Sổ tay thủy văn cầu đường - TÍNH TOÁN THUỶ LỰC CÔNG TRÌNH CẦU TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT part 4 doc - Pdf 20

Nếu bố trí vị trí cầu ở giữa quạt bồi đối diện với cửa núi thì do quạt bồi ở
giữa cao, hai bên thấp, nước sẽ dồn vào chỗ trũng nên việc thoát nước qua
cầu rất ít tác dụng và nước đọng ở chỗ trũng không tiêu được. Nếu vị trí cầu
đặt ở chỗ thấp về hai phía quạt bồi, dòng chủ thường thường xói thẳng vào
nền đường, ảnh hưởng tới an toàn của tuyến đường. Do đó tốt nhất nên tránh
khu vực quạt bồi. Nếu do điều kiện bắt buộc phải đặt vị trí cầu trên quạt bồi
tích thì cần có công trình kiên cố, không cho lưu lượng thay đổi và lòng chủ
di chuyển. Khi bố trí cầu ở gần cửa núi thì vị trí cầu phải đối diện với cửa
núi đồng thời dùng kè bó dòng nối liền từ cửa núi tới cầu và kéo dài thêm
một đoạn xuống hạ lưu để tránh dòng nước bị khuếch tán sau khi chảy qua
cầu, làm cho phù sa bồi ở cạnh khẩu độ cầu. Chiều cao kè bó dòng ngoài
việc căn cứ vào mực nước thiết kế bình thường còn cần phải căn cứ vào tài
liệu điều tra để xét tới tình hình bồi của lòng sông sau này.
Độ dốc cân bằng chuyển cát lòng sông sau khi ngừng bồi tích, có thể
dùng độ dốc của đoạn không bị bồi tích gần đó. Khi khảo sát thiết kế phải
dựa vào tài liệu điều tra được, xác định độ dốc cân bằng chuyển cát dòng
sông và đường mặt nước, đồng thời cần thêm một độ cao an toàn thích đáng
để xác định cao độ đỉnh đập. Kích thước mặt cắt kè thắt nước có thể tham
khảo số liệu liên quan ở chương VII hoặc các tài liệu khác để thiết kế; mặt
kè tiếp xúc với nước cần xét tới xói mặt dốc và lỗ chân kè, căn cứ lưu tốc
lớn nhỏ mà tiến hành thiết kế phòng hộ.
Khi cầu cách cửa núi tương đối xa, nếu dùng biện pháp làm kè bó
dòng nối tới cửa núi thì rõ ràng không hợp lý về kỹ thuật và kinh tế thì có
thể dùng phương án nhiều cầu qua các chi lưu chính. Lúc này tuyến đường
phải thẳng góc với quạt bồi, tức là tuyến đường phải song song với đường
đồng mức có góc chuyển hướng bằng góc khuếch tán dòng nước (xem hình
5-5). Vị trí tuyến đường như vậy rất tiện cho việc xử lý vấn đề điều tiết dòng
nước đồng thời làm cho chỗ trũng không bị bồi tích.

lượng thực đo nhiều năm đồng thời của các trạm thuỷ văn hoặc lưu lượng
tính toán bằng phương pháp hình thái, chấm đường cong quan hệ lưu lượng
tương ứng ở hai chỗ (xem đường cong OCF hình 5-6). Nói chung sau khi lũ
thoát qua cửa núi, đỉnh lũ truyền xuống phía dưới bị nhiều tổn thất như triết
giảm do nước tích, thẩm thấu vào lòng sông, mương tưới vào đồng ruộng
v.v nếu không có chi nhánh lớn đổ vào thì lưu lượng ở hạ lưu so với lưu
lượng ở thượng lưu thường nhỏ hơn.
Những năm ít nước, lưu lượng ở hạ
lưu nhỏ hơn nhiều lần so với lưu
lượng ở thượng lưu. Còn năm nhiều
nước thì lưu lượng dần dần tiến tới
bằng nhau. Sau đó căn cứ vào lưu
lượng lớn nhất lịch sử thu thập được ở
cửa núi, xác định lưu lượng lớn nhất
tại vị trí cầu theo phương pháp triết
giảm lũ (tham khảo chương III).
B
0

C

F

45
o

E
Q
TL
Q

5,0
5,0
RIW
KIRC
QQ
C
iii
Pi

(5-12)
trong đó:
Q
p
: tổng lưu lượng thiết kế tính gộp các cầu, m
3
/s;
Q
i
: lưu lượng thiết kế mỗi cầu, m
3
/s;
K: hệ số tăng cường khi xét tới trị số phân phối lưu lượng không ổn
định (phương pháp xác định xem 5.1);
W
i
, C
i
, R
i
, I

tràn ra sông lớn.
Sông nội địa khi chảy qua vùng núi thì có lòng sông sâu rõ ràng, tới
vùng bằng phẳng, lòng sông rộng nông và uốn khúc, khi lũ nước chảy tràn
lan, độ dốc thoải, lưu tốc và lưu lượng so với vùng núi giảm đi, nhưng khi
dòng nước chảy vào khu vực ao hồ lòng sông mất đi, mặt nước rất rộng, độ
dốc rất nhỏ, lưu tốc, lưu lượng cũng nhỏ hơn.
b. Xác định mực nước thiết kế
Nếu không có tài liệu quan trắc thuỷ văn, có thể tham khảo công thức
(2 – 45).
c. Xác định lưu lượng thiết kế
Khu vực hồ ao đầm lầy thường không có người ở, tài liệu của trạm
thuỷ văn thiếu, điều tra mực nước lũ lịch sử lại rất khó khăn. Do bãi sông
rộng nên nếu mực nước chỉ sai một chút thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến lưu
lượng. Dưới đây giới thiệu một số phương pháp tính, khi ứng dụng nên đối
chiếu lẫn nhau.
 Phương pháp hình thái:
Tiến hành khảo sát hình thái tại chỗ cửa núi phía thượng lưu để xác
định lưu lượng lớn nhất lịch sử. Dựa vào trị số C
v
, C
s
của vùng đó tính đổi
thành lưu lượng theo tần suất thiết kế rồi dùng phương pháp triết giảm
truyền lũ (xem chương III), tính ra lưu lượng ở chỗ sông đổ vào hồ.
Nếu điều kiện cho phép, đo mặt cắt hình thái cạnh bờ hồ và tính lưu
lượng để đối chiếu.
 Phương pháp tính theo công thức Đ.L.Xôkôlôpxki
Sau khi điều tra và tính được lưu lượng lớn nhất lịch sử cửa núi rồi
xác định hệ số dòng chảy theo công thức:
 

: hệ số dòng chảy khu vực tương ứng với tần suất lũ lịch sử ,tra bảng
2 - 11.
Căn cứ vào hệ số dòng chảy a’ tính lưu lượng ứng với tần suất thiết kế
chỗ cửa núi theo công thức Đ.L.Xôkôlôpxki.
Cũng có thể tính lưu lượng ở cạnh hồ ao theo công thức
Đ.L.Xôkôlôpxki nhưng khi xác định trị số  dùng thời gian tập trung nước t
bằng công thức sau:
2
2
1
1
67,16
V
L
V
L
t 










(5-15)
trong đó:
L


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status