ĐIỆN NÃO ĐỒ CĂN BẢN doc - Pdf 20

ĐIỆN NÃO ĐỒ CĂN BẢN THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Dòng điện xuất phát từ não đương nhiên là không đủ mạnh để dịch chuyển kim
ghi điện não đồ, nên có bộ khuyếch đại (EEG amplifiers). Mặt khác cũng cần có
bộ lọc (EEG filters) để lọc các giao động điện xuất phát từ tim, cơ và từ môi
trường bên ngoài. Bộ lọc chỉ cho phép những hoạt động điện có tần số trong một
khoảng giới hạn (frequency range) định sẵn là được ghi nhận vào máy điện não,
những hoạt động điện nào có tần số cao hơn hoặc thấp hơn khoảng giới hạn đó, sẽ
bị lọc ra.
Máy điện não đồ dùng bộ lọc tần số (pass-filter): mức dưới là 0,5 Hz, mức trên là
70 Hz. Như vậy những giao động có tần số cao hơn 70 Hz sẽ được ghi thành
đường thẳng. Có tài liệu nói rằng mức lọc dưới (low pass filter) nên là 0,16 Hz hay
thậm chí thấp hơn nữa.
Ở độ khuyếch đại 106 (trong khi điện tim ECG là 103), trên bản ghi điện não đồ
EEG chiều cao 1 mm sẽ tương ứng với 10 microV. Ta thấy các sóng ở vùng trán
thường có biên độ thấp, khoảng 20-30 microV, và ở vùng chẩm có biên độ thường
cao hơn, khoảng 30-60 microV.
Trên điện não đồ, khi đường biểu diễn đi lên, ta gọi là dương, và khi đi xuống thì
gọi là âm.
Các điện cực dùng trong điện não đồ thường là những đĩa kim loại, da đầu chỗ đặt
điện cực được bôi kem dẫn điện, trước đó người ta hay tẩy sạch da đầu bằng chất
bột tẩy da. Để làm sạch chất bẩn, người ta cũng có thể dùng cồn làm sạch chất mỡ
nhờn trên da đầu, sao cho điện trở giữa da đầu với điện cực không vượt quá một
ngưỡng nào đó, thường là không quá 5 Kilo-Ohms. Nếu làm sạch da đầu tốt, cũng
có thể không dùng kem dẫn điện trên điện cực ghi, mà dùng miếng xốp tẩm dung
dịch muối. Người ta cũng hay dùng loại mũ cao su có gắn sẵn điện cực, và đặt
trùm lên đầu người bệnh.
Phòng ghi điện não đồ: là phòng có lưới chắn bảo vệ tránh ảnh hưởng của điện
trường và từ trường bên ngoài. Tuy nhiên những máy móc hiện đại có thể giúp ta


Hệ thống đặt điện cực ghi 10-20 quốc tế (international 10-20 system) để ghi điện
não. Có 3 đường nối chính: 1- nốì 2 ống tai ngoài (thực ra là ngay trước tai -
preauricular points), 2- nối gốc mũi với ụ chẩm ngoài, cả 2 đường nối này đều đi
qua đỉnh sọ, và 3- đường chu vi của sọ kết nối 2 điểm tận cùng nhất trên sọ. Ba
đường này được chia theo tỷ lệ 10-20-20-20-20-10%, theo cả trục trực giao (2
đường vuông góc), lẫn theo vòng tròn chu vi, theo kiểu chia đôi các điểm nối. Khi
nghiên cứu giấc ngủ, có thể người ta không dùng hết các vị trí ghi này, và chỉ đặt
điện cực ở một số vị trí: trên hình vẽ là những chỗ có vòng tròn đen.
Thông thường chúng ta sẽ dùng một bộ 21 điện cực gắn trên da đầu theo hệ thống
đặt điện cực 10-20 của quốc tế (the 10-20 International System).
Ta lấy các điểm mốc sau đây:
- Điểm gốc mũi (nasion), nằm giữa 2 chân lông mày (glabella).
- Điểm chẩm (inion). - Ống tai ngoài 2 bên.
Với các k ý hiệu sau đây:
- F là trán (Frontal).
- O là chẩm (Occipital).
- C là trung tâm (Central). - P là đỉnh (Parietal).
Đánh số lẻ nếu là bên trái, và số chẵn nếu là bên phải.
Nối 2 điểm gốc mũi và chẩm với nhau, ta có đường dọc giữa. Ta chia chiều dài
của đường này theo tỷ lệ %: điểm cách gốc mũi 10% là F0 (hay Fpz), cách tiếp
theo 20% nữa là Fz, tiếp 20% nữa là Cz. Cz chính là điểm chính giữa đỉnh đầu,
tiếp sau nó 20% là Pz. Cách điểm chẩm 10% (tức cách Pz 20%) là O0 (hay còn gọi
Oz).
Nối 2 ống tai ngoài với nhau, ta được một đường cắt ngang đường dọc giữa ở
điểm Cz. Các ống tai ngoài 10% bên trái là T3, bên phải là T4. Cách thêm 20%
(chính giữa T3 hay T4 với Cz) là C3 (bên trái) và C4 (bên phải).
Vẽ đường đồng tâm với đường chu vi của đầu, nối các điểm mốc phía ngoài nhất:
Fpz-T3-Oz-T4. Trên đường (gần như là đường tròn) này, cũng chia theo tỷ lệ %
như vậy. Cách 10% phía trước có Fp1 bên trái và Fp2 bên phải, sau đó 20% là F7

ghi EEG, nhưng lại không phản ánh đúng biên độ điện thế thực sự. Như đã nêu ở
trên, cách ghi đơn cực là nối mỗi một điện cực hoạt động trên mạng với điện cực
đối chiếu, còn cách ghi lưỡng cực là nối 2 điện cực hoạt động với nhau.
Bổ xung mới:
Hệ thống đặt điện cực 10-20 quốc tế, được đề nghị vào năm 1958, hiện được dùng
rộng rãi, và được coi là phương pháp chuẩn (standard method) để ghi điện não trên
da đầu (scalp EEG). Gần đây Hội điện não Hoa Kỳ (The American EEG Society)
tán thành một biến đổi nhỏ trong danh pháp theo số và chữ cái nguyên thủy. Trong
đó, trước đây là T3, T4, T5 and T6 thỉ nay chuyển thành T7, T8, P7 và P8. Cải tiến
này nhằm làm tăng phạm vi đặt điện cực đã chuẩn hóa vào trong vùng dưới thái
dương - subtemporal region (ví dụ: F9, T9, P9, F10, T10, P10) và chỉ rõ tên của vị
trí điện cực nằm ở đường vòng trung gian, giữa các đường vòng chuẩn (ví dụ:
AF7, AF3, FT9, FT7, FC5, FC3, FC1, TP9, TP7, CP5, CP3, CP1, PO7, PO3 và
v.v.). Những điện cực đặt thêm và gần sát nhau hơn, cách đặt thêm điện cực ở
chính giữa các điện cực tiêu chuẩn của hệ thống đặt điện cực 10-20, tất cả những
cách đặt thêm điện cực như vậy thường sẽ giúp cho định khu các bất thường tốt
hơn (ví dụ định khu ổ phát sóng dạng động kinh - epileptiform discharges ở bệnh
nhân bị động kinh cục bộ - partial seizures). Cũng có một vài kiểu điện cực được
chế để ghi hoạt động điện ở thùy thái dương. Các điện cực xương bướm
(sphenoidal electrodes) cũng đặc biệt hữu ích để phát hiện các phóng điện bất
thường ở thái dương giữa nền não (mediobasal temporal discharges), chúng được
găm vào phía dưới khuyết xương hàm dưới (mandibular notch) – khoảng 2.5 tới 3
cm phía trước của gờ bình tai (tragus), và hướng theo hướng lên trên và ra sau về
phía lỗ bầu dục (foramen ovale). Các điện cực xương bướm này hiện nay tỏ ra ưu
việt hơn so với các điện cực mũi họng (nasopharyngeal electrodes), và có thể dùng
cách dẫn đường bằng huỳnh quang (fluoroscopic guidance) để đảm bảo là chúng
đã tiến sát. Điện cực gò má trước (anterior "cheek" electrodes) đặt trên xương hàm
trên và khoảng 2 cm trước chổ găm điện cực xương bướm, và điện cực thái dương
trước (anterior temporal electrodes) đặt ở 1 cm phía trên của điểm nối 1/3 của
khoảng cách từ ống tai ngoài (external auditory meatus) cho tới đuôi mắt (external

Berger (Berger rhythm) nhằm vinh danh ông. Các sóng này thường có biên độ
khoảng 50 microvolts (mặc dù cũng có thể giao động từ 5 tới 100 microvolts) và
xuất hiện 8-13 lần trong 1 giây (8-13 Hertz). Sóng này thấy rõ nhất ở phần phía
sau của não người, vốn là nơi xử l ý các tín hiệu thị giác, tức là vùng chẩm
(occipital region). Vì vậy, đôi khi người ta còn gọi nhịp alpha là nhịp trội ở phía
sau (the posterior-dominant rhythm). Sóng alpha trở nên rõ nhất khi ta nhắm mắt
lại. Nó bị triệt tiêu khi ta mở mắt. Như vậy sóng alpha là dấu hiệu cho biết não
đang ở tình trạng không chú ý (inattentive brain), và đang chờ để được kích thích.
Thực tế là có một vài tác giả đã gọi nó là “nhịp chờ đợt” ("waiting rhythm"). Nói
một cách hình ảnh, ta có thể hình dung nó như là một người đang sốt ruột chờ đợi,
với biểu hiện nhịp 2 chân hay gõ ngón tay trên mặt bàn, chờ đợi được vùng đứng
dậy làm một việc gì đó. Khi mà không còn phải chờ đợi nữa (bằng cách mở mắt
hay tính nhẩm trong đầu), thì sóng alpha cũng biến mất.
Ở các phần vùng trán của não (frontal region), có một sóng nhanh hơn, gọi là sóng
beta (beta wave). Nó xuất hiện 13-35 lần trong 1 giây, nhưng có biên độ dưới 30
microvolts. Còn một loại sóng khác nữa, gọi là sóng theta (theta wave), thì có tần
số 4-8 Hz, và thường thấy khi đang trong tình trạng buồn ngủ và trong các giai
đoạn ngủ nông (light stages of sleep). Dạng sóng thứ tư là sóng delta (delta wave)
thì hiếm khi ghi được trên người bình thường đang thức tỉnh, nhưng bình thường
vẫn thấy khi ngủ sâu (deep sleep) hoặc vào lúc tỉnh giấc của trẻ nhỏ. Sóng delta là
sóng có biên độ cao nhất trong tất cả các sóng điện não. Nói chung nếu nó xuất
hiện trên một người lớn (trừ khi đang ngủ) thì chứng tỏ não có vấn đề nào đó: ví
dụ u não, động kinh, tăng áp lực nột sọ, khiếm khuyết về trí tuệ, hay hôn mê. Khi
đã xuất hiện, thì nó có khuynh hướng thay thế cho nhịp alpha. Cả sóng beta lẫn
sóng delta đều không bị ảnh hưởng bởi mở mắt hay nhắm mắt.
Chi tiết: Tần số của sóng tức là số lượng của sóng đó trong một đơn vị thời gian, ở
đây là trong 1 giây. Tần số của các sóng điện não ở vào khoảng từ 0,5/giây cho tới
vài trăm/giây. Tuy nhiên các máy ghi EEG thường chỉ ghi được các sóng có tần số
dưới 26/giây.
Các sóng được phân biệt bởi tần số, và được chia thành các loại sau:

encephalopathy), bệnh não nước (hydrocephalus) hay tổn thương đường giữa
trong sâu (deep midline lesions). Nó thường trội nhất ở vùng trán ở người lớn (ví
dụ FIRDA - Frontal Intermittent Rhythmic Delta – sóng delta có nhịp cách hồi ở
vùng trán) và phân bố trội ở các vùng phía sau trên trẻ em (ví dụ OIRDA -
Occipital Intermittent Rhythmic Delta - sóng delta có nhịp cách hồi ở vùng chẩm).
XÁC ĐỊNH SÓNG DỰA VÀO HÌNH DẠNG
Có một số sóng có hình dạng đặc trưng, bất kể là tần số của chúng là như thế nào,
và do vậy có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng của chúng.Ngoài ra, có thể có
1 cặp hoặc 1 nhóm các sóng có hình dạng đặc trưng. Một ví dụ về những sóng có
hình dạng đặc trưng là các gai (spikes) và các sóng nhọn (sharp waves) – các sóng
này có đường dốc lên gấp tới đỉnh rồi dốc xuống tương đối đột ngột, như vậy nền
(cạnh đáy) của sóng tương đối nhỏ so với biên độ (chiều cao) của sóng.
Có một số sóng có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng, bao gồm 2 loại chính
sau đây:
1. Những sóng có hình dạng đặc biệt
2. Những phức bộ sóng có hình dạng đặc biệt
Những sóng có thể nhận biết được nhờ vào hình dạng bao gồm: các gai (spikes)
hoặc sóng chậm (slow waves). Các gai là những só có nền (cạnh đáy) hẹp trong
khi có biên độ (amplitude - chiều cao) tương đối cao, tạo cho sóng có hình dạng
cao và hẹp với 1 đỉnh nhọn. Sóng nhọn là sóng có đáy hơi rộng hơn một chút so
với các gai, nhưng nghĩa thì cũng giống hệt – nó là chỉ điểm cho thấy có hoạt
động điện gây cơn kịch phát (seizure activity) và nó gợi có phóng điện hay hoạt
động điện đồng bộ đa ổ (multiple synchronous firing or activity) của các đuôi gai
của tế bào thần kinh (dendrites). Sóng nhọn được coi là biểu hiện của một ổ phóng
điện ở cách vị trí ghi một khoảng nào đó, còn gai được coi là do ổ phóng điện nằm
rất gần với vị trí ghi.
CÁC DẠNG SÓNG PHỨC HỢP (complex wave pattern):
Các dạng sóng có tính đặc hiệu do hình dạng của chúng bao gồm:
Gai và sóng (spike and wave): Dạng gai và sóng thấy có ở mọi lứa tuổi, nhưng
thường nhất là ở trẻ em.

xu hướng khá dần lên.
Các sóng 3 pha (triphasic waves): Sóng 3 pha là 3 sóng tạo viền cho mầu trắng
trên hình minh họa. Chúng thường xuất hiện khi có các hoạt động điện giả cơn
kịch phát (pseudoparoxysmal activity).

Các sóng này thấy có trong bệnh não do gan (hepatic encephalopathy), nhưng
cũng có thể thấy trong các dạng bệnh não do chuyển hóa khác.
Bùng nổ và ức chế (burst supression):

Bùng nổ và ức chế là một dạng bùng nổ các sóng chậm và hỗn hợp (mixed waves)
thường với biên độ cao, và xen kẽ luân phiên bằng đường đẳng điện. Thường là có
ở cả hai bên, nhưng không phải lúc nào cũng cân đối 2 bên. Loại sóng này thường
thấy sau một tổn thương não nặng, như sau đột quỵ thiếu máu não (postischemia),
hay sau trạng thái thiếu oxy (postanoxia). Cũng có thể thấy tạm thời (thoáng qua)
trong gây mê sâu, ở trạng thái trước khi EEG trở nên đẳng điện hoàn toàn.
NHIỄU (ARTIFACTS)
Nhiễu là những sóng hoặc những nhóm các sóng do lỗi kỹ thuật hoặc do các lỗi
khác gây ra, và không phải do hoạt động điện của não gây ra. Nhiễu là các rối loạn
do khiếm khuyết kỹ thuật gây ra, thường đó là những lỗi có tính tạm thời. Bao
gồm do di động các điện cực làm cho mất tiếp xúc, các hoạt động điện của cơ che
khuất điện não đồ, do cử động của đầu, chầy xước da đầu, ra mồ hôi, v.v…

Nếu ta dùng độ phóng đại lớn, thì tất cả các biến loạn kể trên đều được phóng đại
lên, bao gồm các nhiễu của mạch và điện tâm đồ, của điện cực và các cử động,
nhiễu 60 Hz và nhiễu do mồ hôi, là loại nhiễu biểu hiện có dung dịch muối nằm
giữa các điện cực làm cho nó bị đoản mạch.
Nhiễu do điện tâm đồ và do mạch (EKG and pulse artifacts): Cả 2 loại nhiễu này
đều có thể nhận biết được nhờ vào tính chất có chu kỳ của chúng.

Nhiễu điện tâm đồ cho thấy rõ phức bộ QRS theo chu kỳ, vì điện tâm đồ thì có tín


Chúng xuất hiện ở khu vực phía sau và cân xứng hai bên. POSTS là biểu hiện của
“sóng dương thoáng qua ở chẩm của giấc ngủ (positive occipital transients of
sleep) và xuất hiện trong giấc ngủ giai đoạn 2. Lambda xuất hiện ở bệnh nhân tỉnh
táo khi nhìn trừng trừng vào một bề mặt trắng. Cả hai loại này đều là dạng sóng
bình thường, và xuất hiện đơn độc, hay kéo dài, hay thành một chuỗi ngắn.
Phức bộ K:

phức bộ K (K Complexes) xuất hiện khi đang ngủ mà bị đánh thức – ta thấy nó khi
có kích thích âm thanh hay các kích thích khác khi bệnh nhân đang ngủ. Tiếp sau
phức bộ K thường có đáp ứng thức tỉnh – cụ thể là một chuỗi các sóng theta có
biên độ cao. Tiếp sau phức bộ K, điện não đồ lại cho thấy biểu hiện giấc ngủ, hoặc
trạng thái thức tỉnh.
Sóng V (V Waves): Sóng V xuất hiện ở vùng cạnh dọc giữa (parasaggital areas)
của 2 bán cầu và có dạng một sóng nhọn

(sharp waves) hoặc thậm chí là dạng gai (spikes), ở khu vực lưỡng đỉnh (biparietal
regions), tức là đỉnh đầu (vertex), với pha ngược đảo nhau tại đường giữa, ở những
đạo trình bắc ngang (tranverse montages) hoặc ở đỉnh sọ trên các đạo trình trước -
sau (front-to-back). Các sóng này thấy có trong giấc ngủ giai đoạn 2 (stage 2
sleep), cùng với các thoi (spindles), phức bộ K, POSTS, v.v
Hoạt động điện MU (MU activity):

hoạt động điện Mu là dạng nhịp trong đó các sóng có hình nhọn giống như hình
rào chắn (wicket fence) với đỉnh nhọn và chân cong tròn. Giữa 2 kênh, nhịp Mu có
thể có pha nghịch đảo nhau. Tần số nói chung vào khoảng một nửa của hoạt động
điện nhanh hiện có.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status