết
bị an toàn, vệ sinh nơi làm việc, nếu làm mất mác hoặc hư hỏng thì phải bồi thường.
- Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tại nạn lao động,
bênh nghề nghiệp hoặc các sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao
động.
b/ Quyền hạn
-Yêu cầu bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động cũng như
được cấp các thiết bị cá nhân, được huấn luyện biện pháp an toàn lao động.
-Từ chối các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe
dọa nghiờm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực
tiếp; sẽ không tiếp tục làm việc nếu như thấy nguy cơ đó vẫn chưa được khắc phục.
- Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi sử dụng lao động vi phạm quy
định của Nhà nước hoặc không thực hiện các giao kết về an toàn, vệ sinh lao động trong hợp
đồng hoặc thoả ước lao động tập thể.

- Người lao động được nghỉ về việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp
sau đây: Kết hôn nghỉ 3 ngày; con kết hôn, nghỉ một ngày; Bố mẹ (cả bên vợ và bên chồng)
chết, vợ hoặc chồng chết, con chết, nghỉ 3 ngày.
2. Quy định về an toàn – vệ sinh lao động
a/ Lập luận chứng an toàn - vệ sinh lao động
- Việc xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giử và
tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ
sinh lao động, phải có luận chứng về các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động
đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật.
- Việc sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng
lượng, điện, hoá chất, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được thực hiện
theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động. Phải được khai báo, đăng ký và xin cấp giấy
phép với cơ quan thanh tra nhà nước về an toàn lao động hoặc vệ sinh lao động.
b/ Bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị
xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động
được hưởng chế độ bao hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng lương cho người lao
động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động. Trường hợp do lỗi của người
lao động, thì cũng được trở cấp một khoản tiền ít nhất bằng 12 tháng lương.
3. Quy định đối với lao động nữ, lao động vị thành niên, lao động tàn tật
a. Đối với lao động nữ
- Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc
phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ. Phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về
tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
- Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Không được sử dụng lao
động nữ có thai từ tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng làm thêm giờ, làm việc ban
đêm và đi công tác xa. Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng được nghỉ mỗi ngày 60 phút.
- Nơi có sử dụng lao động nữ phải có chổ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ.

- Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất
- Nghiên cứu các biến đổi sinh lí, sinh hóa trong cơ thể
- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý
- Nghiên cứu các biện pháp đề phòng tình trạng mệt mỏi trong lao động, hạn chế ảnh hưởng của
các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đó.
- Quy định các tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ vệ sinh xí nghiệp và người lao động
- Tổ chức khám tuyển và sắp xếp người lao động hợp lý vào các bộ phận khác nhau trong xí
nghiệp.
- Quản lý theo dỏi tình trạng sức khỏe người lao động, tổ chức khám định kỳ, phát hiện sớm
bệnh nghề nghiệp
2.1.2. Các tác hại nghề nghiệp
Các tác hại nghề nghiệp có thể phân thành mấy loại sau;
a/ Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất
Các yếu tố vật lý và hóa học:
- Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất không phù hợp như nhiệt độ, độ ẩm cao hoặc thấp, thoáng
khí kém, cường độ bức xạ nhiệt quá mạnh
- Bức xạ điện từ, bức xạ cao tần và siêu cao tần và siêu cao tần trong khoảng sóng vô tuyến, tia
hồng ngoại, tử ngoại…các chất phóng xạ và tia phóng xạ như α, β, γ…
- Tiếng ồn và rung động.
- Áp suất cao, (thợ lặn, thợ làm trong thùng chìm) hoặc áp suất thấp (lái máy bay, leo núi…).
- Bụi và các chất độc hại trong sản xuất
Các yếu tố sinh vật:
Vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và các nấm mốc gây bệnh
b/ Tác hại liên quan đến tổ chức lao động
- Thời gian làm việc liên tục và quá lâu, làm việc liên tục không nghỉ, làm thông ca….
- Cường độ lao động quá cao không phù hợp với tình trạng sức khỏe công nhân.
- Chế độ làm việc, nghỉ ngơi không hợp lý
- Làm việc với tư thế gò bó, không thoải mái như: cúi khom, vặn mình, ngồi, đứng quá lâu.
- Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và giác quan như hệ thần kinh,
thị giác, thính giác…

4, Bệnh nhiễm độc benzen và đồng đẳng của benzen
5, Bệnh nhiễm độc thủy ngân và các hợp chất của thủy ngân
6, Bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của mangan
7, Bệnh nhiễm các tia phóng xạ và tia X
8, Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn
9, Bệnh bụi phổi do bông
10, Bệnh rung nghề nghiệp
11, Bệnh sạm da nghề nghiệp
12, Bệnh viêm loét dạ dày, loát vách ngăn mũi, viêm da chàm tiếp xúc
13, Bệnh lao nghề nghiệp
14, Bệnh viêm gan do virus nghề nghiệp
15, Bệnh leptospira
16, Bệnh nhiễm độc TNT (trinitrotoluen)
17, Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất của asen nghề nghiệp
18, Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp
19, Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp
20, Bệnh giảm áp nghề nghiệp
21, Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp
22, Bệnh hen phế quản nghề nghiệp
23, Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp
24, Bệnh nốt dấu nghề nghiệp
25, Bệnh loát da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp
2.1.4. Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp
a/ Biện pháp kỹ thuật công nghệ
Cần cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ như: Cơ giới hóa, tự động hóa, dùng những chất không
độc hoặc ít độc thay dần những hợp chất có tính độc cao.
b/ Biện pháp kỹ thuật vệ sinh
Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh như cải tiến hệ thống thông gió, hệ thống chiếu sáng…vv nơi
sản xuất cũng là những biện pháp góp phần cải thiện điều kiện làm việc.
c/ Biện pháp phòng hộ cá nhân

- Khi mệt mỏi, người lao động cảm giác khó chịu, buồn chán công việc. Nếu được nghỉ ngơi,
các biểu hiện trên mất dần, khả năng lao động được phục hồi.
- Nếu mệt mỏi kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng quá mệt mỏi thì không còn là hiện tượng sinh lý
bình thường mà đã chuyển sang tình trạng bệnh lý do sự tích chứa mệt mỏi làm rối loạn các
chức năng thần kinh và ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.
b. Nguyên nhân gây ra mệt mỏi trong lao động:
- Lao động thủ công nặng nhọc và kéo dài, giữa ca làm việc không có thời gian nghỉ ngơi hợp
lý.
- Những công việc có tính chất đơn điệu, kích thích đều đều gây buồn chán.
- Thời gian làm việc quá dài.
- Nơi làm việc có nhiều yếu tố độc hại như tiếng ồn, rung chuyển quá lớn, nhiệt độ ánh sáng
không hợp lý
- Làm việc ở tư thế gò bó: đứng ngồi bắt buộc, đi lại nhiều lần
- Ăn uống không đảm bảo khẩu phần về năng lượng cũng như về sinh tố, các chất dinh dưỡng
cần thiết
- Những người mới tập lao động hoặc nghề nghiệp chưa thành thạo
- Bố trí công việc quá khả năng hoặc sức khoẻ mà phải làm những việc cần gắng sức nhiều
- Do căng thẳng quá mức của cơ quan phân tích như thị giác, thính giác.
- Tổ chức lao động thiếu khoa học.
- Những nguyên nhân về gia đình, xã hội ảnh hưởng đến tình cảm tư tưởng của người lao động.
c. Biện pháp đề phòng mệt mỏi trong lao động:
- Cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất. Đây không những là biện pháp quan
trọng để tăng năng suất lao động, mà còn là những biện pháp cơ bản đề phòng mỏi mệt.
-Tổ chức lao động khoa học, tổ chức dây chuyền lao động và ca kíp làm việc hợp lý để tạo ra
những điều kiện tối ưu giữa con người và máy, giữa con người và môi trường lao động
- Cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm loại trừ các yếu tố có hại.
- Bố trí giờ giấc lao động và nghỉ ngơi hợp lý, không kéo dài thời gian lao động nặng nhọc quá
mức quy định, không bố trí làm việc thêm giờ quá nhiều.
- Coi trọng khẩu phần ăn của người lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp lao động thể lực.
- Rèn luyện thể dục thể thao, tăng cường nghỉ ngơi tích cực.

Điều lệ vệ sinh quy định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của công nhân về mùa hè là
30
0
C và không được vượt quá từ 3-5
0
C.
b/ Bức xạ nhiệt: là những sóng điện từ như: tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại. Bức
xạ nhiệt do các vật thể đen được nung nóng phát ra. Khi nung tới 500
0
C chỉ phát ra tia hồng
ngoại, nung nóng đến 1800-2000
0
C còn phát ra tia sáng thường và tia tử ngoại, nung nóng tiếp,
lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều.
Về mặt sinh lý, cường độ bức xạ nhiệt được biểu thị bằng cal/m
2
phút và được đo bằng nhiệt kế
cầu hoặc actinometre, ở các xưởng rèn, đúc, cán thép có cường độ bức xạ nhiệt tới 5-
10kal/m
2
.phút (tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1kcal/m2.phút).
c/ Độ ẩm: Là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng g/m
3
kk hoặc bằng sức trương
hơi nước tính bằng mm thủy ngân.
Về mặc vệ sinh thường lấy độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối ở một thời
điểm nào đó so với độ ẩm tối đa để biểu thị mức độ cao hay thấp. Điều lệ vệ sinh quy định độ
ẩm tương đối nơi sản xuất ở trong khoảng 75-85%.
d/ Vận tốc chuyển động không khí: Được biểu thị bằng m/s. Theo Sacbazan giới hạn trên của
vận tốc chuyển động không khí không vượt quá 3m/s, trên 5m/s gây kích thích bất lợi cho cơ

C là cơ thể có sự tích nhiệt. Thân nhiệt ở
38,5
0
C

được coi là nhiệt báo động.
Chuyển hóa nước: Cơ thể người hằng ngày có sự cần bằng giữa lượng nước ăn uống vào và thải
ra; ăn uống vào từ 2,5 -3 lít và thải ra ngoài khoảng 1,5 lít qua thận; 0,2 lít qua phân, lượng còn
lại theo mồ hôi và hơi thở ra ngoài.
Làm việc trong điều kiện nóng bức, lượng mồ hôi có khi tiết 5-7 lít trong một ca làm việc, trong
đó mất đi một lượng muối ăn khoảng 20gam, một số muối khoáng gồm Na, K, Ca, Fe, I và một
số sinh tố C, B1, PP. Do mất nước nhiều, tỷ trọng máu tăng lên, tim phải làm việc nhiều để thải
lượng nhiệt thừa của cơ thể (chuyển 1 lít máu ra ngoài làm mất đi 2,5kcal). Vì thế nước qua
thận còn 10-15% so với mức bình thường, nên chức năng của thận bị ảnh hưởng. Mặt khác, do
mất nước nhiều nên phải uống bổ sung nên làm cho dịch vị bị loảng ra, làm mất cảm giác thèm
ăn và ăn mất ngon, chức năng thần kinh bị ảnh hưởng làm giảm sự chú ý, giảm phản xạ, kéo dài
thời gian phản ứng nên dẫn tới dễ bị tai nạn.
Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp đôi so với mức bình thường. Rối
loạn bênh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và chứng co giật, làm cho con
người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng. Thân nhiệt có thể lên hơn 37
0
C, mạch
nhanh, nhịp thờ nhanh. Trường hợp nặng cơ thể bị choáng, mạch nhỏ, thở nông.
b/ Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh
Khi nhiệt độ môi trường giảm, chuyển hóa năng lượng tăng lên để chống lạnh. Nếu nhiệt độ
môi trường tiếp tục lạnh, năng lượng sẽ bị cạn kiệt, cơ thể sẽ bị nhiễm lạnh. Lạnh làm cho cơ
thể mất nhiệt nhiều, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ oxy tăng. Lạnh làm cho các cơ vân, cơ
trơn co lại gây hiện tượng nổi da gà, các mạch máu co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tay, vận
động khó khăn. Trong điều kiện vi khí hậu lạnh dễ xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh,
viêm khớp, viêm phế quản, hen và một số bệnh mãn tính khác do máu lưu thông kém và sức đề

Sắp xếp các nhà phân xưởng nóng trên mặt bằng xí nghiệp phải sao cho sự thông gió tốt nhất,
nên xen kẻ các phân xưởng nóng với phân xưởng mát.
Cần chú ý hướng gió trong năm khi bố trí các phân xưởng nóng, tránh ánh nắng trời chiếu vào
phân xưởng qua các cửa. Xung quanh các phân xưởng nóng phải thoáng gió. Có lúc cần bố trí
các thiết bị nhiệt vào một khu vực xa nơi làm việc của công nhân.
- Thông gió:
Trong các phân xưởng tỏa nhiều nhiệt (như các thiết bị tỏa nhiều nhiệt, nhiều người làm việc…)
cần có các hệ thống thông gió (sẽ trình bày ở phần sau)
- Làm nguội:
Bằng cách phụn nước hạt mịn để làm mát, làm ẩm không khí, quần áo người lao động, ngoài ra
còn có tác dụng làm sạch bụi trong không khí. Để cách nhiệt, người ta có thể dùng màn chắn
bằng nước cách li nguồn nhiệt với xung quanh. Màn chắn nước thường được bố trí trước cửa lò.
Màn nước dày 2mm có thể hấp thụ được 80-90% năng lượng bức xạ. Nước để phun phải dùng
nước sạch (nước dùng để ăn), độ mịn các hạt bụ nước khoảng 50-60 μm và đảm bảo sao cho độ
ẩm nằm trong khoảng 13-14g/m3. Có nhiều thiết bị tỏa nhiệt cần phải dùng vòi tắm khí để giảm
nhiệt, vận tốc gió phụ thuộc nhiệt độ môi trường.
Người ta quy định dòng không khí tắm thay đổi thay đổi theo nhiệt độ không khí như sau:
Vận tốc gió (m/s) Nhiệt độ không khí (
0
C)
• 25-30
• 27-33
• >33
- Thiết bị và quá trình công nghệ:
Trong các phân xưởng nhà máy nóng, độc cần được tự động hóa và cơ khí hóa, điều khiển và
quan sát từ xa để làm giảm nhẹ lao động và nguy hiểm cho công nhân. Đưa những ứng dụng
các thiết bị truyền hình vào điều khiển và quan sát từ xa.
Có thể giảm nhiệt trong nhà máy có thiết bị tỏa nhiệt lớn bằng cách giảm sự thất thoát nhiệt vào
môi trường. Để đạt mục đích đó cần dùng các biện pháp cách nhiệt cho các biện pháp tỏa nhiệt
như:

uống ít một. Theo kinh nghiệm của người Việt, chúng ta có thể có nhiều thức uống thảo mộc
như chè xanh, rau má, rau sam…có pha thêm muối ăn có tác dụng giải khát khá tốt, trong đó
nước rau muống trội hơn cả, ngoài việc duy trì cân bằng nước trong cơ thể còn bồi bổ cho cơ
thể, một lít nước rau má thường chứa 1g ion kali và 30mg sinh tố C.
b/ Các biện pháp phòng hộ chống vi khí hậu lạnh
Ở nước ta, nhất là miền Bắc mùa đông lạnh cần phải để phòng cảm lạnh do bị mất nhiều nhiệt,
vì vạy đầu tiên là phải đủ quần áo ấm, quần áo nên xốp ấm và thoải mái. Bảo vệ chân tay cần có
ủng, giày ấm, găng tay ấm, phải chú ý giử khô. Nếu lao động trong điều kiện vi khí hậu nóng
cần chế độ ăn uống tốt thì trong điều kiện vi khí hậu lạnh lại phải cần chú ý chế độ ăn đủ calo
chi cho lao động và chống rét. Khầu phần ăn cần những chất giàu năng lượng như dầu mỡ (nên
đạt 35-40%).
2.3. Tiếng ồn và rung động
2.3.1. Khái niệm về tiếng ồn và rung động
a/ Tiếng ồn
Tiếng ồn là những âm thanh gây khó chịu, quấy rối sự làm việc và nghỉ ngơi của con người.
Về mặt vật lý, âm thanh là dao động sóng trong môi trường đàn hồi (khí lỏng rắn) gây ra bởi sự
dao động của các vật thể, và được cơ quan cảm giác thính giác hấp thu.
Trong không khí tốc độ âm thanh là 343 m/s, còn trong nước là 1450 m/s.
Tần số âm thanh: Mỗi âm anh được đặc trưng một tần số dao động nhất định. Tần số âm thanh
là số lần dao động trong một giây, được đo bằng Hz,
Tai người có thể cảm nhận được tần số từ 16 Hz đến 20.000 Hz.
- Dưới 16 Hz gọi là hạ âm.
- Trên 20.000 Hz gọi là siêu âm
Dưới 16 Hz, hoặc trên 20.000Hz tai người không nghe được
Cường độ âm: (biên độ), mỗi âm thanh đều có một năng lượng âm nhất định, năng lượng này
phụ thuộc vào biên độ dao động của sóng trên đường truyền âm. Về mặt vật lý, cường độ âm
thanh có đơn vị đo là erg/cm
2
s hoặc w/cm
2

• Tiếng ồn thống kê: Do tổ hợp nhiều loại các âm khác nhau về cường độ và tần số trong
phạm vi từ 16-20.000 Hz.
Nếu có n nguồn ồn có cường độ như nhau thì mức ồn tổng cộng sẽ là
L
Σ
= L
I
+ 10lgn (dB)
• Tiếng ồn có âm sắc: Tiếng ồn có âm đặc trưng
• Theo môi trường truyền âm: Có tiếng ồn kết cấu là khi vật thể dao động tiếp xúc trực tiếp
với kết cấu như máy, đường ống, nền nhà…Còn tiếng ồn lan truyền hay tiếng ồn không khí là
nguồn âm không có liên hệ với một kết cấu nào cả.
• Theo đặc tính: Tiếng ồn cơ khí (trường hợp trục bị rơ mòn), tiếng ồn va chạm (rèn, dập),
tiếng ồn không khí (khí chuyển động với tốc độ cao như động cơ phản lực chẳng hạn), tiếng nổ
hoặc xung (động cơ diegel hoạt động).
• Theo dải tần số: Tiếng ồn tần số cao (f> 1000 Hz), tiếng ồn tần số trung bình (f= 300-
1000 Hz), và tiếng ồn tần số thấp (f<300 Hz)
Dưới đây là các trị số gần đúng vè mức ồn một số nguồn. Dùng phương pháp so sánh có thể tìm
được mức ồn của các nguồn khác nhau
Tiếng ồn va chạm dB
Xưởng rèn 98
Xưởng gò 113-114
Xưởng đúc 112
Xưởng tán 117
Xưởng nồi hơi 99
Tiếng ồn cơ khí dB
Máy tiện 93-96
Máy khoan 114
Máy bào 97
Máy đánh bóng 108

sau khi rời nơi ồn, thính giác mới phục hồi lại được.
+Nếu tác dụng của tiếng ồn lặp lại nhiều lần, thính giác không còn khả năng phục hồi hoàn toàn
về trạng thái bình thường được, sự thoái hoá dần dần sẽ phát triển thành những biến đổi có tính
chất bệnh lý gây ra bệnh nặng tai và điếc.
- Đối với hệ thần kinh trung ương:
+Tiếng ồn cường độ trung bình và cao sẽ gây kích thích mạnh đến hệ thống thần kinh trung
ương, sau 1 thời gian dài có thể dẫn tới huỷ hoại sự hoạt động của dầu não thể
hiện đau đầu, chóng mặt, cảm giác sợ hãi, hay bực tức, trạng thái tâm thần không ổn
định, trí nhớ giảm sút
- Đối với hệ thống chức năng khác của cơ thể:
+ Ảnh hưởng xấu đến hệ thông tim mạch, gây rối loạn nhịp tim.
+ Làm giảm bớt sự tiết dịch vị, ảnh hưởng đến co bóp bình thường của dạ dày.
+ Làm cho hệ thống thần kinh bị căng thẳng liên tục có thể gây ra bệnh cao huyết áp.
+ Làm việc tiếp xúc với tiếng ồn quá nhiều, có thể dần dần bị mệt mỏi, ăn uống sút kém và
không ngủ được, nếu tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến bệnh suy nhược thần kinh và cơ thể.
b/ Ảnh hưởng của rung động
- Khi cường độ nhỏ và tác động ngắn thì sự rung động này có ảnh hưởng tốt như tăng lực bắp
thịt, làm giảm mệt mỏi,
- Khi cường độ lớn và tác dụng lâu gây khó chịu cho cơ thể. Những rung động có tần số thấp
nhưng biên độ lớn thường gây ra sự lắc xóc, nếu biên độ càng lớn thì gây ra lắc xóc càng mạnh.
Tác hại cụ thể:
• Làm thay đổi hoạt động của tim, gây ra di lệch các nội tạng trong ổ bụng, làm rối
loạn sự hoạt động của tuyến sinh dục nam và nữ.
• Nếu bị lắc xóc và rung động kéo dài có thể làm thay đổi hoạt động chức năng
của tuyến giáp trạng, gây chấn động cơ quan tiền đình và làm rối loạn chức năng giữ thăng bằng
của cơ quan này.
• Rung động kết hợp với tiếng ồn làm cơ quan thính giác bị mệt mỏi quá mức dẫn
đến bệnh điếc nghề nghiệp.
• Rung động lâu ngày gây nên các bệnh đâu xương khớp, làm viêm các hệ thống
xương khớp. Đặc biệt trong điều kiện nhất định có thể phát triển gây thành bệnh rung động

xương sọ quanh tai.
Ngoài ra để chống rung động người ta sử dụng các bao tay có đệm đàn hồi, giầy (ủng) có đế
chống rung
e/ Chế độ lao động hợp lý:
- Những người làm việc tiếp xúc nhiều với tiếng ồn cần được bớt giờ làm việc hoặc có thể bố trí
xen kẽ công việc để có những quãng nghỉ thích hợp.
- Không nên tuyển lựa những người mắc bệnh về tai làm việc ở những nơi có nhiều tiếng ồn.
- Khi phát hiện có dấu hiệu điếc nghề nghiệp thì phải bố trí để công nhân được ngừng tiếp xúc
với tiếng ồn càng sớm càng tốt.
2.4. Thông gió và chiếu sáng
2.4.1. Thông gió trong sản xuất
a/ Mục đích của thông gió công nghiệp:
Môi trường không khí có tính chất quyết định đối với việc tạo ra cảm giác dễ chịu, không bị
ngột ngạt, không bị nóng bức hay quá lạnh.
Trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp nguồn tỏa độc hại chủ yếu do các thiết bị và
quá trình công nghệ tạo ra. Môi trường làm việc luôn bị ô nhiểm bởi các hơi ẩm, bụi bẩn, các
chất khí do hô hấp thải ra và bài tiết của con người: CO
2
, NH
3
, hơi nước Ngoài ra còn các chất
khí khác do quá trình sản xuất sinh ra như CO, NO
2
, các hơi axít, bazơ
Thông gió trong các xí nghiệp nhà máy sản xuất có 2 nhiệm vụ chính sau:
- Thông gió chống nóng: Thông gió chống nóng nhằm mục đích đưa không khí mát, khô ráo
vào nhà và đẩy không khí nóng ẩm ra ngoài tạo điều kiện vi khí hậu tối ưu. Tại những vị trí thao
tác với cường độ cao, những chỗ làm việc gần nguồn bức xạ có nhiệt độ cao người ta bố trí
những hệ thống quạt với vận tốc gió lớn (2-5m/s) để làm mát không khí.
- Thông gió khử bụi và hơi độc: ở những nơi có tỏa bụi hoặc hơi khí có hại, cần bố trí hệ thống

+ Hệ thống hút cục bộ: Dùng để hút các chất độc hại ngay tại nguồn sản sinh ra chúng và thải ra
ngoài, không cho lan toả ra các vùng chung quanh trong phân xưởng. Đây là biện pháp thông
gió tích cực và triệt để nhất để khử độc hại (ví dụ các tủ hóa nghiệm, bộ phận hút bụi đá mài, bộ
phận hút bụi trong máy dỡ khuôn đúc ).
c/ Lọc sạch khí thải trong công nghiệp
Trong các xí nghiệp nhà máy sản xuất ví dụ các như máy sản xuất hóa chất, các nhà máy luyện
kim v.v thải ra một lượng khí và hơi độc hại đối với sức khoẻ con người và động thực vật. Vì
vậy để đảm bảo môi trường trong sạch, các khí thải công nghiệp trước khi thải ra bầu khí quyển
cần được lọc tới những nồng độ cho phép.
Có các phương pháp làm sạch khí thải sau:
+ Phương pháp ngưng tụ: chỉ áp dụng khi áp suất hơi riêng phần trong hỗn hợp khí cao, như
khi cần thông các thiết bị, thông van an toàn. Trước khi thải hơi khí đó ra ngoài cần cho đi qua
thiết bị để làm lạnh. Phương pháp này không kinh tế nên ít được sử dụng.
+ Phương pháp đốt cháy có xúc tác: để tạo thành CO
2
và H
2
O có thể đốt cháy tất cả các chất
hữu cơ, trừ khí thải của nhà máy tổng hợp hữu cơ, chế biến dầu mỏ v.v
+ Phương pháp hấp phụ: thường dùng silicagen để hấp thụ khí và hơi độc. Cũng có thể dùng
than hoạt tính các loại để làm sạch các chất hữu cơ rất độc. Phương pháp hấp phụ được sử dụng
rộng rãi vì chất hấp phụ thường dùng là nước, sản phẩm hấp thụ không gây nguy hiểm nên có
thể thải ra theo cống rãnh. Những sản phẩm có tính chất độc hại, nguy hiểm cần phải tách ra,
chất hấp phụ sẽ làm hồi liệu tái sinh.
Để lọc sạch bụi trong các phân xưởng người ta thường dùng các hệ thống thiết bị dạng đĩa tháp,
lưới, đệm, xiclo hoặc phân ly tĩnh điện…
2.4.2. Chiếu sáng trong sản xuất
Trong sản xuất, chiếu sáng cũng ảnh hưởng nhiều tới năng suất lao động. Ánh sáng chính là
nhân tố ngoại cảnh rất quan trọng đối với sức khoẻ và khả năng làm việc của công nhân. Trong
sinh hoạt và lao động con mắt đòi hỏi phải được chiếu sáng thích hợp. Chiếu sáng thích hợp sẽ

Với chùm tia sáng đa sắc không liên tục thì:
Với chùm tia sáng đa sắc liên tục thì:
Quang thông của đèn dây tóc nung 100 w khoảng 1600 lm, còn đèn dây tóc nung loại 60 w
khoảng 850 lm.
+ Cường độ sáng (I):
Quang thông của một nguồn sáng nói chung phân bố không đều theo các phương do đó để đặc
trưng cho khả năng phát sáng theo các phương khác nhau của nguồn người ta dùng đại lượng
cường độ sáng I.
Cường độ sáng theo phương n là mật độ quang thông bức xạ phân bố theo phương n đó.
Cường độ sáng I
n
là tỷ số giữa lượng quang thông bức xạ dФ trên vi phân góc khối dω theo
phương n:
Đơn vị đo cường độ ánh sáng là candela (cd). Candela là cường độ ánh sáng đo theo phương
vuông góc với tia sáng của mặt phẳng bức xạ toàn phần có diện tích 1/600.000 m
2
, bức xạ như
một vật bức xạ toàn phần (ở nhiệt độ 2046
0
K) tức là nhiệt độ đông đặc của platin dưới áp suất
101.325 N/m
2
.
Cường độ sáng của một vài nguồn sáng như sau:
Nến trung bình: I ≅ 1 cd
Đèn dây tóc 60W: I ≅ 68 cd
Đèn dây tóc 100W: I ≅ 128 cd


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status