Đọ phì, nâng cao và quản lý độ phì của đất - Pdf 20

PHẦN I. MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống. Trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu
sản xuất không thể thay thế được. Do vậy, lĩnh vực đánh giá tài nguyên đất rất được quan
tâm nhằm đề ra các giải pháp sử dụng đất hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ nhất định.
Việt Nam là nước 3/4 diện tích đất ở vùng đồi núi, có độ dốc cao, lượng mưa lớn
(1800 - 2000mm/năm) tập trung vào 4 - 5 tháng mùa mưa với lượng mưa chiếm tới 80% tổng
lượng mưa, thì hiện tượng xói mòn đất luôn xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng. Phải làm gì
để đảm bảo lương thực cho khoảng 85 triệu dân như hiện nay, trong khi diện tích đất nông
nghiệp ngày một bị thu hẹp?, phải sử dụng đất như thế nào để có năng suất cây trồng cao
nhất và bền vững
Từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: "Độ phì, quản lý và
nâng cao độ phì nhiêu của đất" vì đây chính là cơ sở của một nền nông nghiệp bền vững
Nguyễn Trọng Tuyển

1
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỘ PHÌ?
2.1.1. Độ phì nhiêu của đất?
Trong sản xuất nông nghiệp đất là tư liệu sản xuất cơ bản, phổ biến, quý báu nhất.
Tư liệu sản xuất này nếu được sử dụng đúng thì nó không những không bị hao mòn mà có
thể ngày một tốt hơn.
Muốn sử dụng đúng đất phải đánh giá được chất lượng của chúng. Muốn xây dựng,
chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp cũng phải nắm được chất lượng đất. Trong
các chương trước, khi nói về thành phần và tính chất của đất chúng ta đều có nhận xét và
đánh giá từng mặt của đất. Nhưng để đánh giá tổng hợp chất lượng của đất phải có chỗ dựa
vững chắc. Chỗ dựa này chính là khả năng sản xuất ra sản phẩm cây trồng.
Khả năng sản xuất của đất cũng chính là nội dung chủ yếu của độ phì nhiêu đất. Sự
phát triển của học thuyết độ phì nhiêu đất gắn liền với tên tuổi của V. R. Viliamx. Ông đã
nghiên cứu một cách chi tiết sự hình thành và phát triển của độ phì nhiêu trong quá trình hình
thành đất tự nhiên, các điều kiện xuất hiện độ phì nhiêu trong sự phụ thuộc vào một số đặc

lượng cho phép phân loại các thông số độ phì nhiêu đất phù hợp với yêu cầu của cây trồng
đã được làm sáng tỏ .
Khi đánh giá vai trò của từng đặc tính và chế độ đất trong quá trình hình thành độ phì
cần phải nhấn mạnh các luận điểm cơ bản sau: Độ phì nhiêu là kết quả của sự tương tác
phức tạp, tương tác của các đặc tính và chế độ đất; các chỉ tiêu đặc tính và chế độ đất có thể
được đánh giá về mặt số lượng; thực vật khác nhau có các yêu cầu không giống nhau về các
đặc tính và chế độ đất; đặc tính và chế độ đất có tính chất động thái, nghĩa là chúng bị thay
đổi theo thời gian.
Các chế độ và từng đặc tính của đất được hình thành trong mối quan hệ phụ thuộc và
tác động tương hỗ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, chế độ dinh dưỡng của đất là kết quả của quá
trình biến đổi phức tạp của các hợp chất vô cơ, các quá trình khoáng hoá và mùn hoá chất
hữu cơ, hoạt động của các nhóm vi sinh vật và động vật đất, ảnh hưởng của các điều kiện
kiềm-axit của môi trường, động thái của quá trình oxi hoá khử, các chế độ nước, khí và nhiệt
trong đất…
Ngược lại, chế độ oxi hoá khử phụ lại phụ thuộc vào hàm lượng và dạng chất hữu cơ,
đặc tính vật lý của đất (quyết định điều kiện thông khí), các điều kiện thuỷ nhiệt của các quá
trình vi sinh vật trong đất…
Nguyễn Trọng Tuyển

3
Cấu trúc của đất là một đặc tính quan trọng của đất gắn liền với các chế độ nước-khí,
oxi hoá khử, các chỉ tiêu nông học đất phụ thuộc vào hàm lượng và thành phần mùn, thành
phần cơ giới, các đặc tính lý hoá học và sự biến chuyển của các quá trình oxi hoá khử…
Mối quan hệ chặt chẽ giữa các đặc tính và chế độ của đất một mặt cho thấy sự hình
thành và phát triển độ phì nhiêu là một quá trình phức tạp, mặt khác đòi hỏi các nhà nông
học phải hiểu rằng có thể thay đổi từng đặc tính hoặc chế độ của đất khi tác động đến đất
bằng các biện pháp xử lý, cải tạo, bón phân… khác nhau.
Có thể đánh giá định lượng đội phì nhiêu đất về kinh tế và sinh học
Đánh giá định lượng độ phì về mặt kinh tế dựa trên cơ sở đánh giá tương đối bằng
cách cho điểm các chỉ tiêu định lượng các đặc tính của đất tương quan với năng suất cây

cây, các dạng hợp chất của nó và sự tác động tương hỗ phức tạp của tất cả các đặc tính khác
quyết định khả năng của đất trong những điều kiện thuận lợi có thể đảm bảo các yếu tố:
nước, không khí, nhiệt và huy động một lượng cần thiết các nguyên tố dinh dưỡng cho cây.
Ví dụ, P trong đất đỏ có thể tồn tại ở nhiều dạng: phốt phát hữu cơ, phốt phát canxi, phốt
phat sắt, nhôm…Cây trồng tạm thời chưa sử dụng được các phốt phát sắt, nhôm vì chúng rất
khó tan.
Sự khai thác đất để canh tác nông nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi cơ bản sự phát
triển tự nhiên của các quá trình, chế độ và đặc tính của đất. Sự thay đổi này được gây ra do
xử lý, bón phân, cải tạo đất…Sự thay đổi về mặt chất lượng và số lượng các đặc tính và chế
độ của đất do tác động của con người đặc trưng cho độ phì nhân tạo.
Trình độ khoa học càng phát triển thì vai trò của con người đối với đất càng lớn. Từ
chỗ con người chỉ biết lợi dụng độ phì tự nhiên của đất (trồng, cấy chay), tiến lên biết cách
chuyển hoá độ phì tiềm tàng thành hiệu lực, biết cải tạo những tính chất xấu của đất, con
người đã làm thay đổi hẳn độ phì nhiêu của đất và tạo ra độ phì mới: độ phì nhân tạo.
Như vậy trên những mảnh đất có độ phì tự nhiên như nhau, một phần nhất định của
độ phì này được cây sử dụng. Mức độ sử dụng phần độ phì còn lại tuỳ thuộc vào tác động
của người dụng đất.
Để nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa đất với điều kiện kinh tế, xã hội, người ta đã
đưa ra khái niệm độ phì kinh tế. Khi sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp, sự kết hợp giữa
độ phì nhân tạo với độ phì tự nhiên tạo ra độ phì kinh tế (hoặc độ phì hữu hiệu). Nó được
thể hiện bằng năng suất cây trồng. Độ phì kinh tế không chỉ phụ thuộc vào mức độ của độ phì
nhiêu tự nhiên mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện sử dụng đất, gắn chặt chẽ với
các quan hệ kinh tế xã hội. Vì vậy, mặc dù độ phì là một đặc tính khách quan của đất, nhưng
Nguyễn Trọng Tuyển

5
về phương diện kinh tế phải luôn hiểu theo một tương quan nhất định, tương quan với mức
độ phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng các thành tựu này.
2.1.3. Các chỉ tiêu quan trọng của độ phì đất
2.1.3.1. Ch ỉ tiêu hình thái :

Thành phần cơ giới đất
Dung trọng (g/cm
3
)
Khoảng dao động Trung bình
Đất cát 1,55 - 1,80 1,65
Đất thị pha cát 1,40 - 1,60 1,50
Đất thịt 1,35 - 1,60 1,40
Đất thị pha sét 1,30 - 1,40 1,35
Đất sét pha limon 1,25 - 1,35 1,30
Đất sét 1,20 - 1,30 1,25
Nguồn: Agricultural Compendium, 1989
Nguyễn Trọng Tuyển

7
Bảng 3. Dung trọng của các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau
TT Thành phần cơ giới Dung trọng (g/cm
3
)
1 Đất cát 1,55
2 Đất thịt pha cát 1,40
3 Đất thịt pha cát mịn 1,30
4 Đất thịt 1,20
5 Đất thị pha limon 1,15
6 Đất thịt pha sét 1,10
7 Đất sét 1,05
8 Đất sét có kết cấu 1,00
Nguồn: Chất lượng đất đai trên cơ sở đất, W. Siderius, 1992.
* Độ xốp của đất (P)
- Nếu được tính bằng phần trăm diện tích bề mặt các lỗ rỗng so với tổng diện

SMT
(cm)
pF Đường kính mao
quản (µm)
SMT
(cm)
pF
3000 1,0 0,00 (SP) 9 340 2,51 (ME)
1200 2,5 0,40 3 1000 3,00
1000 3,0 0,34 3 x10
-1
10000 4,00
300 10,0 1,00 2 x10
-1
15.000 4,18 (WP)
30 100,0 2,00 3 x10
-2
10
5
5,00
20 150,0 2,20 (FC) 3 x10
-3
10
6
6,00
15 200,0 2,30 3 x10
-4
10
7
7,00 (OD)

Khoảng
dao động
Trung
bình
Cát 10-20 15 4-10 7 6-10 8 23
Thịt pha cát 15-27 21 6-12 9 9-15 12 28
Thịt 25-36 31 11-17 14 14-20 17 33
Thịt pha sét 31-41 36 15-20 17 16-22 19 36
Sét pha limon 35-46 40 17-23 19 18-23 21 39
Sét 39-49 44 19-24 21 20-25 23 42
Nguồn: Agricultural Compendium, 1989
Ghi chú:
AMC - Hàm lượng nước hữu hiệu (available moisture content) bằng hiệu số của các
hàm lượng ẩm tại FC và WP và được biểu thị bằng phần trăm thể tích hoặc bằng mm/dm
đất.
* Chế độ nhiệt của đất: nhiệt độ đất là một trong những chỉ tiêu đặc trưng cho chế
độ nhiệt của nó, trong đó khoảng thời gian có nhiệt độ hoạt tính (> 10
o
C) ở độ sâu 20cm có ý
nghĩa đặc biệt (vì đa số rễ cây phân bố ở đây). Tổng nhiệt độ hoạt tính của lớp đất này là chỉ
tiêu cung cấp nhiệt chủ yếu của đất
Bảng 8. Đánh giá khả năng cung cấp nhiệt của đất ở Liên Xô cũ (V. N. Dimo)
Tổng nhiệt độ
hoạt tính của
đất ở đọ sâu
20cm (
o
C)
Khả năng cung cấp
nhiệt của đất


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status