Luận văn
Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng bao bì trong
hoạt động kinh doanh ở các
doanh nghiệp thương mại nhà
nước
thương mại nhà nước. Thực trạng trên đặt ra vấn đề cần có sự nghiên cứu, hệ
thống hoá các cơ sở lý luận và thực tiễn về bao bì và sử dụng bao bì trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại, trước hết là doanh nghiệp
thương mại nhà nước để phát huy vai trò của bao bì, nâng cao hiệu quả sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà
nước (lấy ví dụ ở địa bàn Hà Nội)” làm luận án có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý
luận và thực tiễn. Mong muốn của tác giả luận án là góp phần nhỏ bé vào việc
tìm ra những giải pháp chủ yếu làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng
bao bì trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nói chung và
các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Làm rõ sự cần thiết của bao bì và sử dụng bao bì trong kinh doanh thương
mại nói chung và ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng.
Nghiên cứu tình hình sử dụng bao bì và ảnh hưởng tích cực của việc sử
dụng đúng đắn, hợp lý bao bì đối với sự phát triển nền kinh tế và hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước.
Đề ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng bao bì
ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả sử dụng bao bì trong kinh
doanh thương mại.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Bao bì ở các doanh nghiệp thương mại
nhà nước trên địa bàn Hà Nội từ năm 1991 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 1
BAO BÌ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG BAO BÌ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và sự cần thiết
phải sử dụng có hiệu quả bao bì trong kinh doanh thương mại
1.1.1. Kinh doanh thương mại và những cơ sở của kinh doanh thương mại
Nền kinh tế nước ta là một tổng thể kinh tế quốc dân thống nhất. Nó bao
gồm nhiều ngành và mỗi ngành thực hiện một chức năng nhất định. Kinh doanh
thương mại là một ngành kinh tế, một lĩnh vực hoạt động kinh tế, là một mắt
xích quan trọng trong hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất.
1.1.1.1. Thương mại và Kinh doanh thương mại [8] [10]
Chúng ta đều biết rằng để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân, mỗi gia đình,
mỗi tổ chức (kinh tế, văn hoá, xã hội ) hay một quốc gia đều luôn có và phải
thoả mãn các nhu cầu vô cùng đa dạng, phong phú, phức tạp của mình. Cách
thức để thoả mãn những nhu cầu đó có thể thực hiện được bằng cách tự mình
sản xuất, lao động ra những sản phẩm vật chất - tinh thần để tự đáp ứng cho
mình. Nhưng với những nhu cầu đa dạng, phức tạp, cách thức đáp ứng này
không đảm bảo về số lượng, chất lượng ngày càng cao của mỗi thành viên cũng
như toàn xã hội. Khi sự phân công lao động xã hội xuất hiện, mỗi thành viên,
mỗi tổ chức chuyên môn hóa một lĩnh vực hoạt động tạo ra nhiều loại sản phẩm
hơn, khối lượng lớn hơn cho phép việc thoả mãn các nhu cầu một cách tốt hơn.
Khi đó, mỗi người, mỗi tổ chức, quốc gia có thể thoả mãn nhu cầu của mình
bằng cách trao đổi các kết quả hoạt động cho nhau. Tuy nhiên, khi sự phân công
lao động ngày càng sâu sắc thì các dạng kết quả của hoạt động thể hiện ngày
càng đa dạng phong phú. Kết quả hoạt động của các thành viên có thể được biểu
hiện ở dạng vật chất cụ thể như xi măng, sắt thép, bánh kẹo, máy móc thiết bị
Nhìn chung có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại song có thể khái
quát thương mại dưới các góc độ khác nhau:
Thương mại, hiểu theo nghĩa hẹp, là “quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ
trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa”. Hành vi thương
mại thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Theo Luật Thương mại, các hình vi
thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân; môi giới
thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hoá, gia công
thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa,
khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ
triển lãm thương mại.
Theo nghĩa rộng, thương mại là “toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên
thị trường”. Thương mại được hiểu như các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu lợi
nhuận của các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường. ở góc độ này, thương
mại đồng nghĩa với kinh doanh. Cách hiểu này trùng hợp với cách hiểu của các
nước như Anh, Pháp, Nga. Theo từ điển Nga- Việt, xuất bản 1977 thì TẻéÃẻBò
được hiểu là nền (ngành, nghề, việc, sự) thương nghiệp, thương mại, buôn bán,
mua bán mậu dịch [24, tr 452].
Kinh doanh thương mại [12, 39]
Nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa
ngày càng sâu rộng với quy mô, cơ cấu ngày càng lớn, đa dạng, phong phú làm
xuất hiện lĩnh vực kinh doanh mới - kinh doanh thương mại. Kinh doanh thương
mại được hiểu là sự đầu tư tiền của, công sức của cá nhân, một tổ chức vào việc
mua, bán hàng hóa nhằm thu lợi nhuận.
Nói đến kinh doanh thương mại là nói đến hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực lưu thông hàng hóa. Chủ thể kinh doanh (cá nhân, tổ chức) có thể đầu
tư một phần, đa số hoặc toàn bộ nguồn lực của mình để thực hiện một, một số
hoặc toàn bộ các hành vi thương mại, buôn bán. Dù biểu hiện dưới hình thức
nào thì kinh doanh thương mại đòi hỏi các yêu cầu sau:
hội và chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (TLSX) - cơ sở của sản xuất
hàng hóa. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quá trình tái sản xuất
xã hội bao gồm: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Sản xuất là khâu
khởi đầu, tiêu dùng là khâu kết thúc, phân phối và trao đổi là khâu trung gian. Phân công lao động xã hội là quá trình chuyên môn hóa người sản xuất.
Mỗi “người” chỉ chuyên sản xuất một hay một số sản phẩm thậm chí chỉ sản
xuất một bộ phận (chi tiết) của sản phẩm. Để thoả mãn nhu cầu đa dạng, phong
phú của mỗi thành viên nên họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau, tức là sự
chuyên môn hóa sản xuất gây ra sự cách biệt về mặt không gian, thời gian giữa
những người sản xuất cá biệt và để thoả mãn nhu cầu của đời sống, sản xuất
kinh doanh đòi hỏi phải có sự trao đổi giữa những người sản xuất với nhau. Xét
trên phạm vi xã hội, sản xuất đồng nghĩa với tiêu dùng. Muốn sản xuất ra sản
phẩm này, phải tiêu dùng, sử dụng loại sản phẩm khác mà bản thân họ không tự
chế tạo ra được. Nhờ sự trao đổi này mà sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị
trường, trong xã hội tồn tại sản xuất và lưu thông hàng hóa. V.I. Lênin đã chỉ ra
rằng “Nên hiểu sản xuất hàng hóa là một tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản
phẩm đều do những người sản xuất cá thể riêng lẻ sản xuất ra. Mỗi người
chuyên làm một thứ sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn nhu cầu của
xã hội thì cần phải mua bán sản phẩm, vì vậy, sản phẩm trở thành hàng hóa mua
bán trên thị trường” [28, tr 22]
Phân công lao động xã hội đòi hỏi phải trao đổi sản phẩm giữa những
người sản xuất với nhau. Đây là điều kiện cần của trao đổi hàng hóa. Nhưng bản
thân sự phân công lao động xã hội không quyết định sự trao đổi phải được tiến
hành theo hình thức nào. Chỉ khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
làm cho những người sản xuất độc lập với nhau về kinh tế thì trao đổi hàng hóa
mới ra đời.
Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất làm cho các sản phẩm sản
xuất ra thuộc quyền chiếm hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, không ai có
hội, là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự xuất hiện tiền tệ trong
quá trình lưu thông hàng hoá.
Phân công lao động xã hội là điều kiện cần để hình thành sự trao đổi sản
phẩm giữa các nhà sản xuất.
Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hình thành quyền độc lập về
kinh tế giữa các nhà sản xuất với nhau. Do đó, việc trao đổi sản phẩm phải được
tính toán phù hợp với lợi ích kinh tế của mỗi nhà sản xuất. Sự xuất hiện tiền tệ làm môi giới trung gian làm cho quá trình lưu thông -
trao đổi sản phẩm diễn ra thuận lợi hơn, trôi chảy và kịp thời hơn khi nền sản
xuất xã hội phát triển nhanh, mạnh cả về quy mô, không gian và cơ cấu sản
phẩm.
Trình độ phân công lao động ngày càng sâu sắc buộc các nhà sản xuất
phải từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn chức năng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của
mình và hình thành một tầng lớp trung gian độc lập với sản xuất, thực hiện chỉ
một chức năng lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng xã
hội - đó là các tổ chức kinh doanh thương mại - một loại hình tổ chức xã hội
hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa. Sự xuất hiện của loại hình kinh
doanh thương mại độc lập không phủ định lưu thông hàng hóa mà trái lại nó lấy
lưu thông hàng hóa làm chức năng hoạt động của mình, làm cho hàng hóa lưu
thông ngày càng rộng rãi hơn, thuận lợi, nhanh chóng hơn.
Với tư cách là một ngành kinh tế tương đối độc lập trong nền kinh tế quốc
dân, việc hình thành, phát triển kinh doanh thương mại gắn liền, phụ thuộc vào
sự phát triển của phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Cũng cần lưu ý rằng kinh doanh thương mại không trực tiếp sáng tạo ra
của cải vật chất, nó chỉ phục vụ quá trình sản xuất và tiếp tục quá tình sản xuất
trong khâu lưu thông mà thôi. Có nghĩa là kinh doanh thương mại thực hiện việc
mua, bán hàng hoá, đảm nhận các dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ thuần tuý và cả
(DNTM).
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống các DNTM ở Việt Nam gắn
liền với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và quan hệ sản xuất
thiết lập trong mỗi giai đoạn.
Doanh nghiệp thương mại là những tổ chức kinh tế hợp pháp, hoạt động
trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, là những đơn vị kinh tế “chuyên kinh doanh
để kiếm lời thông qua hoạt động mua - bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường”
[39, tr 10]. Đặc trưng cơ bản là lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ nhằm đáp ứng các
nhu cầu của sản xuất và đời sống. Trong cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, để thực hiện
mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu khác trong kinh doanh, các DNTM Việt
Nam phải thực hiện các nội dung cơ bản sau đây:
Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường để lựa chọn mặt hàng, ngành
hàng, lĩnh vực kinh doanh.
Bất kỳ doanh nghiệp thương mại nào trước khi tiến hành hoạt động kinh
doanh cũng phải thực hiện nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường về các loại
hàng hoá dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của mình. Nhu cầu của thị trường là
cái quyết định hoạt động kinh doanh của DNTM. Mỗi loại hàng hóa, dịch vụ cụ
thể có những đặc điểm riêng của nó về tính chất cơ lý hoá học, hình dạng, trạng
thái và nhu cầu khác nhau về không gian, thời gian, quy mô, cơ cấu, đối tượng
tiêu thụ, mục đích tiêu thụ. Với đặc trưng là mua để bán kiếm lời, do đó nếu
nghiên cứu và xác định không chính xác, cụ thể nhu cầu thị trường thì tất yếu
mua sẽ không bán được hoặc không thể đạt được mục tiêu kiếm lời. Bán quyết
định mua. Trên cơ sở nhu cầu thị trường, cần xem xét đánh giá khả năng đảm
bảo của nguồn cung ứng. Trong phạm vi một doanh nghiệp kinh doanh cụ thể,
nguồn cung ứng có thể bao gồm nguồn do sản xuất trong nước (mua của các đơn
vị sản xuất trong nước hoặc có thể tự sản xuất), mua của các đơn vị kinh doanh
khác, nguồn nhập khẩu và các nguồn khác. Cần xác định chính xác khả năng của
mặt hàng, ngành hàng kinh doanh, vốn, nhân sự
+ Xác định trình tự thực hiện, các điều kiện để thực hiện các mục tiêu đề
ra trong từng giai đoạn phù hợp với mục tiêu chiến lược. Việc xác định đúng
đắn chiến lược kinh doanh của DNTM có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định
đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Trong phạm vi nền kinh tế, chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích quốc
gia, vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Có nhà kinh tế đã từng nói: xác định sai
một mặt hàng, mất một doanh nghiệp, xác định sai một doanh nghiệp, mất một
ngành
Trên cơ sở chiến lược kinh doanh đúng đắn đã xây dựng, doanh nghiệp
cần triển khai thực hiện chiến lược bằng việc xây dựng (lập) các kế hoạch kinh
doanh. Lập kế hoạch là quá trình xác định những mục tiêu của tổ chức và
phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đó trong từng thời kỳ để thống nhất và
phối hợp các hoạt động. Lập kế hoạch kinh doanh cho biết phương hướng hoạt động, làm giảm sự
tác động của những thay đổi điều kiện kinh doanh, tránh được lãng phí, dư thừa,
thiết lập được các tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra, đánh giá tình hình
hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể xây dựng các kế hoạch theo
thời gian, theo quy mô, phạm vi của từng hoạt động nhưng phải đảm bảo tính
thống nhất, tính hợp lý, tính khả thi, phù hợp với các mục tiêu cụ thể và mục tiêu
chiến lược của doanh nghiệp.[23]
Ở DNTM, kế hoạch kinh doanh cơ bản nhất là kế hoạch mua bán (lưu
chuyển) hàng hoá. Đây là kế hoạch nền tảng cho mọi kế hoạch khác trong cùng
hệ thống kế hoạch kinh doanh - kỹ thuật - tài chính của DNTM. Cơ sở khoa học
để xây dựng chiến lược và các kế hoạch kinh doanh của DNTM là kết quả
nghiên cứu thị trường, là các chủ trương chính sách của nhà nước, của các cấp
quản lý; là hệ thống căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật trong kinh doanh, sự
phân tích các yếu tố môi trường nội tại và bên ngoài doanh nghiệp.
hàng một cách cụ thể về số lượng, chất lượng, thời gian và khả năng thanh toán
của họ.
Tổ chức phân phối và bán hàng là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng nhất
vì thông qua nghiệp vụ này hàng hoá mới bán được, mới thoả mãn được nhu cầu
của khách hàng, mới thực hiện được việc chuyển hoá hình thái giá trị của sản
phẩm. Nhờ đó doanh nghiệp mới thu hồi được vốn kinh doanh, trang trải được
các chi phí và có lợi nhuận.
Thực hiện dự trữ hàng hoá là nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp tiến hành liên tục, đều đặn trong mọi điều kiện, tận dụng được
các cơ hội mới trong kinh doanh. Thực chất dự trữ hàng hoá như một nguồn
hàng có tính cơ động, linh hoạt cao nhằm đáp ứng đầy đủ nhất, kịp thời nhất,
đồng bộ và ổn định các nhu cầu của khách hàng.
Để thực hiện mua hàng, bán hàng, dự trữ hàng hoá, doanh nghiệp phải có
chính sách tạo nguồn thích hợp, có phương thức và các hình thức bán tiến bộ, phải có cơ sở mạng lưới mua - bán hợp lý, có hệ thống kho hàng, cửa hàng được
phân bố phù hợp với quy mô, tốc độ lưu chuyển hàng hoá. Thực hiện các hoạt
động giao nhận, vận chuyển, thanh toán với người cung ứng, người mua nhằm
thúc đẩy quá trình kinh doanh có hiệu quả nhất.
Quản trị các yếu tố (vốn, phí, hàng hoá, thời gian, thông tin và nhân sự)
trong hoạt động kinh doanh và quản trị chặt chẽ, khoa học các nghiệp vụ kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Quản trị vốn, phí, hàng hoá và nhân sự trong hoạt động kinh doanh.
Vốn kinh doanh của DNTM là thể hiện bằng tiền của tài sản lưu động và
tài sản cố định; vốn hữu hình và vốn vô hình của doanh nghiệp. Quản trị vốn là
thực hiện sử dụng vốn trong kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn là
có lãi hay lỗ.
Chi phí kinh doanh là các khoản chi cho quá trình mua, dự trữ và bán
hàng hoá, trong đó có chi phí mua hàng (vốn) và chi phí lưu thông hàng hoá.
chính sách, về tổ chức, phương thức thực hiện, đồng thời phải biết huy động, sử
dụng tốt nhất các nguồn lực là người chỉ huy, nhà kiểm soát tài giỏi mới đem lại
thành công cho doanh nghiệp.
1.1.3. Sự cần thiết phải sử dụng có hiệu quả bao bì trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thương mại
Trong nền kinh tế quốc dân, sản phẩm của tất cả các ngành công nghiệp
(trừ công nghiệp khai thác than, khoáng sản, ngành xây dựng cơ bản) sau khi rời
khỏi quá trình sản xuất trực tiếp đều phải được bao gói, chứa đựng bằng một sản
phẩm khác để thực hiện việc bảo quản, vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Những sản
phẩm dùng để bao gói đó theo cách gọi phổ biến là bao bì hàng hoá. Có nhiều
quan niệm khác nhau về bao bì, song theo quan niệm chung nhất thì “bao bì là
một loại sản phẩm công nghiệp đặc biệt dùng để bao gói và chứa đựng các sản
phẩm nhằm bảo vệ giá trị sử dụng của sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc bảo quản, vận chuyển, xếp dỡ và tiêu thụ sản phẩm” [13, tr 192]
Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại, việc sử
dụng có hiệu quả bao bì, đóng gói là sự cần thiết khách quan. Bởi lẽ:
Do chức năng của kinh doanh thương mại: Kinh doanh thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lưu
thông hàng hoá. Nó là cầu nối trung gian cần thiết, tất yếu giữa sản xuất với tiêu
dùng, giữa cung và cầu trên thị trường. Kinh doanh thương mại có nhiều chức
năng:
+ Kinh doanh thương mại thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá từ
nguồn hàng đến nơi tiêu dùng.
Khi sản phẩm rời khỏi quá trình sản xuất, nó mới chỉ là sản phẩm ở trạng
thái khả năng. Chỉ khi nào những sản phẩm đó được đưa vào quá trình sử dụng
(cho tiêu dùng sản xuất/tiêu dùng cá nhân) thì sản phẩm mới trở thành sản phẩm
thực sự, quá trình sản xuất mới hoàn thành.
Người sản xuất có thể bán sản phẩm của mình theo các cách khác nhau,
này là để bao gói và chứa đựng sản phẩm khác” [13, tr 193]. Bao bì bảo vệ, bảo
quản sản phẩm trong suốt quá trình lưu thông của nó từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
dùng.
Đối với DNTM, bao bì được xem như một điều kiện vật chất cần thiết để
thực hiện các nghiệp vụ bảo quản, xếp dỡ, vận chuyển của lưu thông hàng hoá
nhằm thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá từ nguồn hàng đến người tiêu
dùng một cách thuận tiện và hiệu quả.
Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông của doanh
nghiệp thương mại.
Kinh doanh thương mại là khâu trung gian giữa sản xuất với tiêu dùng.
Nhưng nhu cầu tiêu dùng lại vô cùng đa dạng và phức tạp. Mỗi nhu cầu tiêu
dùng có những yêu cầu cụ thể riêng mà các nhà sản xuất không thể đáp ứng
được khi tạo ra các sản phẩm hàng hoá. Để thoả mãn tốt nhất những nhu cầu cụ
thể đó, các DNTM phải thực hiện nhiều hoạt động như phân loại, chọn lọc, đóng
gói làm đồng bộ sản phẩm, hướng dẫn sử dụng, vận chuyển Đó chính là chức
năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông mà các DNTM cần phải
thực hiện nhằm hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu cụ thể của
tiêu dùng. Trong số các hoạt động nhằm thực hiện chức năng của kinh doanh
thương mại, hoạt động chuẩn bị hàng hoá, đóng gói hàng hoá, gửi hàng cần phải
sử dụng đến các loại bao bì. Việc chia nhỏ lô hàng thành các đơn vị hàng hoá
thích hợp với tiêu dùng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng
mà còn thuận tiện cho cả quá tình lưu thông hàng hoá (gửi hàng, vận chuyển ). DNTM cần lựa chọn các loại bao bì phù hợp với từng loại sản phẩm, từng điều
kiện kinh doanh để đảm bảo sự hoàn thiện nhất của sản phẩm đem bán. Bao bì là
một điều kiện vật chất để thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất, lưu
thông của kinh doanh thương mại.
Do đặc trưng sản phẩm của doanh nghiệp thương mại [38]
Sản phẩm dưới góc độ của nhà sản xuất là những dạng vật chất cụ thể
chức phân loại, đóng gói bảo quản, đồng bộ hoá sản phẩm. Trong những trường
hợp đó, cần phải có những bao bì thích hợp để hình thành những “hàng hoá hiện
thực” phù hợp với yêu cầu của họ. Thông thường các loại bao bì mà DNTM sử
dụng và hình thức bao gói hàng hoá là do yêu cầu cụ thể của khách hàng, đặc
Hàng hoá theo ý
tưởng (1)
Hàng hoá hoàn
chỉnh (3)
Hàng hoá hiện
thực (2)
Bán
ch
ị
u
Bảo
hành
Lắp đặt
Dịch
vụ
sau
bán
hàng
Tên nhãn hiệu
Bao bì
Kiểu
dáng
tục, đều đặn ở các doanh nghiệp sản xuất cũng cần phải có lượng dự trữ linh
hoạt hợp lý. Dự trữ vật tư, hàng hoá tiêu dùng có hiệu quả kinh tế xã hội nhất là
thực hiện ở các đơn vị kinh doanh thương mại. Ở các DNTM, dự trữ vật tư hàng
hoá có quy mô có quy mô lớn, chủng loại mặt hàng đa dạng phong phú, tính linh
hoạt cao, khả năng điều tiết cung cầu lớn. Vì vậy, dự trữ được xem là một chức
năng của kinh doanh thương mại mà DNTM là người thực hiện chức năng này
có hiệu quả nhất.
Bao bì hàng hoá với đầy đủ các yêu cầu của nó sẽ góp phần tích cực vào
việc vào việc giữ gìn nguyên vẹn giá trị sử dụng của các loại vật tư hàng hoá dự
trữ. Nhờ có bao bì hàng hoá thích hợp mà các DNTM có thể khắc phục được
tình trạng kinh doanh lệ thuộc vào thời vụ sản xuất, thay đổi tập quán tiêu dùng
theo thời vụ, đảm bảo cho tiến trình kinh doanh được liên tục, hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo dựng và chiếm lĩnh được các cơ hội kinh doanh
trong điều kiện kinh tế hội nhập.
1.2. Bao bì và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp thương mại.
1.2.1. Bao bì hàng hoá và chức năng của nó
1.2.1.1. Lịch sử bao bì hàng hoá và khái niệm bao bì hàng hoá [20, 48, 49]
Xét về lịch sử của bao bì hàng hoá, nhiều nhà nghiên cứu đã có những
phát kiến thật thú vị. Từ thời cổ đại, người ta đã biết dùng những lá cây (như lá
cây bầu, cây bí và các cây tương tự) làm vật bao gói những sản phẩm khác. Đó
là những bao bì đầu tiên trong lịch sử. Dần dần, do yêu cầu của cuộc sống, sản
xuất và trao đổi san phẩm, người ta đã biết sử dụng các loại vỏ cây, các loại da
thú để làm những chiếc giỏ để đựng hàng, vận chuyển trái cây, các thứ kiếm
được từ rừng mang về nơi trú ẩn của mình, từ nơi này sang nơi khác. Những
chiếc giỏ bằng vỏ cây, da thú được sử dụng như những phương tiện chứa đựng,
vận chuyển và bảo quản sản phẩm của họ trong điều kiện nhất định. Tuy nhiên,
với những chất liệu từ vỏ cây, da thú, khả năng chứa đựng và vận chuyển sản
sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Bao bì bằng chất liệu giấy đã ra đời ở Trung Quốc vào khoảng vài ba
ngàn năm trước. Loại bao bì này có khả năng thu hồi, tái chế và thuận tiện trong
lưu thông. Công nghệ sản xuất bao bì giấy được nhiều nước đang phát triển áp
dụng và ngày càng được hoàn thiện.
Bao bì hàng hoá đang trong quá trình phát triển liên tục từ khi bắt đầu
cuộc cách mạng công nghiệp. Từ thuở sơ khai, bao bì được làm bằng các
phương pháp thủ công, khối lượng nhỏ và quy cách đơn giản, với tác dụng chủ
yếu để chứa đựng, vận chuyển. Đến ngày nay, công nghệ sản xuất hiện đại, chất
liệu bao bì đa dạng, quy cách, mẫu mã, kiểu dáng phong phú, khối lượng vô
cùng lớn. Công dụng của bao bì đã được mở rộng trong cả lĩnh vực bảo quản,
vận chuyển, thương mại
Nhìn lại lịch sử của bao bì để có nhận thức đầy đủ hơn sự phát triển các
chức năng bao bì, định hướng trong sản xuất, trong sử dụng và quản lý bao bì tốt
hơn, đáp ứng được các yêu cầu của bao bì trong sản xuất lưu thông và vấn đề
môi trường.