Đề tài: Thực trạng sản xuất và biện
pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ra thị
trường thế giới Thực trạng sản xuất và biện
pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ra
thị trường thế giới
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GẠO
I. VỊ TRÍ CỦA LÚA GẠO TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Lúa gạo trong nền kinh tế thế giới
Theo đà phát triển của sức sản xuất và phân công lao động quốc tế, nhu cầu của con
ngời ngày càng phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, nhu cầu về ăn và mặc vẫn là nhu cầu cần
thiết hơn cả, trong đó nhu cầu về ăn uống lại đóng vai trò số một trong đời sống hàng ngày.
Bởi vậy, lơng thực trở thành yếu tố đợc chú trọng hàng đầu. Thực tế trong nhiều thập kỷ
qua, thế giới luôn quan tâm, lo lắng đến vấn đề lơng thực nh một đề tài thời sự cấp bách.
Nh vậy bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con ngời thì sự thu hút nguồn lực đất đai
cũng lại khẳng định rõ vị trí của lúa gạo trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và Nhà nớc ta luôn nhấn mạnh vị trí của lúa gạo
Việt Nam: lúa gạo đóng vai trò quyết định vấn đề cung cấp lơng thực cho cả nớc và chi
phối sâu sắc sự phát triển kinh tế quốc dân. Từ đó, Chính phủ đã đề ra các chính sách phát
triển nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng, nh: chính sách đầu t vật chất kỹ thuật
thích đáng về thuỷ lợi, giống lúa, thâm canh, quảng canh lúa qua từng thời kỳ. Lúa gạo đã
đợc đa vào 2 trong 3 chơng trình kinh tế lớn của quốc gia (nh văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc tháng 12/1986 đã nêu). Nhờ đó, từ năm 1989 đến nay kim ngạch xuất khẩu gạo đã
không ngừng tăng, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phần không nhỏ cho công cuộc
đổi mới và xây dựng đất nớc. Cũng do thực hiện thực hiện chơng trình lơng thực, Việt
Nam đã biến từ nớc nhập lơng thực hàng năm khoảng 1 triệu tấn thành nớc xuất khẩu 3- 4
triệu tấn gạo hàng năm.
II. NHU CẦU GẠO CỦA THỊ TRỜNG GẠO THẾ GIỚI
1. Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới
Gạo là một trong những mặt hàng thiết yếu, ít phụ thuộc vào thu nhập của các hộ
gia đình. Do đó, khối lợng gạo tiêu thụ chỉ tăng ở một số nớc đang phát triển hoặc kém
phát triển do tăng dân số và mức tiêu dùng gạo ở các nớc đó còn thiếu.
Nhìn chung, khối lợng tiêu dùng gạo đã ở mức bão hoà ở các nớc phát triển. Theo
thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), mức tiêu thụ gạo toàn cầu từ năm 1998 – 2002
chỉ tăng 5,5%, từ 387,145 triệu tấn năm 1998/1999 lên 408,764 triệu tấn năm 2002/2003,
trong đó khu vực Bắc Mỹ cũng tăng 1,1%, châu Mỹ La Tinh tăng 8,9%, EU tăng 5,3%,
Các nớc thuộc Liên Xô cũ tăng 15,2%, Trung Đông tăng 15,7%, Bắc Phi tăng 18,7%, các
nớc Châu Phi tăng 27,1%, Nam Á tăng 5,9%, các nớc Châu Á khác tăng 3,4%, Châu Úc
giảm 14,7%và các nớc thuộc Đông Âu giảm 2,2%.
Theo đánh giá chung, mức tiêu thụ gạo tính theo đầu ngời trên thế giới là 58%
kg/ngời/năm. Tại các nớc Viễn Đông, châu Á hiện nay ổn định ở mức 95 kg/ngời/năm,
Trung Quốc là 94kg/ngời/năm, Ấn Độ là 76kg/ngời/năm, cận Đông và Châu Á là
20kg/ngời/năm, Châu Phi là 17kg/ngời/năm, Mỹ La Tinh là 26kg/ngời/năm, Mỹ là
19,7kg/ngời/năm, Thái Lan là 106kg/ngời/năm.
2. Tình hình xuất – nhập khẩu gạo trên thế giới
2.1.Tình hình nhập khẩu gạo
Theo dự báo của USDA(Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ), lợng gạo nhập khẩu toàn cầu
năm 2003 sẽ đạt mức 26,8 triệu tấn, giảm 5% so với 28,1 triệu tấn năm 2002 do nhu cầu
nhập khẩu từ nhiều nớc nhập khẩu chính do sản lợng nội địa tăng và chính phủ các nớc
khuyến khích sản xuất trong nớc bắng nhiều biện pháp nh trợ cấp, trợ giá, giảm giá vật t
nông nghiệp và hỗ trợ kỹ thuật…
Cũng theo dự báo trên, niên vụ 2002/2003, sản lợng gạo nhập khẩu toàn cầu ớc tính
khoảng 26,334 triệu tấn. Nhu cầu nhập khẩu gạo chủ yếu là ở các nớc Châu Phi, Trung
Đông và Châu Á, trong đó nhập khẩu gạo ở các nớc Châu Phi và Trung Đông chiếm đến
42% tổng lợng gạo nhập khẩu toàn cầu. Trong khi đó, Châu Á sản xuất đến trên 90% lợng
gạo trên thế giới nhng chỉ nhập khẩu khoảng 34% tổng lợng gạo nhập khẩu toàn cầu.
Trong năm 2003, sản lợng gạo nhập khẩu của Iran, Banglades, EU, Arapsaudi, Trung
Quốc, Nga sẽ tăng, các nớc Indonesia, Irắc, Senegal và Brazil giảm.
Theo thống kê của USDA, nớc nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Indonesia với
mức nhập khẩu là 3,5 triệu tấn niên vụ 2002/2003, thứ hai là Nigeria nhập khẩu 1,5 triệu
tấn tiếp đến là Philipin là 1,2 triệu tấn, Irắc 1,1 triệu tấn, Iran 1 triệu tấn và Trung Quốc 1
triệu tấn.
Trung Quốc dự tính sẽ nhập khẩu khoảng 300.000 tấn gạo trong năm 2003, tăng 7,5
ngàn tấn so với năm 2002. Phần lớn gạo nhập khẩu của Trung Quốc là loại gạo thơm của
Thái Lan để tiêu dùng cho ngời có thu nhập cao của thành phố. Theo cam kết với WTO,
Trung Quốc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng gạo. Thuế nhập khẩu trong
hạn ngạch tơng đối thấp, 1% đối với hàng thô, không quá 10% đối với gạo xay xát, thuế
ngoài hạn ngạch là 80%, sau đó giảm xuống 40% vào năm 2004.
Theo USDA, Trung Đông nhập khẩu khoảng 4,71 triệu tấn gạo tăng 11% so với
năm 2002. Khu vực này hàng năm nhập khẩu khoảng 2/3 lợng gạo tiêu dùng của mình do
khu vực này rất khó mở rộng sản xuất. Đây là thị trờng lớn nhất thế giới về các loại gạo
chất lợng cao nh gạo phơi một phần, gạo hạt dài cao cấp, basmati. Các nớc Iran, Irắc,
ArapSaudi là những nớc nhập khẩu lớn nhất, còn các nớc nh Thổ Nhĩ Kỳ, Jordani nhập
khẩu ít hơn chủ yếu là loại gạo Japonica.
Nicaragua 88 60 117 106 75
Pêru 116 86 62 33 40
Philippin 1.000 900 1.175 1.180 1.200
Nga 580 400 247 406 350
Arap xê út 750 992 1.053 938 950
Sênêgal 621 589 874 858 750
Singapore 421 354 444 358 375
Nam Phi 514 523 572 800 650
Syria 200 150 172 204 150
Thổ Nhĩ Kỳ 321 309 231 342 250
Uzbêkistan 40 30 142 65 100
Các tiểu vơng quốc
Ả rập thống nhất
75 75 75 80 80
Yêmen 217 210 202 210 250
EU 784 852 923 875 875
Đông Âu 361 343 381 364 379
Mỹ 358 308 413 419 390
Tổng thế giới 24.941 22.846 24.442 27.922 26.334
Nguồn: FAS, USDA, tháng 5 năm 2003
2.2. Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới
Sản lợng thóc năm 2002 giảm sẽ làm giảm cung xuất khẩu của Ấn Độ và Úc trong
năm 2003. Do đó, sức ép cạnh tranh giảm đi từ Ấn Độ sẽ khuyến khích xuất khẩu của
Thái Lan và Việt Nam tăng lên. Xuất khẩu cũng có triển vọng tăng lên từ Ai Cập, Pakixtan
và Mỹ, trong khi xuất khẩu của Trung Quốc duy trì ở mức 2,25 triệu tấn năm 2003.
Bảng 3: xuất khẩu gạo của thế giới (quy gạo xay)
Đơn vị: Nghìn tấn
1999 2000 2001 2002 2003
Ác hen ti na 674 32 363 233 200
Úc 667 617 618 360 300
3.1 Triển vọng tiêu thụ
Theo dự báo của USDA, tổng mức tiêu thụ gạo của thế giới đến năm 2010 là
439.324 ngàn tấn. Tốc độ tăng trởng tiêu thụ gạo bình quân từ nay đến năm 2010 là
0,9%/năm, trong đó số lợng gạo dùng làm thực phẩm là 399.023 ngàn tấn, sử dụng làm
thực phẩm với mức độ tăng bình quân là 1%/năm.
Dự báo tiêu thụ gạo theo nhóm nớc: tổng mức tiêu thụ của các nớc đang phát triển
sẽ tăng khoảng 1%/năm và tại các nớc phát triển chỉ tăng 0,5%/năm. Dự báo tiêu thụ gạo
theo mục đích sử dụng: tiêu dùng gạo nh thực phẩm tại các nớc đang phát triển sẽ tăng
bình quân 1,1%/năm còn tại các nớc phát triển là 0,3%/năm.
Nếu xét về cơ cấu tiêu thụ theo đầu ngời thì Myanmar có mức tiêu thụ theo đầu ngời
cao nhất đạt 183,8kg/ngời/năm vào năm 2010, tiếp đến là Campuchia với 166kg/ngời/năm,
thứ 3 là Indonesia là 158kg/ngời/năm.
3.2 Triển vọng buôn bán gạo trên thị trờng thế giới
Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA), buôn bán gạo toàn cầu dự
báo sẽ tăng bình quân 2,4%/năm trong giai đoạn 2003 – 2012. Tới năm 2012, buôn bán
gạo dự báo sẽ đạt trên 33 triệu tấn, tăng 25% so với mức kỷ lục đạt trong năm 1998.
*Nhập khẩu:
Gạo hạt dài (Indica) sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợng giao dịch gạo toàn cầu.
Các nớc nhập khẩu gạo chủ yếu là các nớc Châu Á, Trung Đông, Cận Sahara Châu Phi và
Mỹ La Tinh, trong đó phải kể đến Indonesia, Iran, Irắc, Philippin và Arập-xê-út sẽ vẫn là
những nớc nhập khẩu gạo hạt dài chủ yếu.
*Xuất khẩu:
Thái Lan và Việt Nam, hai nớc đứng đầu về xuất khẩu gạo hạt dài, dự báo sẽ chiếm
khoảng 44% trong tổng lợng gạo xuất khẩu toàn câù. Năng suất tăng trong khi mức tiêu
thụ bình quân đầu ngời trên thị trờng nội địa có xu hớng giảm đi sẽ tạo điều kiện tăng
nguồn cung xuất khẩu của hai nớc này.
Ấn Độ vẫn duy trì là nớc xuất khẩu gạo lớn từ giữa thập niên 90 mặc dù gạo xuất
khẩu của Ấn Độ chủ yếu là gạo hạt dài chất lợng thấp, gao cao cấp basmati chỉ chiếm một
tỷ trọng nhỏ trong tổng lợng xuất khẩu gạo của nớc này.
Xuất khẩu gạo của Trung Quốc – nớc đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu gạo – chỉ
Nam. Số ngày ma lý tởng 120-140 ngày/năm ở hai đồng bằng lớn không chỉ cung cấp cho
lúa nguồn nơc trời quý giá mà còn đồng thời bồi bổ cho lúa nguồn phân đạm thiên nhiên
dễ hấp thụ nhất mà nớc và đạm nhân tạo không thể so sánh. Cùng với nớc ma trời, dòng
chảy mặt còn sản sinh trên lãnh thổ nớc ta khoảng 300 tỉ m³ nớc. Ngoài ra, hệ thống thuỷ
lợi nớc ta, với 10% ngân sách Nhà nớc đầu t hàng năm đã đạt đợc thành qủa bớc đầu đáng
mừng. Có thể nói, nớc, nguồn tài sản thiên nhiên vốn quý giá, cộng thêm sự chú trọng phát
thuỷ lợi hơn nữa của Nhà nớc trong thời gian qua, là yếu tố rất cơ bản thúc đẩy sản xuất và
xuất khẩu gạo tăng mạnh trong những năm gần đây.
1.4 . Nhân lực
Yếu tố nhân lực không chỉ có u thế lớn về số lợng nhân lực mà còn có u thế lớn về
chất lợng, về sự tinh thông, am hiểu nghề trồng lúa. Lịch sử sản xuất lúa của Việt Nam đã
trải qua hơn 6000 năm kể từ thở cộng đồng nguyên thuỷ ngời Việt cho đến khi ra đời nhà
nớc Văn Lang và cho tới nay, đã đợc các thế hệ đúc rút và để lại nhiều tri thức, kinh
nghiệm quí báu. Kho tàng kinh nghiệm đó thực sự là một lợi thế đặc biệt, nó cho phép
khai thác triệt để những lợi thế thông thờng của các tàI sản thiên nhiên nh tàI sản đất, tài
sản nớc, tàI sản khí hậu.
1.5. Địa lý và cảng khẩu
Hầu hết khối lợng gạo trong buôn bán quốc tế bấy lâu thờng đợc vận chuyển bằng
đờng biển. So với các phơng thức vận tải quốc tế bằng đờng sắt, đờng hàng không, vận tải
biển quốc tế thờng đảm bảo tiện lợi, thông dụng vì có mức cớc phí rẻ hơn. Do vậy, riêng
phơng thức này đã chiếm khoảng trên 80% buôn bán quốc tế. Việt Nam có vị trí giao
thông đờng biển rất thuận lợi. Hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung đều nằm gần sát
đờng hàng hải quốc tế và có thể hành trình theo tất cả các tuyến đi Đông Bắc Á, Đông
Nam Á, Thái Bình Dơng, Trung Cận Đông, Châu Âu, Châu Mỹ… Từ cảng Sài Gòn đến
đờng hàng hảI quốc tế thờng chỉ hết 3 giờ hành trình với 40 hải lý. Từ cảng Sài Gòn, nếu
xuất khẩu gạo đi Singapore thờng hết 2 ngày hành trình, Nhật: 6 ngày,Indonesia: 3 ngày,
Hàn Quốc: 5 ngày, Hồng Kông : 1 ngày, Pháp: 25 ngày, Hà Lan: 34 ngày, Anh: 35 ngày,
Mỹ (Los Angelss): 25 ngày.
Tóm lại, Việt Nam có nhiều lợi thế cơ bản trong sản xuất và xuất khẩu gạo.
2. Sự cần thiết phải xuất khẩu gạo đối với Việt Nam
khẩu gạo là tất lẽ dĩ ngẫu.
2.4 Khắc phục các hậu qủa của thời gian chiến tranh để lại
Nớc ta phải đối mặt với cuộc chiến tranh ác liệt và kéo dài chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ. Suốt 30 năm có chiến tranh, đất nớc bị chia cắt và chiếm đóng, Đảng và
Chính phủ ta không có đIều kiện lãnh đạo toàn bộ hoạt động kinh tế của cả nớc thống nhất.
Điều kiện khí hậu thiên nhiên thuận lợi và đất đai màu mỡ ở nhiều vùng cha khai phá đặt
ra nhiệm vụ biến ĐBSCL và nhiều vùng khác của đất nớc thành vùng phát triển nông
nghiệp để thực hiện 3 chơng trình kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Đây là chiến lợc
quan trọng “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” của những năm 70 - đầu 90, lấy nông
nghiệp là cơ sở ban đầu tạo vốn cho công nghiệp hóa.
CHƠNG II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN QUA.
I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TRONG NỚC
1. Tình hình và triển vọng sản xuất
Trong giai đoạn 1992 – 1997, diện tích trồng lúa tăng bình quân 1,85%, năng suất
tăng bình quân 3,10%/năm và sản lợng tăng bình quân 4,97%/năm. Trong giai đoạn tiếp
theo (1997 – 2002), mặc dù diện tích trồng lúa chỉ tăng 1,05%/năm, nhng do năng suất
tăng cao hơn so với giai đoạn trớc, đạt 3,25%/năm, nên sản lợng lúa cả năm vẫn đạt tốc
độ tăng 4,3%/năm. Bảng 4 cho thấy các số liệu cụ thể về diện tích, năng suất và sản lợng
lúa qua các năm. Nh vậy, trong giai đoạn 1992 – 1997, khoảng trên 60% mức tăng trởng
sản lợng lúa là do tăng năng suất và trong giai đoạn 1997 – 2002 là khoảng 75%.
Bảng 4: Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Năm Diện tích lúa cả
năm
Năng suất Sản lợng
1000 ha % tăng Tạ/ha % tăng 1000 tấn % tăng
1991 6.302,8 31,1 19.621,9
1992 6.475,3 102,7 33,3 107,1 21.590,4 110,0
1993 6.559,4 101,3 34,8 104,4 22.836,5 105,8
1. Tình hình xuất khẩu
Từ năm 1989 đến nay, 14 năm liên tục, Việt Nam đợc xem là một thế lực chủ yếu
trên thị trờng gạo thế giới với số lợng và chất lợng ngày càng tăng. Trong giai đoạn
(1992 – 1997), xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng bình quân 12,94%/năm về lợng và
15,80%/năm về trị giá. Mặc dù trong giai đoạn gần đây (1997 – 2002), xuất khẩu gạo của
Việt Nam đã có dấu hiệu tăng chậm lại. Điều này có nguyên nhân từ sự suy giảm giá
chung trên thị trờng thế giới. Tuy nhiên, năm 1999 Việt Nam đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn
gạo, với giá trị xuất khẩu đạt 1,025 tỷ USD, so với năm 1989, lợng tăng gấp 3,2 lần và giá
xuất khẩu bình quân tăng 1,11 lần và giá trị tăng gấp 3,53 lần. Năm 2000, xuất khẩu 3,5
triệu tấn, do khó khăn về thị trờng và giá cả giảm, năm 2001 xuất 3,7 triệu tấn và năm
2002 xuất 3,2 triệu tấn. Năm 2003 có thể đạt gần 4 triệu tấn mặc dù gặp một số khó khăn
thiên tai hạn hán. Dự trữ lơng thực quốc gia thực hiện đầy đủ làm cho an toàn lơng thực
đợc bảo đảm.
Bảng 5: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam 1991 – 2003
Năm
Sản lợng gạo
Kim nghạch
xuất khẩu
Gía bình quân
1 tấn
(1000 kg) (Triệu USD) (USD)
1991 1033 234 227
1992 1946 418 215
1993 1722 362 210
1994 1983 424 214
1995 1988 530 267
1996 3003 855 285
1997 3575 870 243
1998 3730 1024 275
1999 4508 1025 227
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng đợc tăng dần cùng với xu hớng tăng của chất
lợng gạo và quan hệ cung – cầu của thị trờng lúa gạo thế giới. Giá gạo xuất khẩu bình
quân 4 năm 1995 – 1998 là 269 USD/tấn, tăng 61 USD/tấn so với giá bình quân 6 năm
trớc đó (1989 – 1994). Khoảng cách giữa giá gạo Việt Nam với giá gạo Thái Lan đã giảm
dần: từ 40 – 55 USD/tấn những năm 1989 – 1994 xuống 20 – 25 USD/tấn những năm
1995 – 2000. Nhìn chung, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp so với
mặt bằng chung của thế giới.
2. Cơ cấu thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam ngày càng đợc mở rộng. Năm 1991, gạo Việt
Nam mới xuất khẩu sang trên 20 nớc, bớc sang năm 1993 – 1994 tăng lên trên 50 nớc, và
hiện nay đã xuất khẩu đến trên 80 nớc và có mặt ở cả 5 châu lục. Trong đó, thị trờng nhập
khẩu chính của gạo Việt Nam là các nớc Châu Á với 29 nớc, Châu Âu 29 nớc, Châu Mỹ
17 nớc, Châu Phi 16 nớc va Châu Đại Dơng 3 nớc. Trong đó, Châu Á và Châu Phi là 2 thị
trờng nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Giai đoạn 1991 – 2000 hai thị trờng ày
chiếm tỷ lệ tơng ứng là 58,8% va 18,8%. Các thị trờng nhập khẩu với lợng lớn và ổn định
la Philippine, Inđônêsia, Malaysia, Irắc. Các nớc Singapore, Thuỵ Sỹ, Hà Lan và Mỹ nhập
khẩu gạo của ta chủ yếu là để tái xuất.
3. Một số nớc nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam
Indonesia: Trong 5 năm trở lại đây, Inđônêsia đã nhập khẩu gạo của Thái Lan, Việt
Nam, Mỹ, Myanma và Đài Loan. Chính phủ Indonesia chủ yếu nhập khẩu gạo 25% tấm.
Năm 1999 nhập 1804 ngàn tấn (40%) và 2001 chỉ còn 350 ngàn tấn (14%), năm 2002 là
744,0 ngàn tấn.
Philippine: Hàng năm, gạo Việt Nam chiếm 40 – 60% tổng lợng gạo nhập khẩu của
nớc này.Năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang Philippine 370 ngàn tấn (trên thực tế là 530
ngàn tấn vì một số công ty nớc ngoài nhập khẩu gạo của Việt Nam rồi xuất sang đây).
Malaysia: Nhập khẩu gạo của Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Myanma, Mỹ, Ấn
Độ, với giá trị 36,52 triệu USD.
Singapore: Năm 1999, đã nhập khẩu 112 ngàn tấn gạo của Việt Nam, năm 2000 là
221 ngàn tấn, 260 ngàn tấn trong năm 2001 và 97,36 ngàn tấn năm 2002.
Irac: Hàng năm, Irắc nhập khẩu gạo chủ yếu từ Việt Nam loại gạo 5% tấm – khoảng
2001 - 2010
Đơn vị: Nghìn tấn
Thị trờng 2001 – 2005 2006 – 2010
Châu Á 1.570 1.490
Châu Phi 2.190 2.730
Mỹ La Tinh & Caribê 620 880
Khu vực còn lại 230 320
Tổng 4.610 5.420
Nguồn: Nghiên cứu kinh tế số 284
III. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA GẠO
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
1.Chất lợng gạo xuất khẩu
Chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đợc cảI thiện tơng đối ấn tợng trong hơn
một thập kỷ qua. Tốc độ tăng xuất khẩu gạo 5% tấm đã tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng
trởng xuất khẩu chung và hiện đã chiếm 26,56% tổng lợng gạo xuất khẩu. Đây là kết qủa
của quá trình đầu t cảI tiến công nghệ trong khâu chế biến và những vấn đề có liên quan.
Tuy nhiên, nhìn chung chất lợng gạo xuất khẩu vẫn còn ở mức thấp nên ảnh hởng lớn đến
giá bán và thị trờng trong xuất khẩu.
2.Yếu tố mùa vụ trong xuất khẩu gạo của Việt Nam
Do tính mùa vụ của sản xuất lúa, nên xuất khẩu gạo cũng mang đậm tính mùa vụ.
Thời điểm từ tháng 4 đến tháng 9 là khoảng thời gian xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam
(cùng với thời đIểm thu hoạch Đông Xuân và Hè Thu). Đồng thời, khoảng thời gian tháng
1, tháng 2 là thời điểm xuất khẩu gạo thấp nhất của Việt Nam.
3. Giá cả (giá trong nớc và giá xuât khẩu)
Chi phí sản xuất lúa ở Việt Nam có lợi thế hơn nhiều so với Thái Lan: chi phí lao
động bằng 1/3, tỷ lệ diện tích đợc tới gấp 2 lần, hệ số quay vòng đất gấp 1,33 lần, năng
suất gấp 1,5 lần, các chỉ tiêu liên quan về giá vật t đầu vào bằng 50% - 80% chi phí của
Thái Lan. Do vậy chi phí sản xuất lúa gạo của Việt Nam bình quân từ 90 – 110 USD/tấn,
đặc biệt vụ Đông Xuân 2002 giá thành sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có
920 – 1000 đồng/kg, trong khi chi phí của Thái Lan là 120 – 150 USD/tấn (tỷ giá
khi đã có hợp đồng xuất khẩu. Vì vậy, nếu không đợc cấp tín dụng kịp thời, nhà xuất khẩu
sẽ không thể mua đợc gạo xuất khẩu theo hợp đồng và có thể còn bị phạp do không thực
hiện đúng hợp đồng. Các doanh nghiệp nhà nớc ở ĐNB và ĐBSCL đều cho rằng tiếp cận
tín dụng hiện nay còn nhiều hạn chế, thông thờng Ngân hàng chỉ đáp ứng đợc 1/3 nhu cầu
vay của doanh nghiệp.
6. Kiểm tra chất lợng trớc khi xuất khẩu
Cơ quan kiểm tra chất lợng hàng xuất khẩu (đối với các sản phẩm nông nghiệp và
phi nông nghiệp) quan trọng nhất ở Việt Nam hiện nay là VINACONTROL. Đối với mặt
hàng gạo xuất khẩu, VINACONTROL kiểm tra tới 95% tổng lợng gạo xuất khẩu của Việt
Nam. Quy trình kiểm tra của VINACONTROL gồm 3 bớc: (1) kiểm tra chất lợng gạo
trong kho của nhà xuất khẩu; (2) kiểm tra chất lợng gạo tại nơi xếp hàng chờ xuất khẩu; (3)
kiểm tra chất lợng gạo trớc khi giao hàng, chi phí kiểm tra chất lợng gạo là 0,3USD/tấn.
7. Vận chuyển tàu biển
Vận chuyển gạo xuất khẩu là dịch vụ đắt đỏ ở Việt Nam do thiết bị cảng lạc hậu,
năng lực bốc xếp thấp, lệ phí cảng cao và năng lực vận tải thấp…
Do năng lực vận tải biển thấp, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng phơng
thức xuất khẩu FOB (sử dụng tàu vận tải nớc ngoài), chỉ có những lô hàng xuất khẩu theo
ký kết của Chính phủ mới sử dụng tàu của các công ty tàu biển trong nớc.
Trong số các cảng biển của Việt Nam thì lợng gạo xuất khẩu thông qua cảng Sài
Gòn chiếm tới 70%. Điều này không chỉ xuất phát từ vị trí gần gũi của cảng với nguồn
hàng xuất khẩu chính, mà còn từ mức cớc phí vận tải biển từ cảng Sài Gòn thờng thấp hơn
cảng Hải Phòng và cảng Đà Nẵng. Tuy nhiên, mức phí cảng của cảng Sài Gòn lại cao hơn.
8. Hoạt động tiếp cận thị trờng
Phần lớn quan hệ giao dịch buôn bán gạo thờng đợc ngời mua nớc ngoài hoặc là
trực tiếp, hoặc là thông qua cơ quan Chính phủ. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
cha chủ động tìm kiếm thị trờng: cha có đợc các hơp đồng lớn ổn định. Các hợp đồng chủ
yếu là các hợp đồng Chính phủ chiếm 1/2 lợng gạo xuất khẩu.
Hoạt động của Hiệp hội Xuất nhập khẩu lơng thực Việt Nam trong việc cung cấp
thông tin về giá cả, thị trờng cha có hiệu qủa. Mặt khác, do gạo là nguồn an ninh lơng
thực quốc gia nên Nhà nớc quản lý hoạt động xuất khẩu bằng việc cấp QUOTA nên các
Diện tích sản xuất rộng lớn, nhng qui mô sản xuất của các hộ nông dân thấp, chủ
yếu sử dụng các lao động không chuyên nghiệp, mức đầu t vào các thiết bị sản xuất trong
phạm vi hộ thấp.
Việc cơ cấu lại giống lúa cho chất lợng cao mới chỉ ở giai đoạn khởi động và diễn ra
khá chậm chạp.
Tổn thất ở khâu thu hoạch lúa lớn làm giảm hiệu quả sản xuất.
Khâu chế biến gạo xuất khẩu còn nhiều khó khăn cả về mức công suất, trình độ
công nghệ và mức độ lẫn loại của nguồn lúa nguyên liệu.
Cơ sở hạ tầng nông thôn kém phát triển, chi phi vận chuyển cao làm gia tăng giá
thành phẩm.
Môi trờng, điều kiệntiếp cânj thông tin thị trờngvà công nghệ còn yếu.
Những qui định hạn chế tiếp cận tín dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu.
Mùa vụ thu hoạch và xuất khẩu của Việt Nam trái với mùa vụ chung trên thị trờng
thế giới.
Chính sách hỗ trợ xuất khẩu gạo cha công bằng đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.
Khả năng giao dịch, đàm phán của các doanh nghiệp Việt Nam với khách hàng nớc
ngoài thấp.
Hệ thống kho dự trữ, bảo quản và chuẩnbị giao hàng phântán,qui mô nhỏ.
3. Cơ hội
Theo dự báo về nhu cầu nhập khẩu gạo trên thị trờng thế giới, khả năng tăng trởng
gạo xuất khẩu trong tơng lai còn rất lớn tại các khu vực thị trờng thế giới.
Xu hớng tự do hóa thơng mại và yêu cầu mở cửa thị trờng cho các sản phẩm nông
nghiệp sẽ tác động mạnh đến chính sách tự cung về lơng thực và làm tăng nhập khẩu lơng
thực của các nớc đang nhập khẩu dòng về lơng thực, nh: các nớc thuộc Châu Á (thị trờng
xuất khẩu chính của Việt Nam).
Chính sách cắt giảm viện trợ lơng thực của các nớc phát triển cho các nớc kém phát
triển cũng làm tăng lợng nhập khẩu lơng thực theo điều kiện thơng mại thông thờng của
các nớc này, nhất là với các nớc Châu Phi.
Những yêu cầu về cắt giảm trợ cấp xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và giảm hỗ
- Tăng cờng thâm canh tăng năng xuất, kết hợp khai hoang tăng vụ ở những nơi có
điều kiện. Trong đó thâm canh tăng năng suất là hớng chủ yếu lâu dài, kết hợp với nâng
cao chất lợng lúa hàng hoá. Tuy nhiên, một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả ở ĐBSCL
có thể sẽ chuyển sang canh tác các loại hoa màu khác hay nuôi trồng thủy sản sao cho có
hiệu quả kĩ thuật cao hơn.
- Đa dạng hóa trong sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại gạo (gạo thông thờng, gạo
đặc sản, gạo cao cấp), đa dạng hóa về phẩm cấp các giống lúa (cùng một giống lúa nhng
có thể có giống siêu thuần chủng, thuần chủng cấp 1, cấp 2), đa dạng hóa nguồn lúa gạo
cho xuất khẩu. Tuy nhiên, việc đa dạng phải căn cứ vào nhu cầu của thị trờng quốc tế để
sản xuất ra những sản phẩm thích hợp.
- Tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất để vừa tăng năng
suất vừa tăng chất lợng gạo. Nhng chúng ta phải chú ý kèm với áp dụng khoa học kĩ thuật
là bảo vệ môi trờng sinh thái.
1. Chiến lợc cạnh tranh về xuất khẩu gạo Việt Nam
Từ chiến lợc thực hiện 3 chơng trình lơng thực thực phẩm, chơng trình hàng xuất
khẩu và chơng trình hàng tiêu dùng, Việt Nam đã đi sâu vào chiến lợc hàng xuất khẩu,
trong đó gạo là “mặt trận hàng đầu” của những năm 70 - đầu 90.
Xuất hiện đột ngột ở thị trờng xuất khẩu gạo năm 1991, biến từ nớc nhập khẩu
thành nớc xuất khẩu gạo đã gây cho nhiều nớc sự e ngạI nhập khẩu gạo Việt Nam, cho
rằng chỉ d thừa vài năm cho xuất khẩu nên khả năng cạnh tranh ban đầu thấp, giá hạ, thị
trờng hạn hẹp, khó tìm và mở rộng thị trờng. Nhng suốt hơn 10 năm qua gạo Việt Nam
liên tục tăng xuất khẩu về số lợng và chất lợng, cơ cấu chủng loại gạo, giá cả ổn định và
tăng lên. Thị trờng đợc mở rộng, chính là nhờ có chiến lợc cạnh tranh mà thị trờng đợc
mở rộng hiện khách hàng mua gạo Việt Nam tăng lên ở thị trờng thế giới, giá cả đợc cải
thiện (tuy cha bằng Thái Lan).
Chiến lợc cạnh tranh có thể nhìn thấy ở các mặt chính:
1.1 Chiến lợc cạnh tranh bằng giá cả xuất khẩu gạo
Gạo sản xuất đợc cải thiện do áp dụng thâm canh, tăng năng suất, phân bón, giống
lúa và chủng loại đợc hệ thống hóa nội đồng, sông ngòi, đập nớc… nên giá cả sản xuất gạo
giảm đi tạo điều kiện cạnh tranh bắng giá cả ở thị trờng nớc ngoài với giá thấp. Việt Nam
2. Mục tiêu và phơng hớng phát triển xuất khẩu lúa gạo
Các mục tiêu chủ yếu là:
- Tăng lợng gạo xuất khẩu trên cơ sở vẫn phải đảm bảo lơng thực quốc gia và có lãi
cho ngời sản xuất và ngời xuất khẩu.
- Mở rộng thị trờng xuất khẩu, đồng thời phải xây dựng đợc một hệ thống phân phối
trên thị trờng quốc tế. Cùng với việc thúc đẩy mở rộng thị trờng là chú trọng chất lợng sản
phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam.
- Nâng cao kim ngạch xuất khẩu trên cơ sở nâng cao giá gạo xuất khẩu trên thị trờng
quốc tế.
3. Xuất phát từ mục tiêu trên các doanh nghiệp Việt Nam đề ra định hớng sản
xuất nh sau
- Đa dạng hóa chủng loại gạo với nhiều loại khác nhau để có thể đáp ứng các nhu cầu
của thị trờng thế giới. Chúng ta đa dạng hóa chủng loại sản phẩm nhng phải mang tính tích
cực, càng ngày càng có nhiều chủng loại tốt, cấp cao, đặc sản phù hợp với nhu cầu thị hiếu
của các thị trờng gạo trên thế giới.
- Đa phơng hóa thị trờng tiêu thụ gạo, xác định và có sự u tiên đối với thị trờng xuất
khẩu gạo mang tính chiến lợc, lâu dài bằng ổn định số lợng và nâng cao chất lợng hàng
hoá. Khi có cơ hội phải chiếm lĩnh và biến những thị trờng tiềm năng thành những thị
trờng quen thuộc và truyền thống của mình.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều hình thức tổ chức tham gia xuất khẩu để
có thể đáp ứng đợc mọi nhu cầu ở mọi nơi, mọi lúc, mọi quy mô của khách hàng. Nh vậy
đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nớc phải có cơ chế linh hoạt mềm dẻo thích ứng với kịp thời
những biến động của thị trờng.
- Tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, các hiệp định thơng mại đa phơng và
song phơng để tạo cơ hội thâm nhập và khai thác các thị trờng có nhu cầu nhập khẩu gạo.
- Kinh doanh gạo cũng nh mọi hàng hoá khác đều phải phù hợp với quy luật kĩ thuật
thị trờng. Từ đó xây dựng mọi cơ sở nền tảng cho xuất khẩu gạo phù hợp với nhu cầu thị
trờng và tập quán thơng mại.
II. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA VIỆT NAM
vậy, trong những năm tới cần tập trung giải quyết thao các hớng:
- Hoàn thiện công nghệ sau thu hoạch: cần quan tâm đầu t nâng cấp công nghệ thu
hoạch, bảo quản sau thu hoạch (dùng máy sấy thay cho phơi thóc bằng ánh sáng mặt trời).
Tăng cờng đầu t cho công nghiệp xay xát, chế biến gạo. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ
cho việc cung cấp cây giống, khuyến nông, mua, bảo quản, tồn trữ, vận chuyển, bốc xếp…
Tất cả phải thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn ISO.
- Đầu t phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn và bến cảng phục vụ xuất khẩu gạo, trong
đó mở rộng cảng Cần Thơ trở thành cảng chủ yếu để xuất khẩu gạo.
- Tăng cờng dự trữ nhẵm giảm thiểu các biến động bất lợi của thị trờng thế giới, và
các thiệt hại do thiên tai gây ra, xây dựng hệ thống kho dự trữ và tổ chức lại hệ thống mua
gom, dự trữ gạo xuất khẩu.
- Tăng cờng quản lý chất lợng gạo xuất khẩu, nâng cao chất lợng gạo xuất khẩu từ
khâu trồng, thu hoạch, bảo quản đến khâu xay xát, chế biến và đóng gói theo tiêu chuẩn
thống nhất phù hợp với yêu cầu của thị trờng thế giới, xây dựng quy chế bắt buộc về áp
dụng tiêu chuẩn chất lợng gạo xuất khẩu.
- T nhân hóa và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc trông lĩnh vực xay xát gạo nói
riêng và trong toàn kênh thu mua nói chung, nhờ đó nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống
thu mua chế biến của Việt Nam so với các nớc xuất khẩu gạo khác.
- Thu hút vốn FDI vào lĩnh vực chế biến gạo, cũng nh chế biến một số lơng thực, thực
phẩm khác. Điều này một mặt mở rộng mối quan hệ giữa ngời sản xuất và doanh nghiệp
chế biến, mặt khác góp phần cải thiện công nghệ xay xát và nâng cao chất lợng gạo xuất
khẩu.
3. Về tổ chức thu mua lúa hàng hoá
Do hệ thống kênh thu mua của Việt Nam quá cồng kềnh nên lợi tức thu mua qua
công đoạn thấp. Lợi nhuận đặc biệt cao thờng chỉ thu đợc ở các công đoạn do doanh
nghiệp quốc doanh tiến hành.
Nhà nớc cần xây dựng hệ thống tổ chức thu mua lúa hàng hoá phục vụ xuất khẩu gần
với chính quyền địa phơng trong vùng quy hoạch. Tiến tới hình thành mạng lới theo mô
hình HTX hoặc tổ hợp tác thu mua lúa thống nhất giữa các địa phơng theo phơng thức và
giá sàn quy định của nhà nớc. Giải quyết thỏa đáng quan hệ giữa nhà nớc, nông dân và các
của các doanh nghiệp, mặt khác cơ quan quản lý vĩ mô phải có trách nhiệm thực hiện các
hoạt động khâu nối đàm phán.
- Khai thác thị trờng Trung Quốc: đây là nớc có dân số đông nhất thế giới với khoảng
1,3 tỷ dân, Trung Quốc là thị trờng có mức tiêu thụ lớn, trong những năm gần đây Trung
Quốc nhập khẩu khá nhiều gạo của Việt Nam nhng chủ yếu là nhập khẩu tiểu ngạch. Đối
với thị trờng này đòi hỏi nhà nớc phải có sự chỉ đạo đồng nhất trong hoạt động xuất khẩu.
Thực hiện đàm phán, ký kết các hiệp định thơng mại ở các cấp độ khác nhau (Cấp Tỉnh,
Trung ơng, Cấp Tỉnh, Huyện) bảo đảm quan hệ ngoại thơng lâu dài và ổn định nhằm tránh
những rủi ro và tổn thất.
- Thị trờng các nớc ASEAN, trong giai đoạn chuyển đổi thị trờng xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm lúa gạo của Việt Nam nói riêng, thị trờng
ASEAN đóng vai trò quan trọng và chiếm một tỷ lệ lớn. Tuy nhiên, từ 1996 đến nay đã có
những thay đổi, xu hớng giảm tỷ lệ xuất khẩu về đặc trng cơ bản của các nớc ASEAN là
có cơ cấu sản phẩm nông nghiệp giống nhau nên các nớc này nhập khẩu gạo của Việt Nam
chủ yếu là hình thức tạm nhập tái xuất, đặc biệt là Singapo nên không phù hợp với yêu cầu
nâng cao giá trị xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam trên thị trờng thế giới. Mặt khác do tác
động của Hiệp định u đãi thuế quan (CEPT/AFTA) ít có tác động đến khối lợng xuất khẩu
các sản phẩm nông sản nói chung và sản phẩm lúa gạo của Việt Nam nói riêng trong tơng
lai. Tuy nhiên, thị trờng ASEAN vẫn là thị trờng xuất khẩu quan trọng đối với gạo xuất
khẩu của Việt Nam.
5. Về quản lý và điều hành hoạt động xuất khẩu gạo giai đoạn 2001 – 2005
Để đáp ứng yêu cầu và tình hình thực tế trong giai đoạn tới, ngày 4/4/2001 Chính
phủ đã có quyết định số 46/2001/QĐ - TTg về xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2001 – 2005.
Theo tinh thần của nghị quyết này sẽ bãi bỏ cơ chế hạn ngạch xuất khẩu gạo cũng nh việc
quy định doanh nghiệp đầu t xuất khẩu. Đây là một bớc đột phá mới trong cơ chế chính
sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế đợc xuất khẩu gạo chỉ cần có đăng ký kinh doanh ngành hàng lơng thực hoặc nông
sản.
Đối với những hợp đồng xuất khẩu gạo sang một số thị trờng có sự thỏa thuận giữa
Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nớc (hợp đồng Chính phủ) Bộ NN&PTNN kết
giao hàng cần thực hiện tổng hợp và hoàn chỉnh.
- Hệ thống điều hành xuất khẩu gạo cần đợc hoàn thiện từ việc cấp phép, hải quan
đến hoạt động tại cảng. Các việc này tuy đã cải tiến nhng cần tạo mọi điều kiện cho doanh
nghiệp xuất khẩu gạo.
- Chiến lợc thị trờng của cấp Chính phủ là mở đờng cho doanh nghiệp kinh doanh
mở rộng xuất khẩu. Từ việc cấp vốn, tín dụng, cho vay tạo thuận lợi cho ngời nông dân
sản xuất gạo nhiều và tốt theo chiến lợc kết hợp Bốn nhà (Nhà nớc, nhà sản xuất, nhà kinh
doanh xuất khẩu và nhà khoa học) kết hợp thành một mối tạo sức mạnh tổng hợp đẩy
mạnh xuất khẩu gạo Việt Nam ra thị trờng thế giới.
KẾT LUẬN
Trong những năm vừa qua, khối lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã liên tục tăng
lên. Tuy nhiên, khối lợng xuất khẩu thực tế vẫn cha đạt đến giới hạn có thể xuất khẩu.
(Giới hạn có thể xuất khẩu đợc xác định dựa trên cân đối giữa mức đảm bảo tiêu dùng
lơng thực trong nớc (theo qui định về số calo cần thiết cho mỗi ngời/ngày) và sản lợng
trong nớc). Nh vậy, khả năng huy động sản lợng gạo cho xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn,
ngay cả trong trờng hợp sản lợng sản xuất tăng thấp hơn giai đoạn trớc. Hơn nữa chất lợng
gạo xuất khẩu hiện nay cũng đang đợc Việt Nam quan tâm nhiều hơn cả từ lựa chọn giống
mới và đầu t thiết bị chế biến.
Bên cạnh đó, việc khẳng định và phát huy ngày càng cao hơn nữa vị thế là nớc xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới dựa trên những thế mạnh và tiềm năng sẵn có cùng các chủ
trơng, chính sách kịp thời là một hớng đi đặc biệt cần thiết.
Chính vì vậy, đề tài xuất khẩu gạo vẫn luôn là nhiệm vụ quan trọng cho việc mở
rộng thêm thị phần và sản xuất những loại gạo chất lợng cao, đáp ứng đa dạng các nhu cầu
của thế giới, góp phần không nhỏ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Cuối cùng, em xim chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS
Trần Văn Chu và các thầy cô giáo trong khoa, cùng với sự giúp đỡ tạo điều kiện của tập
thể cán bộ Viện nghiên cứu thơng mại đặc biệt là Trởng phòng Quan hệ hợp tác quốc tế
thầy Vũ Tiến Dơng đã giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn này.
Bảng chữ viết tắt
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long