VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỶ XVIII (VĂN HỌC ÁNH SÁNG) I.Khái quát
Thế kỷ XVIII đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng trong quá trình phát triển của các
nước phương Tây. Nó tồn tại trong lịch sử với cái tên đẹp là thế kỷ Ánh sáng. Văn học ánh sáng
châu Âu đã đóng góp cho đời nhiều cây bút tên tuổi như Defoe, Swift, Montesquieu, Voltaire, J.
J. Rousseau, Diderot, Schiller, Goethe . . .
1.Ðặc trưng lịch sử xã hội Phương Tây thế kỷ XVIII
Chế độ phong kiến tồn tại ở Phương Tây trong một thời gian dài, cho đến thế kỷ XVIII đã trở
thành một chướng ngại cho sự phát triển của xã hội. Giai cấp tư sản lớn mạnh dần và mâu thuẩn
giữa tư sản với phong kiến ngày càng gay gắt đây là thời kỳ cuộc đấu tranh chống phong kiến
diễn ra trên toàn châu Âu. Sau cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII là cách mạng tư sản Pháp
cuối thế kỷ XVIII. Thế kỷ XVIII ở phương Tây trở thành cái mốùc quan trọng đánh dấu thời kỳ
tan rã của chế độ phong kiến và thắng lợi của cách mạng tư sản trên qui mô rộng lớn.
2.Ý nghĩa của phong trào Ánh sáng
Chế độ phong kiến kết hợp với chính sách ngu dân của giáo hội đã kìm hảm con người trong
vòng ngu tối. Các triết gia, các nhà tư tưởng, nhà văn của thế kỷ XVIII đã dấy lên phong trào đề
cao lý trí, dùng ánh sáng của lý trí để xua tan bóng tối, giải phóng tư tưởng, mở mang trí tuệ cho
con người. Aùnh sáng của lý trí soi khắp các lĩnh vực chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, giáo dục,
triết học, pháp luật . . . và trở thành một vũ khí chống phong kiến sắc bén. Công trình đồ sộ Bách
khoa toàn thư do Diderot lãnh đạo việc biên soạn là một biểu hiện tập trung của phong trào.Do
đó mà xuất hiện thuật ngữ Aùnh sáng. Anghen đánh giá các nhà văn Pháp thế kỷ XVIII là:
Những vĩ nhân soi sáng đầu óc con người để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp bùng nổ.
Thuật ngữ Ánh sáng chỉ vai trò tiến bộ lịch sử của giai cấp tư sản so với chế độ phong kiến già
4/ Thời kỳ 4 :Từ 1789-1799 Thời kỳ phát triển mạnh của loại văn chương báo chí, hùng biện, xu
hướng tìm cảm hứng từ văn học cổ đại.
*Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu:
1. Montesquieu(1689-1755)
Montesquieu không phải là một nhà văn lớn nhất của thế kỷ Aùnh sáng, nhưng ông lại là người
đặt nền tảng cho nền văn chương chính trị ở pháp. Ông cũng là người đầu tiên đã hình thành
được những nguyên tắc cơ bản của phong trào Aùnh sáng Pháp, có giá trị dẫn đường cho cả thế
kỷ của mình, mặc dù ông cá nhiều hạn chế so với các tên tuổi như Voltaire, Diderot
Montesquieu thuộc dòng dõi qúi tộc nhưng sa sút. Cha mẹ mất sớm, ông được chú nuôi và sau
này ông đã thừa hưởng tước vị của chú, là nam tước De Montesquieu. Ông là một người điềm
đạm, thiên về lý trí. Năm 1716, ông trở thành chủ tịch nghị viện Bordeaux. Chức vụ và nghề
nghiệp không làm ông hết say mê khoa học và văn chương. Nhiệt tình nghiên cứu khoa học và
lòng khát khao hiểu biết của Montesquieu trên khắp các lĩnh vực, mang đậm tính chất duy lý và
thế tục của ông trong thời kì này đã báo hiệu trước nền triết học Aùnh sáng tương lai. Năm 1721
tài năng Montesquieu bộc lộ trong tác phẩm Những bức thư BaTư rất được hoan nghênh và tái
bản nhiều lần. Sau đó là sự ra đời của Tinh thần pháp luật, tác phẩm lớn nhất của Montesquieu,
bên cạnh một tác phẩm nổi tiếng khác: Suy nghĩ về thịnh và suy của người La Mã.
Những bức thư Ba Tư là một sự kiện văn học lớn thời bấy giờ. Ðược xuất bản ở Amsterdam năm
1721, là một tiểu thuyết bằng thư gồm có cả 164 bức, nội dung là cuộc trao đổi tin tức, nhận
định, giữa Udơbêch, một quý tộc Ba Tư đi du lịch Châu Âu để tìm hiểu văn hóa các nước. Các
cung phi của ông được giao cho bọn hoạn quan canh giữ. Udơbêch và bạn đồng hành là Rica
thường xuyên trao đổi thư từ với bạn bè trong nước, bàn bạc, nhận xét về nền văn minh Châu Âu
dưới triều Louis XIV. Xen vào đó là các thư từ với bọn hoạn quan về tình hình hậu cung và hạnh
kiểm của các cung phi từ ngày Udơbêch ra đi. Các cung phi đã tìm cách tư tình với những người
lâu đài của bà Du Châtelet. Ông trải qua 10 năm ở đây dưới sự bảo trợ của bà này và sáng tác rất
nhiều về đủ mọi thể loại: triết học, bi kịch, hài kịch, là những lãnh vực mà ông ưa thích nhất.
Năm 1744 triều đình Pháp lại dàn hoà với Voltaire. Ông giữ chức sử quan và 1776 được bầu vào
Hàn Lâm Viện. Sau ba năm hăng hái, ông lại thất vọng , chán nản và bỏ triều đình.
Năm 1750 ông kết thân với vua Phổ Féredic II và nhận lời mời đến Potxdam. Nhưng ông chỉ hài
lòng với vài ngày đầu tiên sống trên nước Phổ vì cho rằng nhà vua là một minh quân biết trọng
hiền tài. Nhưng ông đã lầm. Ông lại mâu thuẫn với vua và trở về nước.
Voltaire không dám trở về Paris, ông sống lang thang mấy năm ở vùng Alsace, Lorraine rồi đầu
năm 1755 ông đến Thụy Sĩ, mua một ngôi nhà ở gần Genève và trú ngụ tại đó. Trong giai đoạn
này ông sáng tác các truyện triết học nổi tiếng : Zadid hay Số Mệnh (1747), Candide hay Chủ
nghĩa lạc quan (1759) và một số kịch.
Cuối đời, ông sống tại thái ấp Ferney gần bên giới Pháp - Thụy Sĩ. Ôâng vẫn sáng tác và trao đổi
thư từ với bạn bè. Ông tiếp tục sáng tác truyện triết học, trong đó có Chất Phác (1647), và một số
kịch.
Tháng hai 1778 ông bất chấp lệnh cấm trở về Paris và được quần chúng đón tiếp trọng thể. Ðã 84
tuổi, Voltaire còn giúp Viện Hàn Lâm soạn quyển từ điển ngôn ngữ Pháp. Nhưng chưa kịp làm
thì ông mất. Ðến năm 1791 ông được cải táng vào nghĩa trang Panthéon, với dòng chữ ghi trên
mộ: Người đã chuẩn bị cho chúng ta đi đến tự do.
Voltaire được biết đến ở nhiều khía cạnh: nhà thơ, nhà triết học, tiểu thuyết, kịch . . . Truyện triết
học của Voltaire là một bộ phận nổi tiếng trong sự nghiệp của Voltaire.
Trong truyện triết học của ông, chế độ phong kiến đương thời bị phê phán nghiêm khắc với triều
đình tham nhũng đầy tệ nạn, tôn giáo với những tín điều mù quáng, bọn thầy tu dâm đãng và
cuồng tín, nhũng học thuyết lừa bịp và phản động như : Thuyết hài hòa tiền định. Một vấn đề lớn
Mẹ ông mất sớm, Rousseau được gửi tới bên ngoại ăn học tại nhà một mục sư trong 2 năm (1772
1774). Ðây là những năm tháng duy nhất ông được đi học. Khi ông ông trở về Genève, Rousseau
làm nhiều nghề để kiếm sống. Năm 1728 ông quyết chí ra đi tìm chốn tự do, sau thời thiếu niên
không có tình thương của cha mẹ mà cũng không được trang bị học thức cần thiết để bước vào
đời.
Từ năm 1728 1741, là quảng đời ông phiêu bạt với nhiều cay đắng. Nhờ mối quan hệ với bà De
Varen, một người phụ nữ quý tộc làm việc hướng dẫn những người ngoại đạo trở về với đạo Cơ
Ðốc, sau nhiều băn khoăn, lựa chọn, ông đã sống dưới sự bảo trợ của người phụ nữ này trong
khoảng thời gian từ 1732 1736. Năm 1742, ông đi Paris, mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đời
ông.
Lên Paris, ông kết bạn với Diderot lúc ấy cũng còn đang nghèo khổ. Ông bắt đầu lui tới các
phòng khách văn học, và quen biết thêm nhiều người có tên tuổi như Voltaire. Rousseau hành
nghề dạy nhạc để kiếm sống, làm thư ký cho bà Dupin, rồi cho ông De Montaigue, sứ thần Pháp
ở Venise. Năm 1744 ông thôi việc và trở về Paris, càng thấm thía những bất công xã hội.
Năm 1746 ông quen Thérèse Levasse, một cô gái nghèo làm nghề giặt giũ thuê, là người sẽ trở
thành vợ ông, là người nâng đỡ ông trong cảnh nghèo khổ túng thiếu.
Rousseau đến với văn học khá đột ngột. Tình cờ ông đọc tin tức về một cuộc thi do Hàn lâm viện
Dijon tổ chức. Ông tham gia và được giải thưởng với tác phẩm Luận về khoa học và nghệ thuật.
Ông trở thành nổi tiếng, và lao vào con đường sáng tác. Luận văn thứ hai Luận về sự bất bình
đẳng không thành công. Rousseau từ bỏ nước Pháp, nơi mà ông coi là quê hương cuả sự bất bình
đẳng để về Genève. Bị đối xử lạnh nhạt, ông lại trở về Pháp và được sự bảo trợ của bà DEùpinay
và sống tại Hermitage, trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng và không còn bận tâm về cơm áo.
Ðây là thời kỳ ông sáng tác các tác phẩm quan trọng: Nàng Héloise mới (La Nouvelle Héloise),
Khế ước xã hội (Contract social), Emile hay về giáo dục . Ðây cũng là thời kỳ ông mâu thuẫn
với hầu hết các nhà văn, nhà tư tưởng đương thời như Voltaire, Diderot .
sư mới hết nhiệm vụ.
Ðây là một luận văn giàu tính tiểu thuyết, với sự kết hợp giữa tư duy logic và tư duy hình ảnh.
tác phẩm thể hiện mục đích của Rousseau là giáo dục con người sao cho nó vẫn còn bảo tồn
được những tư chất bẩm sinh tốt đẹp. Ông chống lối giáo dục nhồi sọ, thiếu thực tế và bóp méo
thiên tính của con người. Dù còn nhiều chất ảo tưởng, cực đoan, tác phẩm trên vẫn có một giá trị
mới mẻ và nhiều yếu tố tích cực, là tiếng nói của phong trào Aùnh sáng hướng về con người.
Nàng Héloise mới là một tiểu thuyết bằng thư, nói về mối tình của chàng gia sư trẻ Saint Preux
và cô học trò Julie, trong một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng trữ tình. Mối tình này bị ngăn trở
vì cách biệt giai cấp. Julie phải lấy chồng theo lệnh của cha. Saint Preux ra đi. Sáu năm sau
chàng trở về và gặp lại Julie, trở thành gia sư của các con nàng theo lời mời của chồng Julie.
Tình xưa sống dậy. Cả hai đều rất đau khổ. Julie cảm lạnh và qua đời sau khi nhảy xuống hồ
nước cứu con. Trước khi chết, nàng còn viết thư cho Saint Preux bày tỏ tình cảm của mình.
Tác phẩm đã trình bày mâu thuẫn giữa tình yêu tự nhiên và định kiến xã hội gay gắt đã vùi dập
hạnh phúc của con người. Julie trước hết là một bản trường ca tình cảm, với những khẳng định
hùng hồn, những ca ngợi nhiệt thành mốt tình giữa cảnh thiên nhiên nông thôn giản dị mà thơ
mộng. Julie có tiếng vang rộng lớn ở Pháp và Châu Aâu. Nó đã mở đường cho trào lưu tình cảm
trong văn học và ảnh hưởng sâu sắc đến dòng văn học lãng mạn Pháp sẽ phát triển rực rỡ vào
đầu thế kỷ XIX.
III.Văn học Anh thế kỷ XVIII.
Nước Anh trong thế kỷ XVIII có nhiều bước phát triển sớm hơn so với nhiều nước Tây Aâu khác
như Ðức, Pháp.Ðiều đó đã để lại nhiều dấu ấn trong văn học Anh thế kỷ XVIII.
Thời kỳ này, nước Anh không có nhiều cây đại thụ như ở Pháp, nhưng trên một số lĩnh vực khác
lại nảy nở những khía cạnh mới, có ảnh hưởng nhất định đến các quốc gia khác.
Sinh trưởng trong một gia đình kinh doanh theo Thanh giáo. Từ nhỏ ông được gia đình hướng
vào việc trở thành mục sư. Nhưng ông rời bỏ nhà trường để đi vào con đường kinh doanh nhiều
thứ hàng hóa, có lúc phát đạt và có lúc thua lỗ. Ông có đi du lịch một thời gian và khi về, lập gia
đình rồi lại kinh doanh cho đến già.
Defoe cũng tham gia chính trị, theo xu hướng chống quân chủ và đạo Cơ đốc. Ông ủng hộ chủ
trương thành lập chế độ quân chủ lập hiến. Ông đã sáng tác các tiểu luận về chính trị, xã hội,
kinh tế (như : Khảo luận vế các dự án, Vòng quanh khắp đảo Anh quốc, Người thương nhân Anh
toàn diện, Nhà quý phái Anh toàn diện . . .) Vì chống đối nữ hoàng Anne, ông bị ra tòa và bị hình
phạt trên đài bêu 3 ngày, nhưng đó lại là 3 ngày vinh quang của ông. Trong khi đó ông viết Ca
ngợi đài bêu. Giai đoạn cuối đời, ông lại ngả về phía chính quyền.
Defoe bước vào văn chương năm 59 tuổi, với tiểu thuyết Robinson Crusoé và sau đó nhiều tác
phẩm khác như : Ðại tá Jack, Cô Rôxana, thủ lĩnh Xingleton . . . đã đưa ông đến vinh quang
trong văn học. Ông được đánh giá là một trong những người đã sáng lập ra nền tiểu thuyết của
Anh và cả Châu Âu.
Robinson Crusoé là một tiểu thuyết kể về cuộc phiêu lưu của Robinson, một con người ưa hoạt
động,ham phiêu lưu, thích đi tìm những vùng đất lạ, bất chấp gian nan nguy hiểm. Chàng bị đắm
tàu trong một chuyến vượt biển đến Guineé, giạt vào một đảo hoang.
Trơ trọi một mình giữa chốn hoang vu không có con người, chàng vẫn không nản lòng. Chàng
vớt được một ít đồ vật: Hạt lúa mì, súng, đạn, rương đồ nghề thợ mộc . . . chàng dựng lều làm
nhà, săn bắn kiếm ăn, chăn nuôi, trồng trọt, chỉ có bạn là một con vẹt và một con chó. Ðến năm
thứ 25 trên đảo, chàng phát hiện có thổ dân trên đảo và họ đang chẩn bị hành hình một tù binh.
Chàng cứu nạn nhân và đem về làm bạn đặt tên là Thứ Sáu. Sau đó cha của Thứ Sáu xuất hiện,
cuộc sống trên đảo vui hơn.
Cuối cùng, chàng giúp đở một thuyền trưởng bị bọn nổi loạn chiếm tàu. Chàng cùng Thứ Sáu trở
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Gulliver du ký (Gullivers travels) thuật lại những cuộc phiêu
lưu của nhân vật chính là Gulliver, lần lượt đi qua các đất nước lạ thường, trước hết là xứ sở của
những người tí hon (Liliput). Chàng được vua và dân nước này tin dùng yêu mến. Tác phẩm
cũng kể lại những xung đột chính trị trong nội bộ nước này, giữa đảng Gót giày cao và đảng Gót
giày thấp, vàxung đột ngoại giao với đất nước Blifuscu vì sự bất đồng giữa hai giáo phái Aên
trứng đập đầu to và Aên trúng đập đầu nhỏ. Chàng giúp Liliput đánh bại Blifuscu, được vua
trọng đãi nhưng lại bị quần thần ghen ghét, hảm hại, phải rời Liliput và sau cùng cũng trở về
được quê hương.
Phần thứ hai của tác phẩm là cuộc phiêu lưu của Gulliver đến xứ sở của người khổng lồ
Broodingnac. Chàng bị dân khổng lồ bắt được, bán làm xiếc và trở thành vật giải trí cho triều
đình. Chàng được nhiều lần hầu chuyện vua và trao đổi về các vấn đề chính trị, luật pháp. . .Một
hôm chàng bị một con chim cắp mang đi và đánh rơi giữa biển, được một chiếc tàu thủy vớt
mang về quê hương.
Phần ba, Gulliver đi đến đảo Laputa, là nơi mà các nhà sử học, triết gia, bác học nghiên cứu
nhiều điều rồ dại, với những công trình vớ vẩn, ngu ngốc. Sang một đảo khác chàng lại gặp
những thày bói và pháp sư. Chàng gọi hồn tiền nhân và được biết nhân loại đãbị lừa gạt bởi các
nhà văn dối trá và hư hỏng, đã gán cho những thằng ngốc những điều không ngoan, biến kẻ gian
xảo thành người trung htực, kẻ phản bội thành người lương thiện. . .Chàng lại đến một nơi mà cư
dân toàn là những người bất tử và họ rất khốn khổ vì điều đó.
Phần cuối cùng chàng qua xứ sở được cai quản bởi những con ngựa tốt và đạo đức, và gặp một
giống người xấu xí, không phẩm giá và lương tri.
Gulliver du ký mang nhiều ý nghĩa ám chỉ và phê phán xã hội Anh đương thời, và thể hiện ước
mơ của tác giả về một thế giới hạnh phúc giành cho con người. Ngòi bút châm biếm đầy tài năng
của Swift đã khiến ông có biệt danh là Rabelais của nước Anh
Tinh thần nhân đạo cao cả của Goethe toát lên từ chủ đề của vở kịch, qua mối quan hệ của Faust
và Méphistophèle. Faust và Méphisto là hai tính cách hoàn toàn đối lập nhau nhưng lại gặp nhau
ở một điểm là cùng phủ nhận cái trật tự xã hội trước mắt. Chính từ đấy xuất hiện tình huống
kịch: Faust ký giao kèo với Quỷ. Cả hai đều tin rằng mình sẽ thắng. Quỷ tin rằng có thể dễ dàng
làm cho Faust mãn nguyện trong khi Faust tin vào nỗ lực vươn lên của ông, cũng như của nhân
loại là không bao giờ dừng lại.
Thời gian Goethe làm luật sư ở Francfort chỉ kéo dài mấy năm. Tháng 11 năm 1775, Goethe
nhận lời mời của công tước K.August đến triều đình Weimar và quyết định ở lại đây. Ðây là một
công quốc nhỏ bé (20.000 dân, thủ phủ 6.000 dân). Goethe được cử làm cố vấn và ủy viên hội
đồng chính trị, rồi lần lượt làm giám đốc ngành mỏ, giám đốc ngành xây dựng cầu đường, làm
bộ trưởng chiến tranh, sau đó làm bộ trưởng tài chính và phụ trách ngành thuế, và từ tháng giêng
1782 lên đến chức tể tướng. Thời gian nay do nhu cầu công tác, Goethe đã đi sâu nghiên cứu
nhiều ngành khoa học, gặt hái được nhiều thành tựu và thực sự trở thành một nhà bác học.
Ngày 22 tháng 3 năm 1832 Goethe qua đời.