Chương V-Các nguồn lực của doanh nghiệp thương mại - Pdf 21

Chương V : Các nguồn lực của doanh nghiệp thương mại
Các nguồn lực của doanh nghiệp thương mại bao gồm tất cả các yếu tố
thuộc hệ thống bên trong của doanh nghiệp . Các doanh nghiệp cần cố gắng
đánh giá một cách cặn kẽ các yếu tố nội bộ nhằm xác định rõ ưu điểm và nhược
điểm của mình . Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược
điểm , phát huy các ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa trong từng chu kỳ kinh
doanh.
Chỉ xem xét về nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp cũng cho thấy rằng , sự sống
còn của doanh nghiệp suy cho cùng phụ thuộc vào khả năng donah nghiệp có
nhận được nguồn lực từ môi trường bên ngoài hay ko . Các nguồn lực chủ yếu
đẻ doanh nghiệp tồn tại bao gồm : Tiền vốn , con người và vật tư hàng hóa …
Mỗi bộ phận chức năng của doanh nghiệp có nhiệm vụ tìm kiếm , bảo toàn một
hoặc nhiều nguồn lực trên .Vì các nguồn lực mà doanh nghiệp cần lại nằm trong
tay các doanh nghiệp khác cho nên thường mỗi bộ phận chuyên môn giao dịch
với một hoặc nhiều doanh nghiệp bên ngoài đó và là móc xích lien kết giữa
doanh nghiệp với các doanh nghiệp bạn. Ví dụ bộ phận kinh doanh lien kết chặt
chẽ với người cung ứng tạo cho doanh nghiệp nguồn vốn từ hoạt động mua
chịu…
Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu một số nguồn lực cơ bản của
doanh nghiệp.
1. Nguồn lực lao động:
1.1Lao động trong doanh nghiệp thương mại:
1.1.1 Đặc điểm của lao động thương mại :
Lao động trong các doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần
thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàn hóa . Boa gồm lao động
thực hiện quá trìh mua bán , vận chuyển , đóng gói,chọn lọc, bỏa quản và quản
lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Mục đích lao động của họ là nhằm
đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dung.
Lao động thương mại nó chung và lao động trong các doanh nghiệp thương mại
nói riêng tồn tại như một tất yếu khách quan cùng với sự tồn tại của sản xuất ,
lưu thông hàn hóa và thương mại , đó là do sự phân công lao động xã hội quyết

hội.
Về mặt lý thuyết chúng ta dễ nhận thấy hai bộ phận lao động này , nhưng trong
thực tế khó có thể tách bạch được rõ ràng nếu xét trong từng hành vi lao động
cụ thể. Ví dụ hàng vi bán hàng của nhân viên bán hàng tại cá cửa hàng bán lẻ
chẳng hạn .Nếu chỉ xét bán hàng để thu tiền về thì đó là lao đọng lưu thông
thuần túy , song trong hành vi đưa hàng cho khách hàng có chứa đựng việc
chuyển hàng từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng mặt khác để có hàng
hóa bán nhân viên này phải bảo quản , bao gói hàng hóa… Hơn nữa khi ta đề
cập đến đặc ddiiemr này không nhằm mục đích để tách bạch rõ ràng hai bộ
phận lao động này , mà điều quan trọng hơn là để thấy được bản chất của lao
động thương mại và sự khác biệt của nó so với lao dộng trong các ngành sản
xuất vật chất và các ngành dịch vụ khác
Lao động thương mại là loại hình lao động phức tạp , đòi hỏi trình độ chuyên
môn tổng hợp . Lao động thương mại là chiếc cầu nói liền giữa người sản xuất
với người tiêu dùng . Một mặt họ đại diện cho người tiêu dùng để tác động vào
sản xuất , lam cho sản phẩm được sản xuất ra ngày càng phù hợp với người
tiêu dùng ,mặt khác họ lại đại diện cho sản xuất để hướng dân tiêu dùng làm
cho tiêu dùng phù hợp với điều kiện của sản xuất trong từng thời kỳ của đất
nước . Để giải quyết các mối quan hệ này đòi hỏi nhân viên thương mại vừa có
trình đọ kỹ thuận nhất định , hiểu biết quy trình công nghẹ , tính năng tác dụng
của hàng , vừa phải có trình độ giác ngộ chính trị xã hội phải có kien thức cuộc
sống , hiểu biết về tâm lý của người tiêu dùng , phải biết lập các mối quan hệ xã
hội và xo khả năng chi phối được các mối quan hệ này.
Tỷ lệ lao động nữ cao trong lao động thương mại . Xuất phát từ tính chất và
đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại , nhất là tính
chất xã hội của các hoạt động này ,lao dộng thương mại rất phù hợp với sở
trường của phụ nữ.
Lao động thương mại mang tính chất xã hội thời vụ rất cao . Tính chất thời vụ
này không những thể hiện rõ giữa các mùa trong năm mà còn thể hiện rõ giữa
các ngày trong tháng , thậm chí giữa các gờ lao động trong này . Đặc điểm này

khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu .
1Phân theo vai trò và tác dụng của lao động đến quá trình kinh doanh , ta có thể
chia lao đọng trong doanh nghiệp thương mại ra làm 2 loại:
Lao động tiếp kinh doanh thương mại gồm có nhân viên mua hàng , nhân viên
bán hàng , nhân viên kho , vận chuyển, nhân viên thu hóa , bao gói , chọn lọc
chỉnh lý hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường bộ phận này còn bao gồm cả
các nhân viên tiếp thị , nhân viên quản trị kinh doanh . Bộ phận lao động này
chiếm tỷ trọng lớn trong các doanh nghiệp thương mại và giữ vị trí chủ chốt
trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ và các mục tiêu đã xác định của
doanh nghiệp .
Bộ phận lao động gián tiếp kinh doanh thương mại : Bao gồm các nhân viên
hành chính , nhân viên kinh tế , kế toán , thống kê, nhân viên bảo vệ của doanh
nghiệp .
1.Phân theo nhiệp vụ chuyên môn của người lao động có :
Nhân viên bán hàng.
Nhân viên mua hàng.
Nhân viên nghiệp vụ kho
Nhân viên vận chuyển
Nhân viên tiếp thị
Nhân vien kế toán
Mục đích của phương pháp phân loại này là để tính toán sắp xếp và bố trí lao
động trong từng nghiệp vụ chuyên môn, xác định cơ cấu lao động hợp lý từ đó
có phương pháp trả lương và kích thích lao động đối với từng loại lao dọng của
doanh nghiệp .
2.Phân theo trình độ chuyên môn: Thông thường nhân viên trực tiếp kinh doanh
thương mại có 7 bậc:
Bậc 1 và bậc 2 phần lớn gồm lao động phổ thông , chưa qua đào tạo ở một
trường lớp nào
Bậc 3 và bậc 4 bao gồm những nhân viên dã qua mọt quá trình đào tạo
Bậc 5 trở lên là những lao động lành nghề của doanh nghiệp , có trình độ kinh

giá trị hàng hóa tiêu thụ ở đây có thể là 1000 đồng hoặc 100.000 đồng . Như
vậy tăng năng suất lao động luôn luôn gắn liền với giảm giá thành sản xuất
kinh doanh. Đó chính là sự khác biệt giữa tăng năng suất lao động với tăng
cường độ lao động.
Ý nghĩa của việc tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương
mại:
Tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương mại có ý nghĩa kinh tế
rất quan trọng.
Tăng năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là yếu tố đẻ không
ngừng mở rộng tiêu thụ hàng hóa vủa doanh nghiệp , tạo điểu kiện phục vụ tốt
khách hàng.
Góp phần tiết kiệm lao động đầu tư cho lưu thông hàng hóa tạo điều kiện tăng
năng suất lao động cho các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân
Rút ngắn thời gian hàng hóa dừng lại trong khâu lưu thông , thúc đẩy nhanh quá
trình tái sản xuất xã hội
Tăng năng suất lao động là điều kiện để các doanh nghiệp tiết kiệm hao phí lao
động , tiết kiệm chi phí ,tăng tích lũy cho người lao động trong doanh nghiệp.
Những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong doanh nghiệp
thương mại:
Tăng năng suất lao động có ý nghĩa kinh té cực kỳ to lớn , nó là chỉ tiêu chất
lượng phản ảnh hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sử dụng lao đọng nói
riêng của các doanh nghiệp thương mại.Song như ta đã đề cập ở trên năng suất
lao động của nhân viên thương mại có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao
động xã hội , bởi vậy để có những biện pháp thúc đẩy năng suất lao động hợp lý
cho mỗi doanh nghiệp chúng ta phải nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến
năng suất lao động.
Nhóm nhân tố liên quan đến người lao động:
Trình độ giác ngộ về chính trị tư tưởng , trình độ chuyên môn : cũng như trong
mọi ngành của nền kinh tế quốc dân , muốn thúc đẩy nâng cao năng suất lao
động trong thương mại trước hết phải dựa trên cơ sở sự giác ngộ của người lao

Nhóm các nhân tố liên quan đến đối tượng lao động:
Kết cấu hàng hóa kinh doanh ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên
thương mại được biểu hiện ở hai phương diện trái ngược nhau . Một mặt nếu
hàng hóa có chất lượng cao , kết cấu hàng hóa kinh doanh phù hợp với kết cấu
của tiêu dùng thì các doanh nghiệp có điều kiện để tăng khôi lượng hàng hóa
tiêu thụ do đó tăng năng suất lao động .Mặt khác , khi kết cấu hàng hóa kinh
doanh thay dổi làm cho năng suất lao động biểu hiện bằng tiền của người lao
động thay đổi. Như ta đã biết hàng hóa kinh doanh của thương mại cso nhiều
chủng loại . Có mặt hàng , nhóm hàng giá trị thấp nhưng trong kinh doanh đòi
hỏi hao phí lao động cao , ngược lại có mặt hàng , nhóm hàng có giá trị rất cao
nhưng hoa phí lao động lại thấp . Bởi vậy khi những mặt hàng có giá trị thấp ,
hao phí lao động cao tăng lên thì năng suất lao động tăng lên nhưng sự biểu
hiện bằng tiền của nó lại giảm xuống và ngược lại .Để đánh giá đúng thực chất
năng suất lao động của nhân viên thương mại , đặc biệt là của nhân viên bán
hàng ta phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố này .
Điều kiện cung ứng hàng hóa : Hàng hóa được cung ứng đều đặn , đảm bảo
thường xuyên có hàng bán , khắc phục tình trạng gián đoạn trongkinh doanh do
không có hàng bán.
Các phương thức và hình thức kinh doanh , tiêu thụ hàng hóa , phục vụ người
tiêu dùng.
Từ sự phân tích trên đây ta thấy để thúc đẩy tăng năng suất lao động trong
thương mại đòi hỏi phải áp dụng hàng loạt các biện pháp quan trọng như tổ
chức lao động một cách hợp lý và khoa học , nâng cao trình độ lành nghề của
người lao động , xác định đúng đắn phương hướng sản xuất kinh doanh ,cải tiến
công tác quản lý kinh tế , tăng cường công tác tư tưởng và công tác tổ chức đời
sống cho người lao động nhằm động viên mọi người hăng say lao động.
Tiền lương trong doanh nghiệp thương mại:
Khái niệm và bản chất của tiền lương trong thương mại:
Tiền lương là một phạm trù gắn liền với phạm trù lao động . Song lao động là
một phạm trù vĩnh viễn ,còn tiền lương là một phạm trù lịch sử , nó ra đời tồn tại

Về phương diện xã hội tiền lương là phương tiện đẻ tái sản xuất sức lao động
cho xã hội.Để tái sản xuất sức lao động tiền lương phải đảm bảo tiêu dugnf cá
nhân vủa người lao động và gia đình họ . Để thực hiện nguyên tắc này trong
chính sách tiền lương phải:
Nhà nước phải quy định mức lương tối thiểu . Mức lương tối thiểu phải đảm bảo
nuôi sống người lao động và gia đình họ . Mức lương tối thiểu là nền tảng cho
chính sách tiền lương và việc trả lương trong các doanh nghiệp , bởi vậy nó phải
được thể chế bằng chính sách , bằng luật pháp và buộc mọi người mọi doanh
nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện . Để xác định mức lương tối thiểu đòi
hỏi phải tính đúng , tính đủ các yếu tố hợp thành thiền lương như nhà ở , bảo
hiểm xã hội , bảo hiểm y tế ,học phí , đi lại…Mức lương tối thiểu được ấn định
theo giá sinh hoạt , bảo đảm cho người lao động làm công việc làm công việc
đơn giản , nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản
đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được làm căn cứ
để tính các mức lương cho các loại lao động khác.
Mức lương cơ bản phải được xác định trên cơ sở mức giá hàng vật phẩm tiêu
dùng trong từng thời kỳ một , bởi vậy khi giá cả có biến động , đặc biệt khi tốc độ
lạm phát cao phải điều chỉnh tiền lương cho phù hợp để đảm bảo đời sống của
người lao động .
Về phương diện kinh tế: tiền lương là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng kính thích
lợi ích vật chất với người lao đọng , làm hco họ vì lợi ích vật chất của bản thân
và gia đình mình mà lao động một cách tích cực với chất lượng và kết quả ngày
càng cao.
Để trở thành đòn bẩy kinh tế , việc trả lương phải gắn với kết quả lao động . Làm
nhiều hưởng nhiều , làm ít hưởng ít, có sức lao động không làm không hưởng .
Bội số của tiền lương phải phản ánh đugns sự khác biệt trong tiền lương giữa
loại lao động có trình độ thấp đã được hình thành trong quá trình lao động
Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp thương mại:
Trong doanh nghiệp thương mại hiện nay đang áp dụng hai hình thức trả lương ,
đó là trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm:

Khoán theo sản phẩm : Được áp dụng trong điểu kiện có định mức lao động ,
trên cơ sở định mức lao động giao khoán cho cá nhân người lao động và tính
đơn giá tiền lương . Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất
kinh doanh được chọn là tổng sản phẩm bằng hiện vật (kể cả sản phẩm quy dổi)
, thường được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh một loại hoặc
một số loại sản phẩm có thể quy đổi được như xi măng , vật liệu xây dựng ,
điện , thép , rượu bia , xăng dầu …TRong thương mại hình thức này còn được
áp dụng cho nhiều khâu công việc khác nhau trong kinh doanh như: bảo quản
hàng hóa , phân loại , bao gói chọn lọc , chỉnh lý và vận chuyển hàng hóa . Quỹ
tiền lương được khoán và trả như sau
Tổng số lương phải trả =(số sản phẩm)*(đơn giá tiền lương
Đơn giá tiền lương được tính như sau:
đg
= V
giờ
* T
sp
Trong đó :
V
đg
: đơn giá tiền lương (đơn vị tính là đồng / một đơn vị hiện vật)
V
giờ
: tiền lương giờ ,được tính trên cơ sở lương bình quân và mức lương tồi
thiểu và mức lương tối thiểu của doanh nghiệp.
T
sp
: mức lao động của một đơn vị sản phẩm hoặc sản phẩm quy đổi (tính theo
giờ/người)
Khoán lương theo khối lượng công việc: được thực hiên trong điều kiện không

H
cb
: hệ số bậc công việc bình quân
H
pc
: hệ số các khoản phụ cấp bình quân
V
vc
: quỹ lương bộ máy gián tiếp trong 1 tháng
Ưu điểm nổi bật của hình thức trả lương theo doanh số

là kết hợp được việc trả
lương theo trình độ chuyên môn của người lao độngvới kết quả lao động của họ.
nếu tập thể lao động có trìh dộ tay nghề cao, mức lương cơ bản cao thì có đơn
giá tiền lương cao . Trong điều kiện đơn giá tiền lương như nhau tập thể nào đạt
được doanh số cao thì có tổng quỹ lương lớn hơn. Bởi vậy vừa kích thích họ
không ngừng nâng cao tay nghề để nâng cao bậc lương cơ bản , mặt kahcs làm
cho người lao động quan tâm nhiều hơn đến kết quả lao đọng của mình
Song hình thức trả lương này chỉ phù hợp trong đk thị trường ổn định, giá cả
không có sự đột biến. Mặt khác áp dụng hình thức này dễ khuyến khích người
lao động chạy theo doanh số xem nhẹ việc kinh doanh những mặt hàng có giá trị
thấp . Bởi vậy khi áp dụng hình thức trả lương theo doanh số các doanh nghiệp
cần chú ý các vấn đề sau:
Khi giao doanh số định mức(hoặc doanh số kế hoạch ) phải xác định rõ kết cấu
mặt hàng kinh doanh.
Phải có quy ước về chất lượng phục vụ, về văn minh thương mại.
Hình thức trả lương hỗn hợp:
Đây là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa hình thức trả lương theo thời
gian và hình thức trả lương theo sản phẩm. Áp dụng hình thức trả lương này,
tiền lương của người lao động được chia thành 2 bộ phân:

kinh doanh .
Thông qua vốn, chi phí và lợi nhuận cho phép doanh nghiệp sử dụng các công
cụ thống kê và kế toán để so sánh hàng ngày . Sự so sánh này được thực hiện
thường xuyên và tự giác. Chính sự so sánh này cho phép doanh nghiệp đánh
giá được tình hình thực hiện các mục tiêu đã xác định của mình và kịp thời điều
chỉnh khi cần thiết .
2.2.2 Cấu thành vốn của doanh nghiệp thương mại:
Nếu căn cứ vào đặc điểm tuần hoàn của vốn ta có thể chia vốn của doanh
nghiệp thương mại ra làm 2 loại:
aVốn cố định :Vốn cố định là sự biểu hiện bằng tiền các tài sản cố định của
doanh nghiệp.
Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử
dụng lâu dài . Tài sản cố định của các doanh nghiệp thương mại bao gồm các
loại sau đây:
Thứ nhất, tài sản cố định vô hình, bao gồm các khoản:
Chi phí thành lập , chi phí xây dựng , tăng vốn
Chi phí nghiên cứu phát triển. Cần phải lưu ý đặcbiệt là phải đưa các chi phí
nghiên cứu vào phát triển vào tài sản cố định của doanh nghiệp trong tương
lai .Đặc biệt để hình thành và duy trì lợi thế cạnh tranh các doanh nghiệp phải
làm chủ công nghệ của mình . Song các chi phí này phải đảm bảo 3 đk:
Chi phí phải thực sự là của doanh nghiệp và nhằm mục đích phát triển doanh
nghiệp .
Các dự án phải có khả năng thành công về mặt kỹ thuật và có khả năng sinh lợi
về mặt thương mại .
Phải được khấu hao tương đối dài . Thông thường ở một số nước quy định khấu
hao trong 5 năm.
Lợi thế thương mại :vị trí cửa hàng và quyền cho thuê cửa hàng .
Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp , nhãn hiệu .
Thứ hai, tài sản cố định hữu hình : gồm tât cả các đầu tư công nghệ của doanh
nghiệp và tao ra năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.

doanh nghiệp trong từng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp .Để bù đắp cho
sự hao mòn tài sản cố định nhằm tái sản xuất tài sản cố định khi hết thời hạn sử
dụng , doanh nghiệp phải thiết lập quỹ khấu hao tài sản cố định. Có 2 loại quỹ
khấu hao:
Quỹ khấu hao cơ bản : nhằm để mua tài sản cố định mới khi thanh lý tài sản cố
định đang sử dụng .
Khấu hao sửa chữa lớn: nhằm duy trì và khôi phục giá trị sử dụng của tài sản cố
định trong thời gian sử dụng
b.Vốn lưu động: Vốn lưu động là sự biểu hiện bằng tiền các tài sản lưu động
của doanh nghiệp .
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản tiền tệ hoặc có thể chuyển
thành tiền trong chu kỳ kinh doanh . Nó bao gồm :
Vốn bằng tiền , bao gồm :
Tiền mặt tại quỹ (gồm cả ngân phiếu)
Tiền gửi ngân hàng
Tiền đang chuyển
Hàng tồn kho : các loại tài sản hàng tồn kho được phân loại theo trật tự của quy
trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, bao gồm
Hàng tồn kho
Hàng đang đi trên đường
Hàng gửi bán
Trong nền kinh tế thị trường , tài sản hàng tồn kho còn bao gồm cả phần dự
phòng giảm giá hàng tồn kho
ứng trước và trả trước : là những khoản ứng và thanh toán trước cho các nhà
cung cấp theo hợp đồng kinh doanh , các khoản tạm ứng kahcs .
các khoản phải thu : Bao gồm
phải thu từ khách hàng: thanh toán với người mua . Trong kinh doanh hiện đại
nợ phải thu từ khách hàng là những khoản nợ có nguồn gốc từ việc bán hàng
hoặc cung ứng dịch vụ và các khoản phải thu khác như hạ giá , chiết khấu , giảm
giá các khoản phải thu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status