1
Mục Lục
Mục Lục 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA 5
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 5
I. Bản chất và hoạt động của công ty nhà nước 5
1. Khái niệm công ty nhà nước 5
2. Khái niệm công ty TNHH 1 thành viên 7
3. Đặc thù về ngành nghề và lĩnh vực hoạt động 8
II Sự cần thiết trong việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đối với
nhà nước 9
1. Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 9
2. Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp 10
III. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 11
1. Các tài liệu và phương pháp phân tích 11
2. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 13
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY 25
I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ SỞ TÀI CHÍNH KHÁNH HOÀ 25
1. Vài nét về Khánh Hoà 25
2. Vị trí và chức năng của sở tài chính Khánh Hoà 26
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của sở tài chính Khánh Hoà 27
4. Bộ máy tổ chức của sở tài chính Khánh Hoà 32
5. Các công ty TNHH 1 thành viên dưới sự quản lý của sở tài chính
Khánh Hoà 33
2
II. Phân tích tình hình tài chính của các công ty qua các tỷ số tài chính 34
1. Phân tích khả năng thanh toán 34
2. Phân tích tình hình hoạt động 48
nước đang trên đà hội nhập hiện nay, với nhiều thành phần kinh tế, với đa loại hình
công ty thì việc cạnh tranh, đứng vững và phát triển của công ty nhà nước là một
vấn đề mang một dấu hỏi lớn.
Trong đó công ty nhà nước (hiện nay mới chuyển đổi sang công ty TNHH 1
thành viên) đã đóng góp vào thu nhập cho quốc gia đồng thời còn thực hiện các
chức năng khác như an sinh xã hội, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ biên giới, an ninh
quốc phòng …Cũng bởi những trách nhiệm như vậy nên một số công ty hoạt động
công ích thành lập lên với nhiệm vụ cho cộng đồng là chính thì trong đề tài em xin
giới hạn trong giải pháp nâng cao khả năng tài chính đối với các công ty này.
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp vì nó phản ánh tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn các chỉ
tiêu tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Việc phân tích tình hình tài chính thường xuyên giúp cho các doanh nghiệp
và các cấp quản lý nắm rõ tình hình hoạt động tài chính của công ty, nhằm đưa ra
các quyết định quản lý chính xác và đánh giá được doanh nghiệp toàn diện.
Nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học ở giảng đường vào thực tiễn và
qua đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao khả năng tài chính của các công
ty nhà nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, nên em đã chọn đề tài “Phân tích tình
hình tài chính và các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của các công ty
TNHH 1 thành viên 100% vốn nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa”. 4
Chuyên đề gồm có 3phần:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp
Chương II: Phân tích tình hình tài chính của các công ty TNHH 1 thành viên
100% vốn NN
Chương III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các công
ty TNHH 1 thành viên 100% vốn NN
1.1 Khái niệm công ty nhà nước
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà Nước sở hữu trên 50% vốn điều
lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh
Nghiệp. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập,
tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp
sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát
triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn,
ngành lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao, hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế - xã hội đặc biệt khó khan mà các
thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc
quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những
ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp
lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của tổ chức chính phủ.
1.2 Các loại hình công ty nhà nước
Luật doanh nghiệp 2005 được Quốc hội khoá thông qua ngày 29/11/2005 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 2 luật:
Luật doanh nghiệp 2000 và luật doanh nghiệp nhà nước 2003. Luật doanh nghiệp
2005 ra đời là tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất
cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nó tạo ra sự công bằng
6
cho các doanh nghiệp, đồng thời buộc các doanh nghiệp nhà nước phải cố gắng hết
sức để có thể cạnh tranh với thị trường, với các doanh nghiệp khác.
Theo điều 166 khoản 1 luật doanh nghiệp nhà nước 2005 thì theo lộ trình
chuyển đổi các công ty nhà nước có thời hạn 4 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Như vậy kể từ ngày 01/07/2006 Luật này có hiệu lực, tức là ngày 30/06/2010 là
Cũng theo điều 63 LDN 2005 thì công ty TNHH 1 thành viên cũng có khái
niệm tương tự nhưng tổ chức, cá nhân làm chủ sở hữu ở đây là nhà nước hay đại
diện của nhà nước.
Đối với các công ty TNHH 1 thành viên 100% vốn nhà nước hoạt động và
chịu sự giám sát của nhà nước được quy định ở quyết định 224/2006/QĐ-TTg. Theo
đó:
Chủ sở hữu thực hiện giám sát thường xuyên, có hệ thống các hoạt động và
quản lý tài chính của doanh nghiệp để nắm bắt kịp thời, đầy đủ những thuận
lợi, khó khăn, những tồn tại của doanh nghiệp và có giải pháp khắc phục,
nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sử dựng vốn của doanh nghiệp
(Theo điều 6 khoản 2 QĐ 224/2006/QĐ-TTg)
Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện giám sát doanh nghiệp nhằm phát
hiện và xử lý kịp thời những vướng mắc và sai phạm trong việc chấp hành
các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại doanh nghiệp; đồng
thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa
đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật của Nhà nước (theo điều 7 khoản 2
QĐ 224/2006)
Doanh nghiệp có nghĩa vụ chấp hành và chịu sự giám sát của chủ sở hữu và
các cơ quan quản lý nhà nước giải trình quá trình hoạt động, công tác quản lý
8
tài chính và chấp hành chính sách,….cung cấp trung thực, đầy đủ và kịp thời
trong quá trình giám sát. Nhưng doanh nghiệp cũng được phép đề nghị giám
sát theo đúng quy chế giám sát đối với doanh nghiệp và có quyền từ chối các
cuộc kiểm tra không đúng quy định của pháp luật.
3. Đặc thù về ngành nghề và lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực hoạt động của các công ty là những lĩnh vực có tầm quan trọng đối
với quốc gia. Những lĩnh vực này mang những ý nghĩa và mục đích có tầm quốc gia
hơn là so với lợi nhuận thông thường.
Lĩnh vực công cộng: là các hoạt động kinh doanh mà mang lại lợi nhuận rất
Mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp là giúp những người sử dụng thông tin đánh giá được chính xác thực
trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp cũng như những rủi ro trong tương
lai, để từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh và quyết định đầu tư.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế của doanh
nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau, do vậy
mục đích của từng đối tượng sẽ khác nhau. Trong các đối tượng quan tâm đến tình
hình tài chính doanh nghiệp có thể kể đến như sau:
Các nhà quản lý
Các cổ đông hiện tại và tương lai
Những người tham gia vào “đời sống” kinh tế của doanh nghiệp
Những người cho doanh nghiệp vay tiền như: Ngân hàng , tổ chức tài chính,
người mua trái phiếu của doanh nghiệp , các doanh nghiệp khác,…
Nhà nước
Nhà phân tích
….
Các đối tượng sử dụng các thông tin khác nhau sẽ đưa ra các quyết định
với mục đích khác nhau.
1.2.1 Đối với doanh nghiệp
10
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm
hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, các nhà
quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu khác như tạo công ăn việc
làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ với chi phí thấp, đóng góp
phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường,… Tuy nhiên một doanh nghiệp chỉ thực hiện
được các mục tiêu này nếu đáp ứng được 2 mục tiêu cơ bản là kinh doanh có lãi và
thanh toán được nợ. Một doanh nghiệp kinh doanh lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt nguồn
lực và buộc phải đóng cửa, hoặc nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
nợ đến hạn thường xuyên bị buộc phải ngưng hoạt động.
tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
b, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ kế toán nhất
định của doanh nghiệp. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp
nhất về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm tàng về vốn, lao động, kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
c, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ kế toán nhất định của doanh
nghiệp. Dựa vào kết quả của báo cáo lưu chuyển tiền tệ người sử dụng có thể đánh
giá khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp và dự đoán
được các luồng tiền trong kỳ tiếp theo.
d, Thuyết minh báo cáo tài chính và các sổ chi tiết khác
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa
chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và
nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của
doanh nghiệp.
Các báo cáo chi tiết bổ sung cho tính chất hướng dẫn đối với doanh nghiệp
như báo cáo chi tiết giá thành sản phẩm, dịch vụ, báo cáo chi tiết kết quả kinh
doanh, báo cáo chi phí bán hàng, báo cáo chi phí quản lý doanh nghiệp.
e, Các tài liệu khác
12
Phân tích tài chính nhằm đưa ra những dự báo tài chính giúp đỡ cho việc dự
báo kết quả tương lai và giúp đưa ra những quyết định tài chính của doanh nghiệp
nên không chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu báo cáo tài chính mà còn mở rộng
sang các lĩnh vực khác như: thông tin chung về các chính sách kinh tế, tiền tệ, thông
tin về nghành kinh doanh, thông tin pháp lý đối với doanh nghiệp.
thể đã được tính toán. Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp còn chịu ảnh hưởng của ngành nghề, đặc điểm kinh doanh, sự biến động của
tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu, sự ảnh hưởng của mức cung cầu đến giá bán
của một mặt hàng nào đó… Những nhân tố này khó có thể đo lường, tính toán và
càng không thể hiện trên báo cáo tài chính nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó cần sử dụng phương pháp định
tính để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp toàn diện hơn.
2. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
2.1 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua Bảng cân đối kế toán
a, Phân tích sự biến động và kết cấu tài sản:
Phân tích kết cấu tài sản cũng như đánh giá sự biến động của các bộ phận
cấu thành nên tổng tài sản để thấy được tính hợp lý của việc phẩn bổ tài sản và trình
độ sử dụng trong các giai đoạn của quá trình sản xuất hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Kết cấu tài sản bao gồm:
Tài sản ngắn hạn
+ Vốn bằng tiền: tuỳ theo đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
doanh nghiệp cần phải duy trì số dư quỹ hợp lý nhằm đảm bảo các nhu cầu
giao dịch kinh doanh cũng như thanh toán các khoản nợ mà không mất đi cơ
hội kinh doanh khác. Xu hướng chung, vốn bằng tiền giảm được đánh giá là
tích cực vì để đảm bảo cơ hội kinh doanh không nên dự trữ lượng tiền mặt
lớn mà đưa vào lưu thông nhằm tăng vòng quay vốn. Nhưng theo khía cạnh
khả năng thanh toán thì gia tăng vốn bằng tiền đảm bảo an toàn cho khả năng
thanh toán.
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn: là giá trị của các khoản đầu tư có thời hạn
không quá một năm như chứng khoán ngắn hạn, vốn góp liên doanh ngắn
14
hạn, cho vay ngắn hạn,… Nếu giá trị khoản này tăng lên chứng tỏ doanh
nghiệp mở rộng liên doanh và đầu tư vào lĩnh vực tài chính.
b, Phân tích sự biến động và kết cấu nguồn vốn
Phân tích sự biến động và kết cấu nguồn vốn nhằm xem xét tỷ trọng từng bộ
phận chiếm trong tổng nguồn vốn cũng như sự biến động của chúng, từ đó thấy
được tình hình sử dụng nguồn vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Kết cấu nguồn vốn bao gồm:
Nợ phải trả
+ Nguồn vốn tín dụng: là giá trị các khoản vay, nợ ngắn hạn và dài hạn. Nếu
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì nguồn vốn tín dụng tăng lên được xem
là tốt. Ngược lại doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả thì việc tăng lên có
thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
+ Các khoản vốn chiếm dụng: là giá trị các khoản mà doanh nghiệp nợ trong
thời gian nhất định của khách hàng, công nhân viên,…Các khoản này nhiều
hay ít, tăng hay giảm không thể đánh giá tốt hay xấu mà phải xem qua khả
năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là giá trị vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn thì doanh
nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập với
các chủ nợ cao. Ngược lại thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính là không
tốt.
2.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua Bảng báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh
Tính toán, so sánh mức và tỷ lệ biến động của kỳ phân tích so với kỳ gốc.
Kết quả đạt được qua bảng phân tích sẽ cho thấy tốc độ tăng trưởng của hoạt động
sản xuất kinh doanh và tìm ra được nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục.
16
2.3 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người sử dụng có thể đánh giá được
khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp , khả năng thanh
ứ đọng vốn quá lớn,…tài sản ngắn hạn dư thừa không tạo nên doanh thu, do đó vốn
sử dụng không hiệu quả.
Thông thường hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh, dự trữ theo mùa vụ,… Nếu nó lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan. Ngược
lại doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán.
Hệ số thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh
=
Tiền và các khoản có thể chuyển
đổi nhanh thành tiền
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này chứng minh khả năng thanh toán tức thời (ngay lúc phát sinh
nhu cầu vốn) đối với các khoản nợ đến hạn trả. Thông thường chỉ tiêu này dao động
lớn hơn 0.5 là tốt. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1 khẳng định doanh nghiệp
đủ khả năng chi trả công nợ, nhưng doanh nghiệp đang giữ quá nhiều tiền, gây ứ
đọng vốn, do đó hiệu quả sử dụng vốn không cao. Nếu tỷ số này dưới 0.1 thì doanh
nghiệp đang gặp khó khăn về tiền để phục vụ nhu cầu kinh doanh và thanh toán
công nợ đến hạn.
Hệ số thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay
=
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay phải trả
Lãi vay phải trả
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay và mức độ an toàn có thể đối
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu
và hiệu quả của việc thu hồi nợ. Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu càng
cao thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên số vòng quay quá cao sẽ
không tốt vì ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán
quá chặt chẽ, khó tìm kiếm các đối tác làm ăn mới, gặp khó khăn trong việc mở
rộng quy mô thị trường.
19
Kỳ thu tiền bình quân (Kỳ luân chuyển các khoản phải thu)
Kỳ thu tiền bình quân
=
Số ngày trong kỳ ( 360 ngày)
Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày cần thiết bình quân để thu hồi các khoản
phải thu trong kỳ, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho thấy để thu được các khoản
phải thu cần một khoảng thời gian là bao nhiêu.
Nếu số ngày càng lớn thì việc thu hồi các khoản thu chậm và ngược lại. Tuy
nhiên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thể kết
luận chắc chắn mà phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp
như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp,…
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho (V
htk
)
Số vòng quay hàng tồn kho
=
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho là số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được
một vòng thì phải cần một khoảng thời gian bình quân bao nhiêu ngày. Nếu số ngày
luân chuyển càng lớn thì việc quay vòng hàng tồn kho càng chậm, điều này cũng
đồng nghĩa với việc dự trữ nguyên vật liệu quá mức hoặc hàng hoá tồn kho quá
nhiều và ngược lại.
Số vòng quay tổng tài sản
Số vòng luân chuyển tổng tài sản
=
Tổng doanh thu và thu nhập khác
Tổng tài sản bình quân
Ý nghĩa: trong kỳ kinh doanh, bình quân 1 đồng tài sản đưa vào kinh doanh
tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng luân chuyển càng cao, càng nói lên
được khả năng đưa tài sản của doanh nghiệp vào sản xuất càng nhiều càng tốt.
Nếu giá trị của hệ số này cao phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp
tốt, việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả. Ngược lại, chứng tỏ tình hình sử dụng
tài sản cố định của doanh nghiệp kém hiệu quả nhưng cũng có thể do doanh nghiệp
đang gia tăng đầu tư vào tài sản cố định nên chưa phát huy tác dụng.
21
c, Phân tích các chỉ số tài chính phản ánh khả năng sinh lời:
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác
quản lý vốn, quản lý sản xuất kinh doanh. Sau đây là một số chỉ tiêu phản ánh khả
năng sinh lời của đồng vốn của công ty.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
=
Lợi nhuận trước thuế ( sau thuế )
x 100 %
đồng vốn của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả và ngược lại.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
x 100 %
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trong đó :
Vốn chủ sở hữu bình quân
=
Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + Vốn chủ sở hữu cuối kỳ
2
Ý nghĩa: Trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa
vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng là lợi nhuận trước
thuế hay sau thuế.
Nếu chỉ số này có xu hướng tăng là dấu hiệu cho thấy việc sử dụng đồng vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn ngắn hạn:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn ngắn hạn
=
Lợi nhuận trước thuế
(sau thuế) x 100 %
+ Tỷ số tài trợ:
Tỷ số tài trợ
=
Vốn chủ sở hữu
x 100 %
Tổng nguồn vốn
Ý nghĩa: các tỷ số này cho biết trong tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp có
được trong kỳ thì được huy động từ nguồn vay nợ chiếm tỷ trọng bao nhiêu % và
nguồn vốn tự tài trợ chiếm bao nhiêu %.
24
Nếu tỷ số nợ tăng và tỷ số tài trợ có xu hướng giảm là dấu hiệu cho biết tính
tự chủ về tài chính của doanh nghiệp đang có xu hướng giảm và ngược lại.
Cấu trúc tài sản:
+ Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn:
Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn
=
Tài sản dài hạn
x 100 %
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết tài sản dài hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng tài sản mà
doanh nghiệp hiện có mà nó phản ánh tình hình đầu tư chiều sâu, tình hình trang bị
cở sở vật chất kỹ thuật, xây dựng của doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực và xu
hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được đánh giá hợp lý hay
không phụ thuộc vào từng ngành kinh doanh cụ thể.
+ Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn:
Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn
=
9,8 triệu đồng/năm, và là 1 trong 5 tỉnh, thành phố có thu nhập bình quân đầu người
cao nhất nước chủ yếu là các nghành dịch vụ - du lịch. Ngành dịch vụ - du lịch là
ngành phát triển nhất ở Khánh Hòa với số du khách hơn 1,6 triệu lượt vào năm
2009. Các hình thức du lịch ở Khánh Hòa rất phong phú với các hình thức như du
lịch sinh thái biển đảo, du lịch tham quan - vãn cảnh, du lịch văn hóa, Số cơ sở
lưu trú trong địa bàn tỉnh cũng tăng liên tục qua từng năm, đến năm 2010 có tổng
cộng 409 cơ sở, trong đó có 21 khách sạn từ 3 đến 5 sao. Trong các khách sạn và
khu nghỉ mát lớn ở Khánh Hòa, có những khu du lịch và khách sạn nổi tiếng thế
giới như Khu nghỉ mát Ana Mandara, Vinpearl Land, Sheraton Nha Trang hotel &
spa, Novotel,
Bên cạnh đó, Khánh Hòa cũng là địa phương phát triển công nghiệp mạnh
trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên. Các thế mạnh công nghiệp truyền thống
của Khánh Hòa là công nghiệp đóng tàu, chế biến thủy hải sản, vật liệu xây dựng.
Ngoài ra, Khánh Hòa cũng có nhiều loại khoáng sản; đến năm 2003 đã có 72 mỏ
quặng được phát hiện và đăng ký trên địa bàn tỉnh. Tổng giá trị sản xuất công
nghiệp trong năm 2009 của Khánh Hòa đạt 14.095 tỷ đồng. Các khu công nghiệp
lớn trong tỉnh như Khu công nghiệp Suối Dầu, khu công nghiệp Ninh Hòa, khu
công nghiệp Bắc và Nam Nha Trang, cùng với những cảng biển lớn đang được đầu