GIỚI THIỆU VỀ CÁC LOẠI KHOÁNG
A – KHOÁNG LÀ GÌ?
ĐỊNH NGHĨA
-Thành phần hóa học của chất sống ngoài nước (60-80% trọng lượng cơ thể),
các hợp chất hữu cơ như protein, lipid, glucid, vitamin, acid nucleic còn có
các hợp chất vô cơ như các dạng muối Ca, Na, K, Cl
-
, PO
4
3-
… mà người ta
gọi là chất khoáng.
-Thành phần khoáng của động vật và thực vật là phần còn lại sau các quá
trình oxy hóa do nhiệt (nung ở nhiệt độ cao) hay do phản ứng hóa học (acid
HNO
3
hay HCl). Phần khoáng còn lại này thường được gọi là tro (Ash).
-Bản chất hóa học của khoáng là các nguyên tố thuộc bảng phân loại tuần
hoàn. Chỉ có 78 nguyên tố là được tìm thấy trong mô bào của động vật và
người. Trong đó, chỉ một số nguyên tố là cần thiết, chức năng sinh học đã
được xác định (Macrominerals – Ca, P, Mg, Na, K, Cl, S, Fe, Cr, Cu, Mo,
Mn, Zn, Fe…), một số nguyên tố tuy hàm lượng rất nhỏ nhưng độc tính lại
cao (Toxic metals – Cd, Hg, Pb, Ag…), còn lại giữ vai trò và chức năng
gìvẫn chưa được khám phá(Newer trace minerals - Si, B, V, As, Sn, …).
PHÂN LOẠI - VAI TRÒ - CHỨC NĂNG
1. Phân loại:
*Có thể chia khoáng làm 2 nhóm:
-Nguyên tố chính (nguyên tố đa lượng): Ca, P, K, Cl,Na, Mg… là những
nguyên tố tồn tại trong cơ thể với hàm lượng lớn hơn 5g, mức độ cần thiất
trong các bữa ăn vượt quá 100mg/ngày. Khoáng đa lượng chiếm 80-90%
tổng lượng khoáng.
* Các loại khoáng đối kháng:
+Nhiều loại khoáng đa lượng hay vi lượng là đối kháng với các loại khoáng
về khả năng hấp thụ tại ruột (một lượng lớn Cu trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm
hấp thụ Fe bệng do thiếu hụt Fe)
+Một số hợp chất hữu cơ có thể làm giảm (như chất xơ, acid oxalic, acid
phytid…),hay tăng khả năng hấp thụ chất khoáng (acid amin, acid citric, acid
lactid, một số loại cacbon hydrat…)
NGUỒN GỐC & SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC LOẠI KHOÁNG
1) Nguồn gốc:
-Hầu hết các loại khoáng (đa lượng, vi lượng, không cơ bản, độc) được đưa
vào cơ thể qua thức ăn có nguồn gốc từ đất (thực vật, rau, trái, hạt…)
-Một lượng ít hơn được cung cấp từ nước (nước khoáng)
-Một lượng ít hơn được hấp thu qua phổi từ không khí (bụi, khói…)
2) Sự cần thiết của khoáng đối với cơ thể:
-Nếu quá trình cung cấp các loại khoáng không đủ so với nhu cẩu sẽ dẫn đến
các triệu chứng bệnh lý (thiếu máu do thiếu Fe, Cu; còi xương, loãng xương
do thiếu Ca, P; bướu cổ do thiếu Iot)
-Mỗi loại khoáng có một giới hạn riêng của mình và sẽ trở thành độc tố nếu
mức cung cấp vượt quá xa giới hạn cho phép, vượt quá khả năng bài tiết,
khử độc của hệ tiêu hóa và bài tiết. Hầu hết các loại khoáng đều có thể gây ra
một vài độc tố nếu mức cung cấp thừa.
• Sự hấp thụ khoáng:
-Các loại khoáng cũng như dẫn xuất, phức hợp của chúng không được cơ thể
hấp thụ giống nhau về cơ chế cũng như về mức độ.
-Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, giống loài, sức khỏe, trạng thái, dinh dưỡng,
chế độ ăn uống đều có ảnh hưởng đến sự hấp thụ khoáng và khả năng chuyển
hóa của chúng.
-Khoáng có giá trị sinh học khi được hấp thụ từ thức ăn qua thành ruột, sau đó
chúng đi vào hệ thống chuyên hóa và được vận chuyển bằng một loại protein
giáp đến lúc nó tham gia tạo nên thyroxin. Tóm lại, thiếu iod làm tuyến giáp không sản xuất
được chất thyroxin, tuyến sẽ phản ứng bằng cách phồng to ra, đó là bướu cổ. Hàm lượng iod
trong mỗi lít huyết tương là 0.10 – 0.20 mg, nếu giảm còn 0.05 mg sẽ xuất hiện bệnh. Vậy :
• Iod giúp bạn điều chỉnh quá trình trao đổi chất và cho phép cơ thể bạn tạo ra nhiều
hormone ở tuyến giáp Thiếu hụt Iod sẽ làm giảm khả năng hoạt động của tuyến giáp và
quá trình trao đổi chất bị chậm lại. Ngoài ra, iod còn có tác dụng tốt trong các quá trình
bảo vệ cơ thể (miễn dịch, thực bào…)
• Thiếu iod còn gây ra nhiều rối loạn khác nhau: bướu cổ, rối loạn bệnh lý khác như
sảy thai, thai chết lưu, khuyết tật bẩm sinh, thiểu nǎng trí tuệ, đần độn,cơ thể chậm phát
triển, mệt mỏi, giảm khả nǎng lao động.
• Hiện nay, trên thế giới có khoảng một tỷ rưỡi người sống trong vùng thiếu iod và
có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iod. Trong đó 655 triệu người có tổn thương não và
11,2 triệu người bị đần độn.
• Việt nam là một nước nằm trong vùng thiếu iod. Tỷ lệ thiếu iôt rất cao và phổ biến
toàn quốc từ miền núi đến đồng bằng. Trên những vùng thực hiện tốt chương trình phòng
chống bướu cổ thì tỷ lệ bệnh giảm đi đáng kể. Lượng iod tối ưu cho cơ thể người trường
thành là 200 mcg/ngày, giới hạn an toàn là 1000 mcg/ngày.
• Khi cơ thể bị thiếu iod, tuyến giáp làm việc nhiều hơn để tổng hợp thêm nội tiết tố
giáp trạng nên tuyến giáp to lên, gây ra bướu cổ. Bướu cổ là cách thích nghi của cơ thể để
bù lại một phần thiếu iod, khi có kích thước to có thể chèn ép đường thở, đường ǎn uống
gây ra các vấn đề ảnh hưởng cho sức khỏe.
• Thiếu iod ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây ra sẩy thai tự nhiên, thai chết
lưu, đẻ non. Khi thiếu iod nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn.
Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm,
mắt lác. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn trong cả cuộc đời, hiện nay y học chưa chữa
được.
• Thiếu iod trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm
lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Trong một số trường hợp nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt
cứng hai chân. Trẻ bị thiếu iod không thể đạt kết quả tốt trong học tập. Thiếu iod ở người
lớn gây ra bướu cổ với các biến chứng của nó như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả
11 – 51
150
Nữ 11 – 51 150
Mang thai
Cho bú
175
200
3) Nguồn cung cấp:
• Iod có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc từ biển : cá, hải sản, các loài rau tảo
biển
• Thức ăn là nguồn cung cấp iod chủ yếu cho cơ thể: khoảng 60% từ các thực phẩm
nguồn gốc thực vật, 30% từ đạm động vật, còn lại là từ nước uống và không khí
• Cần bổ sung chất này qua muối iod và thực phẩm, nhất là loại có nguồn gốc từ
biển. Sau đây là lượng iod có trong 100 g thực phẩm: