Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế
thế giới diễn ra ngày càng phổ biến và mạnh mẽ, hoạt động thương mại quốc tế
trở thành một lĩnh vực quan trọng và không thể thiếu được trong hệ thống kinh
tế đó. Đối với các đơn vị hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, yêu cầu về
thông tin kinh tế nói chung và thông tin về nhập khẩu nói riêng trở nên hết sức
cần thiết.
Năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO thì hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở nên đa
dạng, phức tạp và mang tính cạnh tranh gay gắt. Các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu phải thường xuyên đối mặt với sự biến động của môi trường
kinh doanh trong nước và quốc tế. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong quá
trình hội nhập vào hệ thống kinh tế quốc tế và khu vực, các doanh nghiệp phải
tăng cường khả năng quản lý và không ngừng hoàn thiện công tác kế toán. Với
chức năng thông tin và giám sát tình hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, kế
toán góp một phần không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh. Dựa vào thông
tin kế toán, nhà quản lý có thể nắm bắt được một cách chính xác, kịp thời tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định, chiến lược kinh
doanh đúng đắn, phù hợp tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển.
Thực tế, kế toán quá trình nhập khẩu hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá nhập
khẩu tại các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu còn nhiều tồn
tại cần khắc phục, nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo quy định của
chế độ kế toán hiện hành.
Trong thời gian thực tập, em đã đi sâu tìm hiểu hoạt động kinh doanh
nhập khẩu nói chung và kế toán nghiệp vụ nhập khẩu nói riêng tại Công ty Cổ
phần Xuất Nhập khẩu Khoáng sản. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán
hàng nhập khẩu, qua quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại Công ty, em đã
chọn đề tài "Hoàn thiện kế toán nhập khẩu hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Việt Nam được hiểu là việc mua bán hàng hoá giữa thương nhân Việt Nam với
thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng ngoại thương.
Sự khác biệt giữa hoạt động nhập khẩu với hoạt động kinh doanh hàng hoá
trong nước thể hiện ở một số đặc điểm chủ yếu của hoạt động nhập khẩu như sau:
- Đặc điểm về thời gian lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu: Thời gian lưu
chuyển hàng hoá nhập khẩu bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển
hàng hoá kinh doanh nội địa do các bên tham gia mua bán thường cách xa nhau
về mặt địa lý, hoạt động mua bán trải qua nhiều giai đoạn…
- Đặc điểm về hàng hoá kinh doanh nhập khẩu: Hoạt động nhập khẩu chủ
yếu là mua những mặt hàng mà trong nước không có, chưa sản xuất được hoặc
chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng, chất lượng và thị hiếu…
- Đặc điểm về thời điểm giao nhận hàng và thời điểm thanh toán: Hàng
nhập khẩu được ghi nhận từ ngày hàng được giao đến địa phận nước nhập và
được phép thông quan. Thời điểm nhận hàng nhập khẩu và thời điểm thanh toán
tiền hàng thường không trùng nhau mà có khoảng cách dài.
- Đặc điểm về phương thức thanh toán: Trong hoạt động kinh doanh nhập
khẩu, phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là thanh toán bằng thư tín dụng
(letter of credit- L/C). Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các phương thức
khác như: phương thức chuyển tiền (remittance), phương thức ghi sổ hay mở tài
khoản (open account), phương thức nhờ thu (collection of payment)…
- Đặc điểm về tập quán, pháp luật: hai bên mua bán có quốc tịch khác
nhau, pháp luật khác nhau, tập quán kinh doanh khác nhau, do vậy các bên phải
tuân thủ luật kinh doanh cũng như tập quán của từng nước và luật thương mại
quốc tế.
- Đặc điểm về tiền tệ: Mỗi quốc gia có đơn vị tiền tệ riêng, vì vậy khi thực
hiện một hợp đồng kinh doanh nhập khẩu cả hai bên phải thống nhất là dùng
đồng tiền nào là đồng tiền để thanh toán.
1.1.2. Đối tượng và điều kiện kinh doanh nhập khẩu hàng hoá
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
thị trường. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện nhập khẩu những mặt hàng mà
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
4
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Nhà nước không cấm, chủ động về hàng hoá, giá cả thị trường trong phạm vi chính
sách cho phép và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
1.1.4. Các phương thức nhập khẩu hàng hoá
Các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện kinh doanh xuất nhập khẩu hàng
hoá có thể thực hiện nhập khẩu theo các phương thức sau:
♦ Phương thức nhập khẩu trực tiếp:
Nhập khẩu trực tiếp là quá trình doanh nghiệp trực tiếp ký kết hợp đồng
nội với khách hàng nội để xác định nhu cầu về hàng hoá cần cung cấp, sau đó
doanh nghiệp tiến hành tham khảo thị trường nước ngoài, tìm ra nguồn hàng phù
hợp và ký kết hợp đồng ngoại để nhập hàng về giao cho khách hàng nội. Trên cơ
sở hàng hoá thực tế nhập về kế toán xác định giá nhập và giá bán để chuyển cho
khách hàng nội.
Phương thức này được áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh
được Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ trực tiếp
tổ chức đàm phán, ký kết hợp đồng với nhà cung cấp nước ngoài, trực tiếp nhận
hàng và thanh toán tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu trực tiếp
trên cơ sở tự cân đối về tài chính, có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả,
lựa chọn phương thức thanh toán và thị trường, xác định phạm vi kinh doanh
nhưng trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước.
Phương thức nhập khẩu này thường được tiến hành khi doanh nghiệp thực sự am
hiểu về thị trường cũng như mặt hàng nhập khẩu.
♦ Phương thức nhập khẩu uỷ thác:
Nhập khẩu uỷ thác là quá trình Công ty thực hiện cung cấp dịch vụ nhập
khẩu cho khách hàng có yêu cầu, trong hình thức nhập khẩu này Công ty tiến
hành nhập một số mặt hàng nhất định với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi
phí của bên giao uỷ thác. Căn cứ trên hợp đồng uỷ thác nhập khẩu, Công ty
chuyển tiền
Ngân hàng
đại lý
Người hưởng
lợi
Người trả
tiền
(1)
(2)
(3a)
(3b)
(4)
6
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
(2) Người trả tiền viết đơn yêu cầu ngân hàng chuyển tiền tiến hành chuyển tiền
bằng thư hoặc bằng điện trong đó ghi rõ nội dung theo quy định cùng với uỷ
nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng)
(3) Ngân hàng thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý (3a),
đồng thời gửi giấy báo Nợ, giấy báo đã thanh toán cho người trả tiền (3b).
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi hoặc gửi giấy báo Có cho
người hưởng lợi.
♦ Phương thức ghi sổ hay phương thức mở tài khoản (open account):
Theo phương thức này, người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ
để ghi nợ cho người mua sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hoá
hay dịch vụ. Định kỳ (tháng, quý, năm, …) người mua trả tiền cho người bán.
Đặc điểm của phương thức này là không có sự tham gia của ngân hàng
với chức năng mở tài khoản và thực hiện thanh toán.
Trình tự thanh toán theo phương thức này như sau:
Sơ đồ 1.2 : Trình tự thanh toán theo phương thức ghi sổ hay phương thức
mở tài khoản
một hối phiếu và uỷ thác cho ngân hàng của mình thu tiền hộ
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư uỷ nhiệm kèm hối phiếu cho ngân hàng
đại lý của mình ở nước ngoài nhờ thu tiền
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu
(4) Người mua trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho ngân hàng phục vụ người bán
(6) Ngân hàng phục vụ người bán thanh toán tiền hàng cho người bán. Trường
hợp người mua chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại
cho người bán, khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và
thực hiện chuyển tiền thu được cho người bán.
- Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán mà trong đó người
bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu và bộ
chứng từ hàng hoá gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc
chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá cho
người mua để nhận hàng.
Trình tự thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ như sau:
Sơ đồ 1.4: Trình tự thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ
(1) Người bán tiến hành giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán và hối phiếu nhờ
ngân hàng thu hộ tiền ở người mua bằng thư uỷ nhiệm
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
8
Ngân hàng phục
vụ bên bán
Ngân hàng
đại lý
Người bán Người mua
(1)
(2)
(3)(4)
(5)
tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người cung cấp hàng nhập khẩu
(Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người
này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng
một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định để nhập khẩu trong thư
tín dụng.
Trình tự thanh toán theo hình thức thư tín dụng như sau:
Sơ đồ 1.5: Trình tự thanh toán theo phương thức thư tín dụng
(1) Người NK nộp đơn xin mở L/C cho ngân hàng của mình yêu cầu mở L/C
(2) Căn cứ vào yêu cầu và đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một thư
tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước xuất khẩu thông báo về
việc mở L/C đó cho nhà cung cấp.
(3) Ngân hàng thông báo sẽ báo cho nhà cung cấp về toàn bộ nội dung của thư
tín dụng và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho nhà cung cấp.
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
9
Ngân hàng mở
L/C
Ngân hàng thông
báo L/C
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)(9)(10)
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
(4) Nhà cung cấp nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì sẽ
- Bảng kê chi tiết (Specification): Là chứng từ trong đó thống kê cụ thể tất
cả các loại hàng và các mặt hàng của lô hàng trên hoá đơn hoặc hợp đồng.
- Phiếu đóng gói (Packing list): Là một chứng từ hàng hoá do nhà cung
cấp lập ra để liệt kê những mặt hàng, những loại hàng được đóng gói trong một
kiện hàng nhất định.
- Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin): Là chứng từ do Phòng
Thương mại của nước xuất khẩu cấp cho nhà cung cấp xác nhận nơi sản xuất
hoặc nguồn gốc của hàng hoá.
- Giấy chứng nhận số lượng (Certificate of quantity): Là chứng từ xác
định số lượng hàng hoá mà người bán giao cho người mua. Giấy này có thể do
Cục kiểm nghiệm phẩm chất hàng hoá xuất nhập khẩu hoặc Công ty giám định
cấp hoặc do đơn vị xuất khẩu lập và được Công ty giám định hay Hải quan kiểm
nghiệm và xác nhận.
- Vận đơn (Bill of loading): Là chứng từ chuyên chở hàng hoá do người
vận chuyển cấp cho chủ hàng nhằm xác định quan hệ pháp lý giữa người vận
chuyển với chủ hàng.
-Bảo hiểm đơn (Insurance Policy): Là chứng từ do Công ty bảo hiểm cấp
cho người được bảo hiểm. Bảo hiểm đơn có tác dụng xác nhận đã ký kết một
hợp đồng bảo hiểm và các điều khoản của hợp đồng đó, xác nhận việc trả phí
bảo hiểm, đó là chứng từ cần thiết để khiếu nại Công ty bảo hiểm và để nhận
tiền bồi thường bảo hiểm khi người mua bảo hiểm gặp rủi ro.
- Hoá đơn Hải quan: Hoá đơn này thuận tiện cho việc thống kê của Hải
quan nước nhập khẩu, thuận tiện cho việc xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng
hoá. Hoá đơn Hải quan còn được dùng để ngăn chặn thủ đoạn bán phá giá, mặt
khác nó còn xác định chính xác giá của hàng hoá nhằm ngăn chặn việc thương
nhân báo giá giả để trốn thuế.
1.1.7. Đặc điểm tính giá hàng nhập khẩu
Giá thực tế khi mua và giá xuất khi bán của hàng nhập khẩu được xác
định cụ thể như sau:
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
thương mại,
giảm giá hàng
NK được hưởng
Trong đó:
Giá hàng nhập khẩu được tính theo giá CIF bao gồm giá mua hàng và chi
phí vận chuyển, bảo hiểm đến ga, cảng, sân bay nước nhập.
Chi phí thu mua hàng nhập khẩu là các chi phí phát sinh trong quá trình
thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá như chi phí trong quá trình tìm kiếm
nguồn hàng, ký kết hợp đồng, kiểm định, lệ phí Hải quan…
♦ Xác định giá xuất kho của hàng nhập khẩu:
Giá thực tế hàng hoá trong kinh doanh nhập khẩu bao gồm hai phần: Trị
giá mua và chi phí mua. Vì vậy, để tính giá thực tế của hàng hoá xuất kho, kế
toán phải tách riêng hai phần trên để tính toán.
Đối với trị giá mua hàng hoá: Kế toán có thể sử dụng một trong các
phương pháp tính giá xuất kho sau:
- Phương pháp nhập trước- xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này, giả
thiết rằng hàng hoá nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số hàng nhập trước
mới đến số hàng nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất, vì vậy lượng
hàng xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần nhập đó.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng
giảm và áp dụng với các doanh nghiệp có ít danh điểm hàng hoá, số lần nhập
kho của mỗi danh điểm không nhiều.
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
12
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
- Phương pháp nhập sau- xuất trước (LIFO): Phương pháp này giả định
những hàng hoá mua sau cùng sẽ được xuất bán trước tiên, vì vậy việc tính giá
xuất của hàng hoá được làm ngược với phương pháp nhập trước xuất trước.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát.
- Phương pháp giá hạch toán: Theo phương pháp này, toàn bộ hàng hoá
cả kỳ dự trữ
=
Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao, công
việc quyết toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói
chung.
Cách 2:
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trước
=
Giá thực tế hàng hoá tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế hàng hoá tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Cách tính này khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động hàng
hoá trong kỳ, tuy nhiên kết quả không chính xác vì không tính đến sự biến động
của giá cả hàng hoá trong kỳ.
Cách 3:
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
13
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
= Giá thực tế hàng hoá tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế hàng hoá tồn kho sau mỗi lần nhập
Cách tính này cho phép tính giá hàng xuất kho vừa chính xác, vừa cập
nhật nhưng lại tốn nhiều công sức do phải tính nhiều lần.
- Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này hàng hoá
được xác dịnh giá trị theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập cho
đến lúc xuất ra. Vì vậy, khi xuất mặt hàng nào sẽ tính theo giá thực tế của mặt
hàng đó. Phương pháp này cho phép xác định chính xác giá xuất kho của từng
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh
tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho. Ưu điểm của
phương pháp này là cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập
nhật và cho độ chính xác cao. Theo phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào
kế toán cũng có thể xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho của từng loại hàng
hoá.
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
14
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Để hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên kế
toán sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 151- Hàng mua đi đường: Tài khoản này dùng để theo dõi hàng hoá
mà doanh nghiệp đã mua hay đã chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp nhưng cuối tháng chưa về nhập kho.
Bên Nợ: Phản ánh giá trị hàng đi đường tăng.
Bên Có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hoặc
giao cho khách hàng.
Dư Nợ: Giá trị hàng đang đi đường.
Tài khoản 156- Hàng hoá: Tài khoản này dùng để phản ánh giá thực tế hàng hoá
tại kho, tại quầy, chi tiết cho từng kho, từng loại, từng nhóm hàng hoá.
Bên Nợ: Phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá thực tế hàng hoá tại
kho, quầy (bao gồm cả giá mua và chi phí mua)
Bên Có: -Phản ánh trị giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho (kể cả
giảm giá hàng mua và hàng mua trả lại)
-Phản ánh chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ
Dư Nợ: Trị giá thực tế hàng hoá tồn kho.
Tài khoản 156 được chi tiết thành hai tài khoản cấp 2 là: 1561- Giá mua
hàng hoá và 1562- Chi phí thu mua hàng hoá.
Tài khoản 157- Hàng gửi bán: Phản ánh trị giá mua thực tế của hàng gửi bán, gửi đại
tài khoản: 111, 112, 131, 331, 333,… để hạch toán các nghiệp vụ lưu chuyển
hàng hoá nhập khẩu.
1.2.2. Kế toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp
Để thực hiện nhập khẩu theo phương thức này, đơn vị NK thường phải
tiến hành mở L/C theo hợp đồng thương mại đã ký. Khi chuyển tiền để ký quỹ
mở L/C (khoảng từ 30% đến 100% trị giá lô hàng), kế toán ghi:
Nợ TK 144: Số tiền ký quỹ tính theo tỷ giá hạch toán (TGHT)
Có TK 1112, 1122, 311 (TGHT)
Căn cứ vào thông báo nhận hàng và các chứng từ liên quan đến hàng nhập khẩu
đã hoàn thành thủ tục Hải quan, kế toán ghi các bút toán sau:
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
16
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Bút toán 1/ Phản ánh giá mua thực tế của hàng nhập khẩu (CIF)
Nợ TK 156 (1561): Trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu đã
kiểm nhận, nhập kho tính theo tỷ giá thực tế (TGTT)
Nợ TK 157: Trị giá mua thực tế của hàng NK chuyển đi tiêu thụ
theo phương thức chuyển hàng, chờ chấp nhận hay ký gửi đại lý (TGTT)
Nợ TK 151: Trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu đang đi đường
cuối kỳ (TGTT)
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu đã tiêu thụ
trực tiếp trong kỳ (TGTT)
Nợ TK 635: Lỗ do chênh lệch tỷ giá (phần chênh lệch tỷ giá thực tế
< tỷ giá hạch toán)
Có TK 515: Lãi do chênh lệch tỷ giá (phần chênh lệch tỷ giá
thực tế > tỷ giá hạch toán)
Có TK 1112, 1122, 144, 331…:Giá mua hàng NK (TGHT)
Bút toán 2/ Phản ánh số thuế nhập khẩu phải nộp theo thông báo:
Nợ TK 1561, 157, 151, 632: Tính vào trị giá mua của hàng NK
Có TK 333 (3333): Thuế nhập khẩu
hoạt động nhập khẩu (bên giao uỷ thác và bên nhận uỷ thác), cách thức hạch
toán tại mỗi bên được chi tiết như sau:
♦ Kế toán tại đơn vị nhận uỷ thác:
Khi nhận của đơn vị uỷ thác nhập khẩu một khoản tiền mua hàng trả trước
để mở L/C, căn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán phản ánh số tiền đã nhận
theo tỷ giá hạch toán:
Nợ TK 1112, 1122
Có TK 131 (chi tiết cho từng đơn vị giao uỷ thác NK)
Khi chuyển tiền hoặc vay ngân hàng để ký quỹ mở L/C (nếu thanh toán
bằng thư tín dụng), căn cứ vào các chứng từ liên quan kế toán ghi:
Nợ TK 144: Cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn
Có TK 1112, 1122, 311,…
Sau khi kiểm nhận hàng hoá, căn cứ vào các chứng từ liên quan kế toán
phản ánh các bút toán sau:
Số tiền hàng NK phải thanh toán hộ với người bán cho bên giao uỷ thác:
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
18
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Nợ TK 151: Nếu hàng nhập khẩu đang đi đường cuối kỳ
Nợ TK 156 (1561): Nếu hàng nhập khẩu đã về nhập kho trong kỳ
Có TK 331 (Chi tiết cho từng nhà cung cấp)
Trường hợp hàng nhập khẩu không nhập kho mà chuyển giao thẳng cho
đơn vị uỷ thác nhập khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 331 (Chi tiết đơn vị uỷ thác nhập khẩu)
Có TK 331 (Chi tiết cho từng nhà cung cấp)
Phản ánh số thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế nhập khẩu
phải nộp hộ cho đơn vị uỷ thác nhập khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 151: Tính vào trị giá mua của hàng NK đang đi đường cuối kỳ
Nợ TK 156 (1561): Tính vào trị giá mua của hàng NK đã kiểm
nhận nhập kho trong kỳ
Nợ TK 131 (chi tiết cho từng đơn vị giao uỷ thác)
Có TK 111, 112
Nếu trong hợp đồng uỷ thác quy định các khoản chi này do bên nhận uỷ
thác chịu, kế toán ghi:
Nợ TK 641: Tập hợp chi phí
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331…: Tổng giá thanh toán
Khi thanh toán hộ tiền hàng nhập khẩu với người bán cho đơn vị uỷ thác
nhập khẩu, căn cứ vào các chứng từ có liên quan, kế toán ghi:
Nợ TK 331 (chi tiết cho từng người bán)
Có TK 112, 144
Khi đơn vị uỷ thác nhập khẩu chuyển trả nốt số tiền hàng nhập khẩu, thuế
GTGT hàng nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế nhập khẩu (nếu đơn vị giao uỷ thác
nhờ nộp hộ vào NSNN các khoản thuế này), và các khoản chi hộ cho hoạt động
nhập khẩu uỷ thác, phí uỷ thác nhập khẩu, căn cứ vào các chứng từ có liên quan,
kế toán phản ánh:
Nợ TK 111, 112
Có TK 131 (chi tiết cho từng đơn vị giao uỷ thác)
♦ Kế toán tại đơn vị giao uỷ thác (đơn vị uỷ thác):
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
20
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Khi trả trước một khoản tiền uỷ thác mua hàng theo hợp đồng uỷ thác
nhập khẩu cho đơn vị nhận uỷ thác nhập khẩu mở L/C, căn cứ vào các chứng từ
có liên quan, kế toán ghi:
Nợ TK 331 (chi tiết cho từng đơn vị nhận uỷ thác nhập khẩu)
Có TK 1112, 1122,…
Khi nhận hàng uỷ thác nhập khẩu do đơn vị nhận uỷ thác giao trả, căn cứ
vào các chứng từ liên quan, kế toán phản ánh giá trị hàng nhập khẩu uỷ thác,
thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu, thuế TTĐB (nếu có):
Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ của hàng NK
Có TK 151, 1561, 157: Ghi giảm giá trị hàng mua đang đi
đường, hàng tồn kho, hàng gửi bán
Có TK 632: Ghi giảm giá vốn hàng đã tiêu thụ
1.3. Kế toán tiêu thụ hàng nhập khẩu
1.3.1. Kế toán tiêu thụ hàng nhập khẩu theo phương thức bán buôn
♦ Bán buôn theo phương thức trực tiếp:
Đây là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho của doanh
nghiệp, hàng hoá khi giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và
người bán mất quyền sở hữu về số hàng này. Kế toán phản ánh:
Bút toán 1/ Phản ánh trị giá mua thực tế của hàng tiêu thụ:
- Nếu bán buôn trực tiếp qua kho:
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế của hàng tiêu thụ
Nợ TK 138 (1388): Trị giá bao bì tính riêng
Có TK 1561: Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho
- Nếu bán buôn trực tiếp theo phương thức vận chuyển thẳng, không qua
kho:
Nợ TK 632: Trị giá mua thực tế của hàng tiêu thụ
Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có TK 151, 331, 111, 112: Tổng giá thanh toán
Bút toán 2/ Phản ánh doanh thu bán hàng:
Nợ TK 111, 112, 131, 136 (1368): Tổng giá thanh toán
Có TK 511, 512: Doanh thu bán hàng chưa có thuế GTGT
Có TK 33311: Thuế GTGT đầu ra phải nộp
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
22
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Bút toán 3/ Bao bì tính giá riêng và các khoản chi hộ bên mua (nếu có):
Nợ TK 1388
Có TK 1532, 111, 112, 331…
Có TK 156: Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho
Trường hợp bán buôn vận chuyển thẳng, không qua kho, có tham gia
thanh toán, kế toán ghi:
Nợ TK 157: Trị giá mua thực tế của số hàng chuyển đi
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Có TK 331, 111, 112,…: Tổng giá thanh toán
Khi hàng đã được chấp nhận kế toán phản ánh trị giá vốn của hàng bán:
Nợ TK 632: Ghi tăng giá vốn hàng bán
Có TK 157: Kết chuyển giá vốn hàng bán
Các bút toán phản ánh doanh thu bán hàng, chiết khấu thương mại, giảm
giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại tương tự như trường hợp bán buôn
trực tiếp.
♦ Bán buôn vận chuyển thẳng, không tham gia thanh toán: Theo phương thức
này, doanh nghiệp thương mại đứng ra làm trung gian môi giới giữa bên bán và
bên mua để hưởng hoa hồng (do bên bán hoặc bên mua trả). Kế toán phản ánh
số hoa hồng môi giới được hưởng:
Nợ TK 111, 112, 131…
Có TK 511: Hoa hồng môi giới được hưởng
Có TK 33311: Thuế GTGT đầu ra
Phản ánh các chi phí liên quan đến bán hàng:
Nợ TK 641: Chi phí bán hàng
Nợ TK 133: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Có TK 111, 112, 334, 338,…
1.3.2. Kế toán tiêu thụ hàng nhập khẩu theo phương thức bán lẻ
Tiêu thụ hàng hoá theo phương thức bán lẻ gồm có: bán lẻ thu tiền tập
trung, bán lẻ thu tiền trực tiếp, bán hàng tự chọn, bán hàng tự động.
L¹i ThÞ Thanh HuyÒn KÕ to¸n 45C
24
Khãa luËn tèt nghiÖp Khoa KÕ to¸n
Căn cứ vào báo cáo bán hàng, giấy nộp tiền và bảng kê bán lẻ hàng hoá,
25