Đề tài: " VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT MÁC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CHO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY " - Pdf 21



………… o0o………… Nghiên cứu triết học

Đề tài: " VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC
THUYẾT MÁC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CHO SỰ
NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY "
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT MÁC VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CHO SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀNG ĐÌNH CÚC (*)
Trong bài viết này, học thuyết Mác về con người đã được tác giả luận giải
trên cơ sở làm rõ quan niệm của ông về “cơ sở hiện thực” cho sự tồn tại

con người mới trở thành con người hiện thực. Tính hiện thực của con
người thể hiện ở sự tồn tại khách quan trong hoạt động thực tiễn của nó.
“Con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài
thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”(3).
Xuất phát từ cơ sở hiện thực của con người, C.Mác đã tạo nên bước ngoặt
cách mạng trong quan niệm về con người, về bản chất con người, về con
người với tư cách một thực thể sinh học – xã hội, với tư cách nhân cách và
về vị trí, vai trò của con người trong tiến trình phát triển của nhân loại.
Điều kiện quyết định của sự hình thành con người, theo các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác là lao động. Lao động xuất hiện đánh dấu sự chuyển biến từ
tổ tiên động vật thành con người. Trong lao động, con người thường xuyên
biến đổi những điều kiện tồn tại của mình, cải tạo chúng cho phù hợp với
những nhu cầu thường xuyên phát triển của mình, xây dựng nên thế giới
văn hoá vật chất và tinh thần của mình. Nền văn hoá do con người sáng tạo
ra như thế nào thì nền văn hoá ấy lại tạo ra con người như vậy. Hoạt động
lao động phát triển làm biến đổi toàn bộ bản chất tự nhiên của tổ tiên con
người. Về mặt xã hội, lao động đưa đến sự hình thành những chất mới -
chất xã hội của con người, như ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp, quan niệm,
định hướng giá trị, thế giới quan… Không chỉ thế, lao động còn đưa đến sự
cải tạo bản năng con người trên hai bình diện là bắt bản năng phục tùng sự
kiểm soát của lý trí và cải tạo bản năng thành trạng thái mới về chất của
hoạt động nhận thức. Tất cả những điều ấy làm xuất hiện một loài sinh vật
mới - Homo sapiens (người khôn) mà ngay từ đầu, nó đã thể hiện tính xã
hội và lý trí. Nhấn mạnh tính phổ biến của yếu tố xã hội trong con người,
C.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội” (Chúng tôi nhấn mạnh – H.Đ.C)(4). Bản
chất con người không phải là “cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt” như người ta nghĩ, mà có tính lịch sử – cụ thể. Nghĩa là, nội dung của
bản chất ấy, tuy về căn bản là có tính xã hội, song tính xã hội ấy lại có sự
biến đổi tuỳ theo nội dung cụ thể của thời đại, của hoàn cảnh xã hội – văn

nhau trong bản chất con người.
Con người là một thực thể sinh học – xã hội được cụ thể hoá trong những
cá nhân hiện thực. Cá nhân với nghĩa là một cá thể riêng rẽ, đại biểu cho
loài sinh vật cao nhất – Homo sapiens - không phải là tổng số giản đơn cái
sinh học và cái xã hội, mà là thể thống nhất dẫn đến hình thành một bậc
thang mới về chất – nhân cách con người. Bản chất của nhân cách là sự kết
tinh tiềm năng điều chỉnh – tinh thần, là trung tâm của tự ý thức, là nguồn
gốc của ý chí và hạt nhân của tính cách, là chủ thể của hành động tự do và
quyền lực tối cao trong đời sống nội tâm của con người. Trong nhân cách,
điều quan trọng không chỉ là thấy cái chung, mà phải còn phải thấy cái đơn
nhất là cá tính. Tính đa dạng và phong phú của cá tính con người là điều
kiện chủ yếu tạo nên sự đa dạng của các cá nhân, là hình thức biểu hiện sự
phát triển cao đẹp của xã hội, là nhu cầu thực sự của sự phát triển xã hội
lành mạnh, được tổ chức một cách hợp lý. Mối liên hệ giữa cá nhân với xã
hội trước hết được biểu hiện thông qua tập thể ban đầu (tập thể gia đình,
tập thể lớp học, tập thể lao động) để gia nhập vào xã hội. Tập thể ban đầu
là xã hội ở quy mô nhỏ của xã hội loài người – trình độ tổ chức cao nhất
của các hệ thống sống. Chính ở đây, cá nhân và xã hội trực tiếp tác động
lẫn nhau. Ở tập thể ban đầu này, cá nhân được hình thành về mặt tinh thần,
thể xác và hấp thụ được ở mức độ này hay mức độ khác cái đã được tạo ra
bằng lao động của những thế hệ trước. Những hình thức giao tiếp trong tập
thể tạo thành những mối liên hệ xã hội, làm hình thành diện mạo của mỗi
con người. Thông qua tập thể ban đầu, “sự hoàn trả” cái cá nhân cho xã hội
và những thành tựu của xã hội cho cá nhân đã diễn ra. Mỗi cá nhân mang
trong mình dấu ấn của tập thể và mỗi tập thể cũng mang trong mình dấu ấn
của các thành viên. Tập thể không phải là cái gì phi nhân cách, mà là sự
liên hiệp những cá tính khác nhau, không lặp lại. Trong tập thể, cá nhân
không chìm đi, không tan ra, mà nổi lên và tự khẳng định mình. C.Mác đã
chỉ rõ vai trò của xã hội đối với sự hình thành cá nhân và vai trò của cá
nhân đối với sự hình thành xã hội: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người

Khi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác đã giải đáp một cách
duy vật vấn đề con người, bản chất con người, con người với tư cách thực
thể sinh học – xã hội, với tư cách nhân cách, vị trí và vai trò của con người
trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại. Những quan niệm duy vật ấy
không chỉ nhằm mục đích xây dựng lý luận về con người, mà hơn thế nữa,
còn nhằm mục đích giải phóng con người, giải phóng xã hội. Xã hội tư
bản, theo C.Mác, là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Nội dung bước tiến ấy là cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người, là
điều kiện cho sự giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại. Nhưng, trong
khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, khi mà tư liệu sản xuất chủ yếu còn nằm
trong tay giai cấp tư sản thì con người chưa thực sự được giải phóng về
chính trị, cũng chưa được giải phóng về kinh tế và văn hoá. Sự nghiệp giải
phóng ấy, theo C.Mác, chỉ có thể thực hiện được khi chế độ sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu được xoá bỏ; và lực lượng xã
hội có sứ mệnh lịch sử thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng con
người, giải phóng nhân loại là giai cấp vô sản(8).
Mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, của cách mạng xã hội chủ
nghĩa là giải phóng con người, giải phóng xã hội. Do vậy, có thể nói, chủ
nghĩa xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội
không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người, mà từng
bước thực hiện việc giải phóng con người trên thực tế, biến con người từ
vương quốc của tất yếu sang vương quốc tự do, tạo nên một thể liên hiệp,
“trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người” (Chúng tôi nhấn mạnh – H.Đ.C)(9). Sự tự
do đem lại cho con người quyền được lao động, được phân phối công bằng
của cải vật chất và tinh thần, được tham gia vào các công việc xã hội, được
phát triển và vận dụng các năng lực của mình với tư cách sự thực hiện
những nhu cầu cơ bản, quyền được nghỉ ngơi. Tự do cá nhân trong chủ
nghĩa xã hội không chỉ biểu hiện trong các quyền cá nhân được hưởng, mà
còn được biểu hiện trong nghĩa vụ, trong trách nhiệm cá nhân. Rõ ràng, chỉ

đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam”(11). Xây dựng con người Việt
Nam hiện nay theo tư tưởng của C.Mác và của Hồ Chí Minh là sự chuẩn bị
tích cực, chủ động nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, cho tương lai và triển vọng của đất nước trên con đường
phát triển theo lý tưởng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Nói một cách cụ thể:
- Xây dựng con người Việt Nam là xây dựng nhân cách của con người Việt
Nam với một nội dung toàn diện, từ bồi dưỡng và phát triển thể lực, năng
lực trí tuệ với phương pháp tư duy khoa học sáng tạo, không ngừng nâng
cao học vấn và văn hoá trên cơ sở nâng cao cả mặt bằng lẫn đỉnh cao dân
trí của xã hội đến trình độ tư tưởng, thế giới quan, đạo đức cách mạng, biểu
hiện rõ ở lao động và lối sống, kế thừa được những tinh hoa của truyền
thống dân tộc, đáp ứng được những yêu cầu của con người mới trong xã
hội công nghiệp, văn minh hiện đại.
- Xây dựng con người Việt Nam hướng tới sự phát triển không chỉ chất
lượng cá thể con người, mà còn là sự phát triển của cả cộng đồng dân tộc
Việt Nam, trước hết là chất lượng phát triển của giai cấp công nhân với vai
trò, sứ mệnh dẫn dắt xã hội, của khối liên minh công – nông – trí thức – lực
lượng cơ bản nhất của xã hội.
- Xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hướng tới tương lai, cần tập
trung đầu tư của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ
Việt Nam, chuẩn bị đầy đủ cho họ lập thân, lập nghiệp: có đủ sức khoẻ, tài
năng, đạo đức, ý thức và bản lĩnh chính trị (theo tư tưởng của C.Mác là con
người với tư cách thực thể lý tính, với tư cách nhân cách), xứng đáng là thế
hệ kế tục sự nghiệp của cha anh.
- Để xây dựng con người Việt Nam theo phương hướng mà Đại hội X
Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra, chúng ta cần tập trung giải quyết các vấn
đề đang được đặt ra sau đây:
+ Vấn đề thiết yếu, bức xúc của xã hội ta hiện nay là phải tạo việc làm cho
người lao động, nâng cao mức sống, đảm bảo an ninh an toàn công dân

của lịch sử, là kẻ sáng tạo ra lịch sử. Lịch sử dân tộc Việt Nam chứa đựng
nhiều truyền thống quý báu. Giáo dục truyền thống đạo đức, văn hoá, cách
mạng của dân tộc, của Đảng cho thế hệ trẻ là rất quan trọng. Đây là vấn
đề cốt yếu để xây dựng con người, bởi sự vận động và phát triển của lịch
sử là sự chuyển giao mọi lĩnh vực giữa các thế hệ con người. Xem nhẹ, phủ
nhận truyền thống của dân tộc thì không thể đạt tới sự hiện đại đích thực.
Cách mạng Việt Nam cho thấy, muốn đi đến thắng lợi, trước hết phải có
những con người tiên tiến đi đầu, lôi cuốn quần chúng vào con đường cách
mạng, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn. Người đảng viên của
Đảng Cộng sản Việt Nam là những gương mặt tiêu biểu cho lớp người tiên
tiến ấy. Do vậy, giáo dục và rèn luyện đảng viên để họ xứng đáng là những
gương mặt tiêu biểu cho con người Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ quan
trọng của công tác xây dựng Đảng. Trung tâm của hoạt động này là giáo
dục động cơ chính trị vào Đảng. Đồng thời, cần phải giáo dục, rèn luyện
đảng viên để họ xứng đáng là tấm gương của quần chúng về năng lực trí
tuệ, trách nhiệm chính trị, có dũng khí đấu tranh để bảo vệ chân lý, lối
sống, đạo đức. Đó là những vấn đề thực tiễn đang đặt ra cần phải giải quyết
để xây dựng con người Việt Nam cho thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.r

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học
viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995, tr.55.
(2) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.28-29.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.569.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., t.3, tr.11.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd, t.3, tr. 29.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.169.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.27, tr.658.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status