1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết, ý nghĩa của đề tài
Đất nước ta sau một thời gian dài nỗ lực đã có những bước tiến đáng kể trong
công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường
sôi động. Kể từ đó, hàng loạt các doanh nghiệp ra đời, tạo ra công ăn việc làm cho
hàng triệu lao động, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Một doanh nghiệp muốn đi vào hoạt động, muốn tiến từng bước vững chắc
trên thị trường, muốn tạo ra tăng trưởng thì yếu tố không thể thiếu là vốn. Doanh
nghiệp cần phải có đủ vốn để đảm bảo các xây dựng cần thiết, máy móc và thiết bị,
mua nguyên vật liệu, đáp ứng các chi phí quảng cáo, tiêu thụ, trả lương cho nhân
công và trang trải cho vô số các loại chi phí phát sinh khác. Như vậy có thể nói, vốn
là máu của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho mỗi doanh
nghiệp.
Có hai nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động, đó là vốn tự có và vốn đi
vay.
Tuy nhiên, nếu ở thời điểm 30 năm trở về trước, doanh nghiệp hoạt động dưới
sự bảo trợ của Nhà nước, mọi nhu cầu về vốn đều được Nhà nước chu cấp. Còn
trong bối cảnh ngày nay với những chuyển biến không ngừng và áp lực cạnh tranh
mạnh mẽ, doanh nghiệp phải tự đối mặt với những nhu cầu vốn phát sinh, những
khó khăn cũng như rủi ro trong việc huy động và sử dụng vốn. Một trong những vấn
đề làm đau đầu các nhà quản trị doanh nghiệp là cơ cấu vốn của doanh nghiệp như
thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay ngân hàng bao nhiêu, phát hành trái phiếu
hay huy động vốn qua thị trường chứng khoán .v.v.
Hiện nay, do khó khăn chung, hiện trạng thiếu vốn là rất phổ biến, nguồn vốn
của hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ -
thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam, luôn ở trong tình trạng
thiếu hụt, quá nhỏ bé so với nhu cầu hoạt động kinh doanh, hoặc được sử dụng
không triệt để, không thu được lợi ích tối ưu… Từ đó tạo áp lực không nhỏ cho quá
trình hoạt động sản xuất, phát triển của doanh nghiệp.
3
Việt Nam hiện nay. Công ty kinh doanh, chế biến thực phẩm từ thủy hải sản cũng là
đặc thù sản xuất kinh doanh của tỉnh Khánh Hòa.
Thời gian nghiên cứu: Sử dụng các số liệu kinh doanh từ năm 2009 đến năm
2011.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào lý luận của việc xây dựng cấu trúc
vốn, chi phí sử dụng vốn.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đã đưa ra giải pháp để xây dựng được cơ cấu vốn
tối ưu cho Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang và chúng ta có thể vận dụng
phương pháp này cho các công ty cổ phần hiện nay ở Việt Nam nói chung và Khánh
Hòa nói riêng.
5
Cấu trúc vốn có quan hệ gần gũi với một khái niệm khác của tài chính là lãi
suất. Do việc tính toán tài chính có quan điểm coi mức rủi ro giữa vốn chủ sở hữu
và vốn vay khác nhau, tỉ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi
nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp. Chẳng hạn một
doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sở hữu và quá nhiều vốn vay thì rủi ro thường sẽ
cao hơn nhiều do giới kinh doanh nhận định rằng sức ép chi trả các trách nhiệm tài
chính có thể có tác động tiêu cực lên các quyết định quản lý của ban giám đốc và
tình trạng tài chính của doanh nghiệp.
1.1.3 Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn
1.1.3.1 Nguồn vốn vay
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không doanh nghiệp nào có thể hoạt
động sản xuất kinh doanh chỉ với nguồn vốn tự có. Vốn hoạt động của doanh
nghiệp được huy động từ nhiều nguồn, trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ tương
đối đáng kể.
Nguồn vốn vay là nguồn vốn được tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh
nghiệp phải trả các khoản vay đúng thời hạn cam kết, đồng thời phải trả lãi vay theo
mức lãi suất thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang ý nghĩa quan trọng đối với việc mở
rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó giúp doanh
nghiệp giải quyết nhu cầu vốn hoạt động, dễ dàng tiếp cận hơn tới các công nghệ kỹ
thuật mới, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, cải
tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong cấu trúc vốn, ta chỉ xét tới nguồn vốn vay trung và dài hạn. Nguồn vốn
vay này có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, các ngân hàng, hoặc thông
qua hình thức phát hành trái phiếu.
Việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay này nhiều hay ít còn phụ thuộc vào
loại hình doanh nghiệp, loại hình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đang ở chu kỳ
sản xuất nào…
1.1.3.2 Nguồn vốn chủ sở hữu
7
doanh nghiệp, giá trị của doanh nghiệp sẽ được tối đa hóa. Do đó, cấu trúc vốn có
chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu.
Một doanh nghiệp có thể có cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài
chính phù hợp, như vậy có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng
sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn
thuế).
Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ yêu
cầu mức sinh lợi cao hơn (r
e
). Mặc dù vậy sự gia tăng r
e
lúc đầu cũng không hoàn
toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn, cho đến khi
nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi, khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ
không còn nữa. Tình hình này được mô tả ở đồ thị (xem hình 1.1). (Hình 1.1)
Nhìn vào đồ thị ta thấy rằng lúc đầu r
e
tăng khi tỷ lệ đòn bẩy gia tăng trong khi
chi phí sử dụng nợ vay r
d
không đổi và do hưởng được lợi ích từ tấm chắn thuế khi
gia tăng sử dụng nợ nên chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) giảm.
Nhưng khi đòn bẩy tài chính gia tăng đến điểm X nào đó thì WACC tăng lên,
do rủi ro tăng lên khiến cho r
e
hưởng không tốt tới thu nhập và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.
Rủi ro có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như: khủng hoảng
kinh tế, chính trị; thiên tai; sự thay đổi các chính sách của Nhà nước; đình công …
hoặc từ các nguyên nhân chủ quan như: nhà quản lý yếu kém, đưa ra những dự báo,
những quyết định sai lầm; sai sót của thành viên trong doanh nghiệp …
1.2.1.2 Phân loại rủi ro:
9
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp khó có thể tránh khỏi rủi ro, những
rủi ro ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được chia
làm 2 loại: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Rủi ro kinh doanh: Là sự không chắc chắn về mức thu nhập trong tương
lai. Rủi ro kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên ảnh
hưởng trực tiếp tới doanh lợi của doanh nghiệp. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khách quan hơn là yếu tố chủ quan, do đó rất khó kiểm soát, tuy nhiên, nếu các nhà
quản lý đưa ra những lựa chọn và quyết định đầu tư sáng suốt thì vẫn có thể hạn chế
rủi ro tới mức thấp nhất. Để làm được điều này, các nhà quản lý phải am hiểu những
nhân tố nào gây ảnh hưởng tới mức độ rủi ro trong kinh doanh, không được bỏ qua
dù là những dự báo tưởng chừng là an toàn nhất. Một số nhân tố tiêu biểu:
- Sự không chắc chắn về mức cầu trong tương lai, do xu hướng của thị
trường hoặc thị phần của doanh nghiệp thay đổi;
- Sự thay đổi giá cả của các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lương người
lao động … dẫn đến sự thay đổi giá cả đầu ra của các sản phẩm của doanh nghiệp;
- Sự thay đổi về mức độ cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt
động;
- Sự phát triển về công nghệ (tỷ trọng biến phí và định phí trong tổng chi phí
hoạt động của doanh nghiệp).
Để hạn chế rủi ro kinh doanh do các yếu tố nêu trên gây ra, ta có thể thấy việc
xây dựng một cấu trúc chi phí hợp lý có vai trò rất quan trọng. Nhà quản lý phải
xem xét và dự đoán các tình huống làm ảnh hưởng tới mức sinh lợi, từ đó điều
nghiệp đối với các khoản chi phí cố định khi sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay.
Có 3 loại đòn bẩy doanh nghiệp:
- Đòn bẩy kinh doanh DOL (Đòn cân định phí);
- Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn cân nợ);
- Đòn bẩy tổng hợp DTL (Đòn cân tổng hợp).
1.2.2.1 Đòn bẩy kinh doanh DOL – Degree Operating Leverage:
Khái niệm:
11
DOL =
Tỷ lệ % thay đổi EBIT
Tỷ lệ % thay đổi của doanh thu (Q)
DOL
=
Q*(P – V)
Q*(P – V) – F
Đòn bẩy kinh doanh, hay còn gọi là đòn bẩy hoạt động, đòn cân định phí, là sự
đánh giá phạm vi mà chi phí cố định được sử dụng trong việc điều hành doanh
nghiệp.
Đòn bẩy kinh doanh phản ảnh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Đòn bẩy sẽ cao trong các doanh nghiệp có chi phí cố định lớn hơn chi phí biến
đổi và ngược lại. Một doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh cao thì chỉ cần một thay
đổi nhỏ của doanh thu hoặc sản lượng sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận trước thuế và
lãi vay của doanh nghiệp (EBIT), nghĩa là lợi nhuận của doanh nghiệp rất nhạy cảm
với thị trường khi sản lượng thay đổi.
Hay:
Trong đó:
DOL: Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh;
tăng lên. (Nguồn: Saga.vn)
Phân tích hòa vốn:
Điểm hòa vốn (break even point) là điểm mà tại đó, doanh thu bán hàng hoặc
cung ứng dịch vụ bằng mức chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, cũng có nghĩa là tại
điểm hòa vốn, doanh nghiệp có lợi nhuận hoạt động bằng 0. Điểm hòa vốn được
xác định dựa trên những giả định sau:
- Giá bán không đổi;
- Biến phí đơn vị không đổi và tổng biến phí tăng tỷ lệ theo khối lượng sản
xuất, tiêu thụ;
- Tổng định phí không đổi.
Những giả định trên được sử dụng trong những phân tích ngắn hạn, tức là
trong điều kiện quy mô sản xuất đã được xác lập và giá không đổi. Giới hạn sản
13
Sản lượng hòa vốn Qo
=
Tổng định phí (F)
Giá bán (P) - Biến phí (v)
lượng là công suất thiết kế tối đa, nếu sản lượng tăng vượt mức công suất tối đa thì
tất cả các giả định trên không còn phù hợp nữa vì lúc này tổng định phí sẽ tăng và
biến phí cũng có thể thay đổi.
Trong ngắn hạn, quy mô hay công suất hoạt động của một doanh nghiệp đã
được thiết lập, chi phí cố định là chi phí không thay đổi theo số lượng sản xuất hay
tiêu thụ. Chi phí cố định bao gồm các loại chi phí như khấu hao, bảo hiểm, một bộ
phận chi phí điện nước và một bộ phận chi phí quản lý. Chi phí biến đổi là chi phí
thay đổi khi số lượng sản phẩm sản xuất hay tiêu thụ thay đổi, chẳng hạn như chi
phí nguyên vật liêu, lao động trực tiếp, một phần chi phí điện nước, hoa hồng, một
phần chi phí quản lý hành chính.
Trong kinh doanh chúng ta phải đầu tư chi phí cố định, còn hoạt động tiêu thụ (Hình 1.2)
Nhận xét:
Khi sản lượng đạt mức Q
o
thì tổng chi phí tương ứng là TC
o
, doanh thu là S
o
,
đây là điểm hòa vốn của doanh nghiệp. Nằm ngoài điểm hòa vốn, ta có 2 trường
hợp:
- Khi đường tổng chi phí TC nằm bên trên đường doanh thu S, chứng tỏ với
mức sản lượng Q
1
bán ra, doanh nghiệp không bù đắp được tổng chi phí nên bị lỗ.
Đó gọi là “khoảng lỗ” của doanh nghiệp.
- Khi đường TC năm bên dưới đường S, chứng tỏ với mức sản lượng Q
2
bán
ra, doanh nghiệp đã bù đắp được tổng chi phí và thu được lợi nhuận. Đó gọi là
“khoảng lãi” của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của việc phân tích điểm hòa vốn của doanh nghiệp:
- Giúp doanh nghiệp lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp với quy mô thị trường,
đồng thời lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro do sự biến động sản
lượng tiêu thụ sản phẩm. Nếu quy mô thị trường nhỏ hoặc có nhiều đối thủ cạnh
tranh, một dự án có điểm hòa vốn thấp sẽ ít rủi ro hơn dự án có điểm hòa vốn cao.
- Giúp doanh nghiệp nhìn thấy được tác động của chi phí cố định và xác định
doanh thu tối thiểu mà doanh nghiệp cần vượt qua để bù đắp tổng chi phí đã bỏ ra,
từ đó thu về lợi nhuận hoạt động.
Chú ý:
- Tại điểm hòa vốn, độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh không xác định;
- Sản lượng tiêu thụ càng vượt xa điểm hòa vốn thì rủi ro càng giảm.
Phân tích độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh:
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL) của một doanh nghiệp sẽ tiến đến cực
đại khi sản lượng của doanh nghiệp tiến gần đến sản lượng hòa vốn Q
o
.
Đòn bẩy kinh doanh dùng các chi phí hoạt động cố định làm điểm tựa: khi một
doanh nghiệp sử dụng các chi phí hoạt động cố định, một thay đổi trong doanh thu
sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn trong thu nhập trước thuế và lãi
vay (EBIT). Tác động của việc sử dụng các chi phí cố định này được gọi là độ
nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL).
DOL đánh giá tỷ lệ % thay đổi EBIT khi doanh thu thay đổi 1%.
Qua công thức trên ta thấy định phí đóng vai trò quan trọng trong việc khuếch
đại lợi nhuận cũng như rủi ro của doanh nghiệp. Định phí càng cao thì độ nghiêng
đòn cân định phí càng lớn, kéo theo sự gia tăng nhanh của EBIT; ngược lại, nếu
doanh thu giảm thì EBIT cũng giảm đi rất nhanh. Do đó cần phải xác định rõ ràng
phương hướng tăng giảm của doanh số để xác định một tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh
thích hợp.
Sản lượng càng gần với sản lượng hòa vốn thì độ nghiêng của đòn cân định phí
càng tạo nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, lúc này doanh nghiệp có nguy cơ rơi vào
khoảng “lỗ”. Như vậy để giảm thiểu rủi ro kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có
biện pháp nhằm tăng sản lượng vượt càng xa sản lượng hòa vốn càng tốt.
Điều này không có nghĩa là doanh nghiệp cần phải giảm định phí và tăng sản
lượng để giảm thiểu rủi ro. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, doanh
16
17
DFL =
Tỷ lệ % thay đổi EPS (ROE)
Tỷ lệ % thay đổi EBIT
DFL
=
EBIT
=
Q*(P - V) - F
EBIT - I
Q*(P - V) – F - I
Phân tích độ nghiêng đòn bẩy tài chính:
Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ vay và cổ
phần ưu đãi trong tổng vốn của doanh nghiệp cao. Đòn bẩy tài chính càng cao, lợi
nhuận của các cổ đông càng cao, tuy nhiên rủi ro cũng càng lớn. Để đo lường mức
độ tác động của đòn bẩy tài chính lên cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, người ta
dùng chỉ tiêu độ nghiêng của đòn bẩy tài chính.
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa tốc độ thay đổi của
lợi nhuận trên mỗi cổ phần (ROE hay EPS) với tốc độ thay đổi của lợi nhuận trước
thuế và lãi vay (EBIT).
Hay:
Trong đó:
DFL: Độ nghiêng đòn bẩy tài chính;
EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu;
theo sự thay đổi của EBIT, rồi EBIT thay đổi kéo theo sự thay đổi của doanh lợi
vốn chủ sở hữu.
Trên cơ sở mối quan hệ đó, ta kết hợp sự tác động của 2 đòn bẩy trên và tạo
nên đòn bẩy tổng hợp.
Khái niệm:
Đòn bẩy tổng hợp là tỷ lệ thay đổi của thu nhập trên số cổ phần (EPS) hay thu
nhập trên vốn cổ phần (ROE) do sự thay đổi của sản lượng hay doanh thu tiêu thụ.
Xác định độ lớn đòn bẩy tổng hợp:
Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy tổng hợp lên hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, người ta dùng chỉ tiêu độ nghiêng của đòn bẩy tổng hợp.
19
Độ nghiêng của đòn bẩy tổng hợp đánh giá mức độ nhạy cảm của EPS (ROE)
đối với sự thay đổi của sản lượng (Q), hay doanh thu tiêu thụ (S).
DTL = Mức độ ảnh hƣởng của DFL * Mức độ ảnh hƣởng của DOL
Hay:
Trong đó:
DFL: Độ nghiêng đòn bẩy tài chính;
DOL: Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh;
DTL: Độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp;
EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu;
EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay;
I : Interest - lãi vay phải trả;
Q: Sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ;
P: Giá bán cho mỗi đơn vị sản phẩm;
V: Biến phí cho mỗi đơn vị sản phẩm;
F: Tổng định phí chưa có lãi vay.
Điều này có nghĩa là chỉ cẩn doanh số bán ra tăng hay giảm 1% thì làm cho thu
nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) tăng hay giảm 1% x DTL.
1.2.3 Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và đòn bẩy tài chinh
Q*(P – V) – F – I
20
ROA (Tỷ suất thu
nhập trên tài sản)
=
Lợi nhuận ròng
Tổng tài sản
ROE (Tỷ suất thu
nhập trên vốn chủ
sở hữu)
=
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Vốn cổ phần thường
EPS (Thu nhập trên
mỗi cổ phiếu)
=
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Số cổ phần đang lưu hành
Các doanh nghiệp thường sử dụng đòn bẩy tài chính để tăng thu nhập cho cổ
đông, nhưng việc gia tăng lợi nhuận này sẽ kéo theo gia tăng rủi ro. Để thấy được
tác động của đòn bẩy tài chính đối với thu nhập và rủi ro của cổ đông, chúng ta xem
Tổng tài sản
10.000.000
10.000.000
10.000.000
Nợ (%nợ * tổng tài sản)
0
3,000,000
6.000.000
Vốn cổ phần (tổng tài sản - nợ)
10.000.000
7.000.000
4.000.000
Giá mỗi cổ phần
50
50
50
Số lượng cổ phần
200.000
140.000
80.000
Trong từng phương án, để xác định được số lượng cổ phần cần có, ta lấy vốn
cổ phần chia cho giá mỗi cổ phần. Giá bán mỗi cổ phần được cố định là 50 USD.
Các chỉ số được tính theo các công thức sau:
21
BÁO CÁO THU NHẬP
Trường hợp 1: Công ty A có EBIT là 2.000.000 USD, tức ROA = 20%.
Bảng 1.2: Phân tích các chỉ số theo trường hợp 1
Chỉ tiêu
PA
9,11
13,13
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE)
15,00%
18,21%
26,25%
Từ bảng 1.2, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Với mức EBIT = 2.000.000 tương đương ROA = 20%, PA
3
là phương án đem
lại EPS và ROE cao nhất cho doanh nghiệp (EPS = 13.13 và ROE = 26.25%). Do
đó vì mục tiêu tối đa hóa thu nhập cho cổ đông, doanh nghiệp chắc chắn chọn PA
3
.
PA
3
có mức đòn bẩy tài chính cao nhất (60%) là phương án tốt nhất vì khi sử
dụng mức độ đòn bẩy này công ty đã đảm bảo điều kiện để nhận được mặt thuận lợi
của đòn bẩy tài chính là ROA > 0 và ROA > lãi vay r
d
(ROA = 20%, r
d
= 10%).
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 25%)
375.000
300.000
225.000
Lợi nhuận sau thuế (EAT)
1.125.000
900.000
675.000
Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)
5,63
6,43
8,44
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE)
11,25%
12,86%
16,88%
Phần trăm thay đổi của ROE
-25,00%
-29,41%
-35,71%
Từ bảng 1.3, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Trong trường hợp 1 cho thấy tác động của việc tăng mức độ đòn bẩy tài chính
từ 0 đến 30% lên 60% đã làm cho ROE tăng từ 15% lên 18,21% lên 26,25%, doanh
nghiệp hiện đang có ROA = 20% trong khi sử dụng đòn bẩy công ty chỉ trả chi phí
là 10%. Như vậy khi công ty sử dụng đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn, sai biệt
giữa ROA và r
d
tăng lên càng cao thì sẽ đem lại thu nhập cho cổ đông càng lớn.
Tuy nhiên việc sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính tạo ra sự gia tăng ROE
PA
3
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
600.000
600.000
600.000
Lãi vay (I)
0
300.000
600.000
Lợi nhuận trước thuế (EBT)
600.000
300.000
0
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 25%)
150.000
75.000
0
Lợi nhuận sau thuế (EAT)
450.000
225.000
0
Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)
2,25
1,61
0
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE)
4,50%
d
, khi đó nếu gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ
làm cho thu nhập của chủ sở hữu cao càng cao hơn nữa.
- Mặt khác, sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính có thể đưa cổ đông đến
một rủi ro lớn hơn nghĩa là khi ROA < r
d
, cùng với việc sử dụng đòn bẩy tài chính
24
EBIT
=
(EBIT – I) * (1 – T) – D
p
N
esẽ làm cho thu nhập của chủ sở hữu giảm thấp hơn nữa. Đặc biệt nghiêm trọng hơn
khi doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không có khả năng thanh toán lãi vay, như vậy
việc sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ khuếch đại lỗ lên rất nhiều và nhanh
chóng đưa doanh nghiệp đi đến phá sản.
Phân tích quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những phương
án tài trợ khác nhau đối với thu nhập trên mỗi cổ phần của cổ đông. Từ sự phân tích
này, chúng ta sẽ tìm một điểm bàng quan, còn gọi là điểm hòa vốn, tức là điểm có
giá trị EBIT mà ở đó mọi phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau.
Để minh họa phân tích quan hệ EBIT – EPS, chúng ta xem xét ví dụ: Doanh
nghiệp D có nguồn vốn dài hạn 15 triệu USD hoàn toàn từ nguồn vốn cổ phần
thường. Doanh nghiệp cần huy động thêm 5 triệu USD cho việc mở rộng sản xuất
kinh doanh nên đã xem xét 3 phương án huy động vốn:
CPT
Nợ
CPƢĐ
Lợi nhuận trước thuế là lãi (EBIT)
2.700,00
2.700.000
2.700.000
Lãi vay phải trả (I)
0
600.000
0
Lợi nhuận trước thuế (EBT)
2.700.000
2.100.000
2.700.000
Thuế thu nhập (thuế suất 25%)
675.000
525.000
675.000
Lợi nhuận sau thuế (EAT)
2.025.000
1.575.000
2.025.000
Cổ tức cổ phiếu ưu đãi (D
P
)
0
0
550.000
Lợi nhuận dành cho cổ đông thường