Luận văn: Vốn kinh doanh và những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh - Pdf 21


Luận văn

Vốn kinh doanh và những
biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
1LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước bằng phát luật, theo định hướng
XHCN. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc trưng
khác nhau xuất phát từ quan hệ sở hữu và mục đích kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu coi nền kinh tế là một cơ thể sống
thì mỗi doanh nghiệp chính là một tế bào sống của cơ thể đó. Các tế
bào này là nơi sản xuất và cung ứng hầu hết các sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của nền kinh tế
xã hội. Do đó, sự phát triển, hưng thịnh, suy thoái hay tụt hậu của nền
kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Nhưng đây chỉ là một chiều trong mối
quan hệ giữa doanh nghiệp và nền kinh tế. Ở một chiều khác, trình độ
phát triển của nền kinh tế với những đặc điểm riêng về môi trường
kinh doanh cũng có tác dụng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nhưng để đứng vứng trong cơ chế cạnh
tranh gay gắt này thì điều kiện đòi hỏi đầu tiên đối với các doanh
nghiệp đó là phải có vốn kinh doanh. Bởi vậy, bất kỳ một doanh

cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ý nghĩa và tầm quan trọng rất
lớn đối với các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ các doanh
nghiệp trong nền kinh tế nói chung.
Sau thời gian học tập tại trường, qua gần 3 tháng thực tập ở công
ty Dệt Minh Khai, được sự hướng dẫn của thầy giáo bộ môn và sự
giúp đỡ của ban lãnh đạo ở công ty. Em đã vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tiễn của công ty, đông thời từ thực tiến đã làm sáng tỏ
những lý luận đã học. Vì vậy, em đã đi sâu nghiên cứu chuyên đề:
“Vốn kinh doanh và những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh”, từ đó thấy rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của
công tác tổ chức và quản lý tài chính trong công ty.
Do trình độ lý luận và nhận thức còn nhiều hạn chế, thời gian thực
tập của em không trách khỏi những hạn chế. Em rất mong sự góp ý
của các thầy cô và ban lãnh đạo công ty để em có thể hoàn thành
chuyên đề tốt hơn.
Em xin chân thành cám ơn! B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
3

chuyển trung gian và các hoạt động đầu tư cổ phiêú, trái phiếu.
T-H-T’: Là phương thức vận động của vốn trong các doanh
nghiệp thương mại, dịch vụ.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
4

T-H-SX-H’-T’: Là phương thức vận động của vốn trong các
doanh nghiệp sản xuất.
Ở đây, chúng ta đi sâu nghiên cứu phương thức vận động của vốn
trong các doanh nghiệp sản xuất. Do sự luân chuyển không ngừng của
vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh
doanh của doanh nghiệp thường tồn tại dưới nhiều hình thái khác
nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Sự vận động liên tục không
ngừng của vốn tạo ra qúa trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, trong
chu trình vận động ấy tiến ứng ra đầu tư (T) rồi trở về điểm xuất phát
của nó với giá trị lớn hơn (T’), đó cũng chính là nguyên lý đầu tư, sử
dụng, bảo toàn và phát triển vốn. Từ những phân tích trên đây, ta có
thể đi đến định nghĩa tổng quát về vốn:
“ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời”.
I.1.1.2:Đặc trưng của vốn kinh doanh trong cơ chế thị trường:
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp có quyền sử dụng đồng
vốn một cách linh hoạt nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, để quản lý tốt và không ngừng nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, nhà quản lý cần nhận thức rõ những đặc trưng cơ bản của
vốn:
Một là: Vốn phải được đại diện bằng 1 lượng giá trị thực và sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

* Đặc điểm:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
- Vốn cố định dịch chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu
kỳ sản xuất, sau thời gian dài vốn cố định mới hoàn thành một vòng
luân chuyển vốn.
- Vốn cố định là một bộ phận quan trọng thường chiếm tỷ trọng
lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm của nó
lại tuân theo tính qui luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn
cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
B.Vốn lưu động:
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
6

Khái niệm: Vốn lưu động trong doanh nghiệp là số tiền ứng trước
về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm
bảo cho qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành thường xuyên, liên tục.
Đặc điểm: Vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặc điêm cơ
bản sau:
- Vốn tiền tệ ứng ra luôn vận động
- Do vận động vốn luôn thay đổi hình thái vận động
- Đồng thời tồn tại dưới mọi hình thái
- Hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu trình sản
xuất.
Phân loại tài sản cố định:
Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định
hiện có của doanh nghiệp theo tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho
những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.

Căn cứ vào tình hình sử dụng hiện tại của từng tài sản mà người ta
phân ra thành 3 loại:
- Tài sản cố định đang dùng
- Tài sản cố định chưa dùng
- Tài sản cố định không cần dùng và đang chờ thanh lý.
Nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp:
Trong qúa trình tham gia vào kinh doanh, do chịu tác động bởi
nhiều nguyên nhân khác nhau, nên tài sản cố định bị hao mòn.
* Có 2 loại hao mòn:
- Hao mòn hữu hình: là sự giảm dần về mặt giá trị và giá thành sử
dụng do chúng được sử dụng trong kinh doanh hoặc do tác động của
các yếu tố tự nhiên gây ra.
- Hao mòn vô hình: là sự giảm dần thuần tuý mặt giá trị của tài
sản do có những tài sản cố định cùng loại nhưng được sản xuất ra với
giá rẻ hơn hoặc hiện đại hơn.
Việc nghiên cứu và phân tích hao mòn của tài sản cố định nên trên
nhằm huy động tối đa năng lực hoạt động của tài sản cố định vào hoạt
động kinh doanh, mặt khác lựa chọn những phương pháp khấu hao
thích hợp cho phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng ngành.
Trên đây là một số vấn đề chung về vốn kinh doanh trong các
doanh nghiệp. Trên thực tế, tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp,
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
8

ngành nghề kinh doanh, đặc điểm sản xuất sản phẩm mà các nhà quản
lý tài chính sẽ xác định trọng tâm quản lý vốn kinh doanh của doanh
nghiệp mình. Nhìn chung, để đạt hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
cao nhất thì doanh nghiệp cần phải quản lý và sử dụng tốt cả hai bộ
phận vốn cố định và vốn lưu động, đảm bảo đồng vốn đem lại hiệu

cầu vốn lưu động hợp lý.
I.1.2: Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh của doanh nghiệp
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Mỗi nguồn vốn đều có
những ưu, nhược điểm nhất định. Để lựa chọn và tổ chức hình thức
huy động vốn thích hợp, có hiệu quả, cần phải có sự phân loại nguồn
vốn. Việc phân loại nguồn vốn được thực hiện, dựa vào nhiều tiêu
thức khác nhau. Dưới đây là 3 cách phân loại chủ yếu:
I.1.2.1: Căn cứ vào quan hệ sở hữu:
A.Nguồn vốn chủ sở hữu:
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh
nghiệp có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt bao gồm: vốn điều lệ,
vốn tự bổ sung, vốn do nhà nước tài trợ(nếu có).
Nguồn vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn
định cao, thể hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ
trọng của nguồn vốn này trong cơ cấu nguồn vốn càng lớn, sự độc lập
về tài chính của doanh nghiệp ngày càng cao và ngược lại.
Vốn chủ sở hữu
tại một thời điểm = Tổng nguồn vốn - Nợ phải trả
B. Nợ phải trả: Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong qúa trình
kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các
tác nhân kinh tế, bao gồm: vốn chiếm dụng và các khoản nợ vay.
- Nguồn vốn chiếm dụng: Trong qúa trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, đương nhiên phát sinh từ quan hệ thanh toán giữa
doanh nghiệp với các tác nhân kinh tế khác như với nhà nước, với cán
bộ CNV, với khách hàng, với người bán từ đó mà phát sinh vốn
chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về vốn chiếm dụng hợp
pháp có các khoản vốn:
+ Các khoản nợ khách hàng chưa đến hạn trả.
+ Các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước chưa đến hạn nộp.

Trong điều kiện hiện nay, khi mà nhu cầu vốn kinh doanh của các
doanh nghiệp không ngừng gia tăng thì vai trò của nguồn vốn nợ phải
trả ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn vốn
này, cần phải xem xét tính hợp lý của hệ số nợ, không thể chủ trương
“ vay được càng nhiều càng tốt” hay “ vay với bất kỳ giá nào” vì hệ số
nợ càng lớn, độ rủi ro càng cao. Khi hệ số nợ lớn, chủ sở hữu doanh
nghiệp có lợi ở chỗ chỉ phải đóng góp một lượng vốn nhỏ mà được sử
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
11

dụng một lượng tài sản lớn, đặc biệt trong trường hợp đòn bẩy tài
chính dương( tức là khi doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận trên tiền vay
lớn hơn lãi vay phải trả), doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ gia tăng rất
nhanh. Ngược lại, nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỷ
lệ lãi đủ lớn để bù đắp lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ giảm
sút rất mạnh, khi đó doanh nghiệp có thể phải đối mặt với nguy cơ
mất khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản cũng rất gần.
Thông thường, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc
điểm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết
định tài chính của người quản lý trên cơ sở điều kiện thực tế của
doanh nghiệp. Làm thế nào để lựa chọn được một cơ cấu tài chính tối
ưu? Đó là câu hỏi luôn làm trăn trở các nhà quản lý tài chính doanh
nghiệp bởi sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp phụ
thuộc rất lớn vào sự khôn ngoan hay khờ dại của doanh nghiệp đó khi
lựa chọn cơ cấu tài chính.
I.1.2.2: Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
Theo tiêu thức này, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được

cho qúa trình sản xuất kinh doanh.
I.2: SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG.
I.2.1: Tầm quan trọng của việc tổ chức và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
Khác với nền kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước
đây về cách tổ chức và nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn thì trong cơ
chế thị trường hiện nay, mọi quyết định sản xuất đều dựa vào mệnh
lệnh cấp trên hay chủ quan của doanh nghiệp và coi vốn là một trong
những nhân tố tạo ra giá trị thặng dư. Vì vậy, về bản chất, hiệu quả sử
dụng vốn là một mặt biểu hiện của hiệu quả sản xuất kinh doanh. Việc
xem xét, đánh giá hiệu qủa sử dụng vốn có thể dựa vào nhiều tiêu
chuẩn khác nhau tuỳ theo quan điểm và góc độ đánh giá của mỗi
người. Mặc dù, tồn tại nhiều quan điêm khác nhau, nhưng đứng trên
trên giác độ chung nhất để đánh giá thì hiệu quả sử dụng vốn phải
được xem xét trên cả hai phương diện.
- Thứ nhất là kết quả (lợi ích) do sử dụng vốn đưa lại phải thoả
mãn và đáp ứng được lợi ích kinh tế xã hội.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
13

- Thứ hai là phải tối thiểu hoá được lượng vốn sử dụng và thời
gian sử dụng vốn.
Như vậy: hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về
hiệu quả kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn của
doanh nghiệp trong việc tối đa hoá kết quả lợi ích, tối thiểu hoá lượng
vốn và thời gian sử dụng theo các điều kiện về nguồn lực xác định,
phù hợp với mục tiêu kinh doanh.

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định vào hoạt
động vốn cố định vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.

+ Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận thuần HĐKD
vốn cố định
=
Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định sử dụng trong kỳ có
thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
 Các chỉ tiêu phân tích:
+ Hệ số hao mòn Số tiền KH luỹ kế TSCĐ ở thời điểm đánh giá
tài sản cố định
=
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Chỉ tiêu nầy phản ánh mức độ hao mòn TSCĐ so với thời điểm
ban đầu hay năng lực còn lại của TSCĐ.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
15+ Hệ số trang bị Nguyên giá TSCĐ sản xuất bình quân trong kỳ
tài sản cố định
=
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
Hệ số này phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho một công nhân
trực tiếp sản xuất.
I.2.2.2: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu
động:

+ Vđq1: VLĐ đầu quí 1
+ Vcq1, Vcq2, Vcq3, Vcq4: VLĐ cuối quí 1,2,3,4
Chỉ tiêu số lần luân chuyển VLĐ thể hiênh số vòng quay VLĐ
được thực hiện trong 1 kỳ nhất định.

Số ngày trong kỳ (360 ngày)
- Kỳ luân chuyển VLĐ

=
Số vòng quay VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để VLĐ thực hiện được 1
vòng quay trong kỳ.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
16

- Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn:
+ Mức tiết kiệm tuyệt đối = VLĐ năm kế hoạch – VLĐ năm báo
cáo
Để có tiết kiệm tuyệt đối thì kết quả trên phải là số âm
( DTBH– thuế)
KH
- ( DTBH– thuế)
BC

+ Mức tiết kiệm tương đối =
Vòng quay VLĐ
BC

=
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh (1 đồng) VKD sử dụng trong kỳ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.

B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
17

Lợi nhuận thuần HĐKD
- Tỷ suất lợi nhuận thuần VKD

=
VKD bình quân
Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn sản xuất
kinh doanh, nó phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh tham gia luân chuyển
trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần hoạt động kinh
doanh.
Lợi nhuận thuần HĐKD
- Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH

=
Vốn CSH bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy vốn CSH sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận thuần HĐKD.
I.2.3: Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Hoạt động trong cơ chế thị trường, việc tổ chức, sử dụng có hiệu
quả nguồn lực vốn là yêu cầu khách quan đối với qúa trình sản xuất

thành phố.
Từ 1975, công ty chính thức nhận kế hoạch nhà nước giao: nhiệm
vụ chủ yếu là sản xuất khăn mặt bông, khăn tắm, khăn tay phục vụ
cho nhu cầu tiêu dùng nội địa.
+ Số thiết bị ban đầu chỉ có 260 máy dệt thoi của Trung Quốc.
+ Tài sản cố định khi thành lập chỉ có gần 3 triệu đồng (lúc bấy
giờ).
Những năm đầu tiên đi vào hoạt động công ty mới chỉ đạt được:
+ Giá trị tổng sản lượng gần 2,5 triệu đồng
+ Sản phẩm chủ yếu gần 2 triệu khăn các loại.
Từ năm 1981- 1989: công ty được thành phố đầu tư thêm một dây
chuyền dệt kim đan dọc để dệt các loại vải tuyn, valide và dèm và
được giao quản lý triển khai thực hiện hai qúa trình công nghệ dệt
khác nhau là dệt thoi và dệt kim.
Năm 1981, thông qua TEXTIMEX, công ty đã ký hợp đồng xuất
khẩu dài hạn sang cộng hoà dân chủ Đức và Liên Xô (cũ).
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
19

Năm 1983, công ty bắt đầu sản xuất khăn ăn xuất khẩu cho thị
trường Nhật Bản với sự giúp đỡ của UNIMEX Hà Nội và đã chiếm thị
phần ngày càng lớn.
Từ năm 1988 đến nay công ty được nhà nước cho phép làm thí
điểm xuất khẩu trực tiếp sang thi trường nước ngoài.
Bước vào thời kỳ những năm 1990 nền kinh tế nước ta chuyển
sang thực hiện cơ chế quản lý mới theo tinh thần nghị quyết đại hội
VI và đại hội VII của Đảng. Tình hình chính trị có nhiêu biến động,
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông âu xụp đổ, công ty mất đi các
quan hệ bạn hàng, mất đi một thị trường quan trọng và truyền thống.

Năm 1990: nộp 525,9 triệu đồng
Năm 1997: nộp 1.534,8 triệu đồng.
Công tác khoa học kỹ thuật được đặc biệt chú ý: trong hơn 20 năm
công ty đã chế thử được hơn 300 mẫu sản phẩm và đưa vào sản xuất
khoảng 100 mẫu được khách hàng chấp nhận.
Bước sang năm 1998, công ty Dệt Minh Khai đứng trước thử
thách lớn về tài chính và thị trường tiêu thụ ở Nhật Bản.
Hiện nay, công ty đang nỗ lực, cố gắng để vượt qua những khó
khăn về thị trường tiêu thụ và công ty đang chuẩn bị những điều kiện
để mở rộng thị trường sang khu vực Tây Âu.
II.1.2: Tình hình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị:
II.1.2.1: Đặc điểm về sản phẩm và thị trường sản phẩm của
công ty.
- Sản phẩm chủ yếu của công ty có hai loại:
+ Khăn bông các loại: sản xuất từ nguyên liệu sợi bông 100%
+ Vải màn tuyn: sản xuất từ nguyên liệu 100% sợi petex.
* Thị trường nội địa:
Chủ yếu nhận đơn đặt hàng của các khách sạn ở các thành phố lớn
là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh
* Thị trường xuất khẩu:
Chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Nhận Bản. Đặc biệt là cung
cấp cho nhiều khách sạn tại Nhật thông qua công ty thương mại Nhật
Bản ASAHI.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
21

II.1.2.2: Đặc điểm bộ máy quản lý
Là một doanh nghiệp nhà nước, công ty Dệt Minh Khai tổ chức bộ

công tác kỹ thuật trong công ty. Nghiên cứu và áp dụng khoa học để
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
22

đưa công nghệ mới vào sản xuất, quản lý máy móc, thiết bị, kiểm tra
chất lượng các chi phí để sản xuất sản phẩm. - Phòng kế hoạch thị trường:
Là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc trong công ty
xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất, xuất nhập khẩu, kỹ
thuật, tài chính trong công ty, giúp giám đốc thực hiện nhiệm vụ kinh
tế đối ngoại trong công ty. Xây dựng và thực hiện kế hoạch cung ứng
vật tư cho sản xuất, tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo
quay vòng vốn nhanh.
- Phòng tài vụ:
Phòng tài vụ có chức năng giúp giám đốc về hình thức thống
kê, kế toán tài chính, đồng thời có trách nhiệm trước nhà nước theo
dõi kiểm tra giám sát tính hình thực hiện kế hoạch thu chi tiền và
hạch toán kinh tế nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
- Phòng hành chính- y tế:
Là phòng có chức năng giúp giám đốc trong công việc
hàng ngày, quản lý thuộc phạm vi hành chính tổng hợp, giao dịch văn
thư, truyền đạt chỉ thị của giám đốc đến các phòng ban phân xưởng.
Quản lý tài sản hành chính, cung cấp văn phòng phẩm cho văn phòng
công ty.
Thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho toàn bộ cán bộ CNV
trong công ty.
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Vò Minh §¹t Kho¸ 34A3 - KTHN
24 Sơ đồ tổ chức quản lý và sản xuất của công ty:

Giám đốc công ty
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc kỹ thuật
Phòng kế hoạch thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status