Làm gì khi vi khuẩn “quay lưng” lại với kháng sinh? potx - Pdf 21

Làm gì khi vi khuẩn “quay lưng” lại với kháng sinh?
Kháng sinh là một vũ khí quan trọng của con người để chống lại các vi
sinh vật gây bệnh. Nhưng sau một thời gian sử dụng đã xuất hiện các
chủng vi khuẩn “quay lưng” lại với kháng sinh mà trước đó các chủng
vi khuẩn này vẫn còn nhạy cảm với thuốc.
Vi khuẩn đề kháng với thuốc như thế nào?
Từ 1960, người ta đã phát hiện ra rằng vi khuẩn có thể truyền sức đề kháng
với kháng sinh từ chủng này sang chủng khác, cùng giống hoặc khác giống.
Khả năng này làm tăng nhanh các chủng vi khuẩn có tính kháng kháng sinh
và làm cho nhiều loại kháng sinh mất dần hiệu lực. Người ta thấy có hai hình
thức đề kháng với kháng sinh của vi khuẩn, đó là:
+ Sự biến dị của vi khuẩn: Đây là sự biến dị tự nhiên xảy ra ở trong nhiễm
sắc thể của vi khuẩn. Do biến đổi trong cấu trúc của ADN đã làm thay đổi
cấu trúc các phân tử protein hoặc enzym mà chúng tổng hợp ra. Nếu các
phân tử này là đích tác dụng của một kháng sinh nào đó thì làm cho kháng
sinh này không còn tác dụng nữa vì bị mất đích tác dụng và vi khuẩn đã trở
thành đề kháng với kháng sinh đó. Tần số biến dị đối với một vi khuẩn và
với một hệ vi khuẩn là 1/1010 dân số vi khuẩn. Vi khuẩn có sức đề kháng
với kháng sinh do biến dị có thể truyền lại cho thế hệ sau. Người ta gọi sức
đề kháng này là vững bền và không phải do kháng sinh gây ra, nhưng sự tồn
tại của các chủng vi khuẩn này lại có vai trò chọn lọc của kháng sinh.

Sơ đồ kháng thuốc của vi khuẩn.
+ Sự đề kháng ngoài nhiễm sắc thể: Hình thức đề kháng này là vi khuẩn sản
sinh ra một enzym phá huỷ kháng sinh. Từ 1958, Jacob và Wollman thấy vi
khuẩn có các cấu trúc ADN nằm ngoài nhân và sao chép độc lập với nhân,
gọi là episom. Episom có hai vị trí, một ở ngoài nhiễm sắc thể và một sát
nhập vào nhiễm sắc thể. Các episom không bao giờ sáp nhập vào nhiễm sắc
thể được gọi là plasmid. Sự sản sinh ra các enzym phá hủy kháng sinh do
các plasmid này phụ trách. Bản chất các plasmid là các mảnh ADN (được
giả thiết là hình vòng, không liên hợp với nhiễm sắc thể) phân bố tự do trong

Như thế nào là sử dụng kháng sinh hợp lý?
Câu trả lời là khi sử dụng kháng sinh, chúng ta cần tuân theo các nguyên
tắc sau đây:
+ Kháng sinh được dùng phải là kháng sinh mà vi khuẩn gây bệnh còn nhạy
cảm (cần điều trị theo chỉ dẫn của kháng sinh đồ).
+ Nên chọn các kháng sinh có phổ tác dụng hẹp nhất, hạn chế sử dụng các
kháng sinh có phổ tác dụng rộng.
+ Kháng sinh phải được dùng với liều lượng và cách dùng thích hợp tuỳ
theo bệnh và người bệnh.
+ Khoảng thời gian dùng kháng sinh cần càng ngắn càng tốt, nhưng phải
đảm bảo tiêu diệt được mầm bệnh, do đó thường phải dùng thêm 2 – 3 ngày
sau khi hết triệu chứng nhiễm khuẩn.
+ Phối hợp kháng sinh cần tuân theo nguyên tắc sau: có hai nhóm kháng
sinh, nhóm có tác dụng diệt khuẩn và nhóm có tác dụng kìm hãm sự sinh
trưởng, phát triển của vi khuẩn. Chỉ được phối hợp các kháng sinh trong
cùng một nhóm, không được phối hợp hai kháng sinh khác nhóm.
Việc sử dụng kháng sinh hợp lý phải dựa vào chẩn đoán lâm sàng chính xác
và rất cần thiết phải dựa vào kết quả xét nghiệm vi sinh để định rõ bản chất
của vi khuẩn gây bệnh và tính nhạy cảm của nó với kháng sinh. Tuy nhiên,
trong những trường hợp cần điều trị ngay, trước khi phân lập được vi khuẩn
thì phải dựa vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tính nhạy cảm phổ biến đối
với kháng sinh của vi khuẩn gây ra bệnh của bệnh nhân. Vì tầm quan trọng
và ý nghĩa to lớn của việc sử dụng kháng sinh hợp lý, chúng ta không nên tự
ý sử dụng kháng sinh khi có triệu chứng nhiễm khuẩn, mà cần tới bác sĩ để
khám và được hướng dẫn cụ thể


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status