MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng nghiên cứu 4
4. Giới hạn của đề tài 4
5. Nhiệm vụ đề tài 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Thời gian nghiên cứu 4
Phần thứ hai: NỘI DUNG 6
I. Cơ sở lí luận 6
II. Cơ sở thực tiễn 7
1. Về học sinh 7
2. Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học 12
3. Về giáo viên 8
4. Những hạn chế và khó khăn thường gặp của GV
và HS khi dạy và học mạch kiến thức"Giải toán có lời
văn" ở lớp 1
III. Một số biện pháp thực hiện 9
1. Nắm bắt nội dung chương trình 9
2. Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học 12
3. Dạy "Giải toán có lời văn" ở lớp 1 13
Ph ần thứ ba: KẾT LUẬN 22
1. Ý nghĩa 22
2. Bài học kinh nghiệm và giải pháp thực hiện 23
3. Kết luận 24
1
4. Kiến nghị, đề xuất 24
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 – Lí do chọn đề tài
có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn phương pháp suy luận và
những phẩm chất của người lao động mới.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học giải toán ở tiểu học nhất là ở
khối lớp 1- khối đầu cấp nên tôi chọn đề tài: "Một số kinh nghiệm nâng cao chất
lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1" để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học
mạch kiến thức giải toán có lời văn để HS có kĩ năng giải toán tốt hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu
HS líp 1A trêng TiÓu häc Nam Cêng thµnh phè Yªn B¸i n¨m häc 2008 - 2009
, n¨m häc 2009 - 2010 , n¨m häc 2010 - 2011
4. Giới hạn của đề tài
HS líp 1A Trêng TiÓu häc Nam Cêng
3
Năm học TSHS Nam Nữ
2008 - 2009 27 14 13
2009 - 2010 29 15 14
2010 - 2011 26 13 13
5. Nhim v ca ti
Đối với đề tài này nhiệm vụ nghiên cứu của bản thân tôi là:
- Khảo sát thực tế, thực trạng giải toán có lời văn của học sinh lớp 1 qua các
năm học.
- Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hởng tới việc giải toán còn sai.
- Nêu ra các bớc tiến hành để hớng dẫn HS giải toán đúng, trình bày bài giải
đẹp.
Đa ra những biện pháp giải quyết, khắc phục những vớng mắc mà học sinh
còn mắc phải.
6. Phng phỏp nghiờn cu:
Để thực hiện đề tài này bản thân tôi đã áp dụng một số phơng pháp nghiên cứu
dựng lên. Muốn vững chắc bền lâu thì kĩ thuật xây dựng móng là hết sức quan
trọng. Đòi hỏi ngời thợ xây móng phải giỏi, vừa có kĩ thuật cao vừa có sự sáng
tạo.
- Về kiến thức: i vi HS lp 1, vic gii toỏn gm:
+ Gii thiu bi toỏn n.
+ Gii cỏc bi toỏn n v phộp cng v phộp tr, ch yu l cỏc bi toỏn
thờm, bt mt s n v.
- Về kỹ năng:
i vi mch kin thc : Gii toỏn cú li vn, l mt trong nm mch kin
thc c bn xuyờn sut chng trỡnh Toỏn cp tiu hc. Thụng qua gii toỏn cú li
vn, cỏc em c phỏt trin trớ tu, c rốn luyn k nng tng hp: c, vit, din
t, trỡnh by, tớnh toỏn. Toỏn cú li vn l mch kin thc tng hp ca cỏc mch
kin thc toỏn hc, gii toỏn cú li vn cỏc em s c gii cỏc loi toỏn v s hc,
cỏc yu t i s, cỏc yu t hỡnh hc v o i lng. Toỏn cú li vn l chic cu
ni gia toỏn hc v thc t i sng, gia toỏn hc vi cỏc mụn hc khỏc. Tuy
nhiờn vỡ mi quen vi mụn toỏn, vi cỏc phộp tớnh cng, tr, li tip xỳc vi vic
gii toỏn cú li vn khụng khi cú nhng b ng vi hc sinh.
Gii toỏn l mt hot ng gm nhng thao tỏc:
6
+ Xác lập được mối liên hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm
trong điều kiện của bài toán.
+ Chọn phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán.
Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối
quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện bài toán mà thiết lập các
phép tính số học tương ứng, phù hợp. Để tiến hành được điều đó, việc dạy toán diễn
ra theo 3 mức độ.
- Mức độ thứ nhất: Hoạt động chuẩn bị cho việc giải toán.
- Mức độ thứ hai: Hoạt động làm quen với việc giải toán.
- Mức độ ba: Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán.
II. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, các trờng tiểu học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết bị
và đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấp học và những bộ va-li để dạy theo
lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫn cha đáp ứng được đầy đủ yêu
cầu
dạy “Giải toán có lời văn”.
3. Về giáo viên
Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng,
chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạy học truyền
thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày. Một số giáo viên dạy theo
cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với
đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”. Một số giáo
viên chưa biết cách dạy " Giải toán có lời văn", nếu không muốn nói là làm cho bài
toán trở nên phức tạp, khó hiểu hơn. Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh
8
hoạ, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu.
4. Những hạn chế và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi dạy và
học mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp 1.
Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán có lời
văn”cho học sinh lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có
phương pháp giảng dạy có hiệu quả.Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của
học sinh lớp 1 còn rất hạn chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên đã
diễn đạt như với các lớp trên làm học sinh lớp 1 khó hiểu và không thể tiếp thu được
kiến thức và không đạt kết quả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn. Khả năng
phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời
văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt. Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư
phạm để nêu vấn đề. Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các
nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học. Khả năng kiên trì của
học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chung cũng như học “Giải toán có lời văn” nói
riêng còn chưa cao.
89).
* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là chuẩn bị
cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính. Chính vì vậy ngay sau các
bài tập “nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống” chúng ta chịu khó
đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng.
Ví dụ: Từ bức tranh “3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới” ở trang 47 – SGK,
sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống: 3 + 1 = 4
Giáo viên nên hỏi tiếp: “Vậy có tất cả mấy con chim?” để học sinh trả lời miệng:
“Có tất cả 4 con chim” ; hoặc “Số chim có tất cả là bao nhiêu? (Số chim có tất cả
là 4) …
Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giải bằng miệng.
Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau này.
* Tiếp theo, trước khi chính thức học “Giải các bài toán có lời văn” học sinh được
10
học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thành phần chính là
những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (cha biết). Vì khó có thể giải
thích cho học sinh “Bài toán là gì?” nên mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho
các em hai bộ phận của một bài toán:
+ Những cái đã cho (dữ kiện)
+ Và cái phải tìm (câu hỏi).
Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: 2 đề
còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu
thị bằng dấu …) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó điền số vào
chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn để trống). Từ đó giáo viên giới
thiệu cho các em ” Bài toán thường có hai phần “:
+ Những số đã cho.
+ Số phải tìm (câu hỏi).
Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài toán có lời văn”.
b. * Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán “Thêm –
Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:
- Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một chút
Là được ngay câu lời giải.
- Cài sẵn “cốt câu” lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết
câu lời giải.
- Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải
khác nhau. Chẳng hạn, với bài toán : “An có 4 quả bóng. Bình có 3 quả bóng. Hỏi
cả hai bạn có mấy quả bóng?”; Học sinh có thể đặt lời giải theo rất nhiều cách như:
+ Cả hai bạn có: ……
+ Hai bạn có: ……….
+ An và Bình có: ……….
+ Tất cả có: ……….
+ Số bóng có tất cả là: ………
12
2. Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học
Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức của học sinh tiểu học là: “Từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng trở lại thực tiễn”. Đồ
dùng thiết bị dạy học là phương tiện vật chất, phương tiện hữu hình cực kỳ cần thiết
khi dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một. Cũng trong cùng một bài toán
có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùng lời để hướng dẫn học sinh làm bài thì
vừa vất vả tốn công, vừa không hiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng
đồ dùng thiết bị, tranh ảnh, vật thực để minh hoạ. Chính vì vậy rất cần thiết phải sử
dụng đồ dùng thiết bị dạy học để dạy học sinh “Giải bài toán có lời văn”.
Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến từng lớp đã có khá nhiều các đồ dùng mẫu
vật cho việc sử dụng dạy “Giải toán có lời văn” song vẫn là thiếu nếu giáo viên thực
sự có trách nhiệm. Mỗi nhà trường cần có kế hoạch mua bổ xung, từng tổ khối, cá
nhân giáo viên cần sưu tầm, làm thêm các thiết bị như: vật thực, tranh ảnh… làm đồ
dùng, dùng chung và riêng cho từng lớp.
Một điều hết sức quan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúng túng sử
dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy “Giải toán có lời văn” nói
riêng. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý thức chuẩn bị sử dụng đồ
GV thiết kế các slide trong giáo án điện tử trong đó có thiết kế các hiệu ứng di
chuyển ra hoặc vào, thêm hoặc bớt để hướng dẫn HS phân tích đề toán. Bằng các
hình ảnh động, cụ thể HS dễ dàng nắm được nội dung bài toán và tìm ra được cách
giải.
3.2. Quy trình ” Giải toán có lời văn ”
3.2.1. Hoạt động chuẩn bị cho việc giải toán:
Trước mỗi giờ toán tôi thường nghiên cứu kĩ bài toán tìm xem đồ dùng nào phù
hợp với bài như các nhóm đồ vật, các mẫu hình, tranh vẽ.
Mỗi học sinh có 1 hộp hình học toán. theo yêu cầu của giáo viên học sinh được
rèn luyện các thao tác trên tập hợp các nhóm đồ vật, các mẫu hình.
14
Phần lớn các bài toán đều có chủ đề liên quan tới các đại lượng và mối quan hệ
giữa các đại lượng trong bài toán. Vì thế, việc rèn kĩ năng thao tác qua việc học về
phép đo đại lượng là rất cần thiết cho việc giải toán.
3.2.2. Hoạt động làm quen với giải toán:
- Đọc và tìm hiểu đề bài.
- Tìm đường lối giải bài toán.
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra lại bài giải.
a. Đọc và tìm hiểu đề toán
Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên
là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ chức cho
các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như ” thêm , và , tất cả, …
” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , …” (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ).
Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài.
Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ cha
sát với nội dung cần tóm tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.
Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm
thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm
tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để
Kiểu tóm tắt như vậy khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý
cho học sinh lựa chọn phép tính giải.
Có thể lồng “cốt câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ
viết câu lời giải hơn. Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể
viết ngay câu lời giải là : “Cả hai bạn có:” hoặc “Số vở cả hai bạn có:” hoặc: “Cả hai
bạn có số vở là:”. Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu ? lên trước các từ
như quyển, quả, … Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực về mặt Tiếng Việt vì
tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi. Nếu tóm tắt bằng sơ đồ đoạn
thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các từ như quyển, quả ,… cũng
được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu. Tuy nhiên học sinh thường có thói
quen cứ thấy dấu … là điền số (dấu) vào đó nên giáo viên cần lưu ý các em là:
“Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì dấu … thay cho từ “mấy” hoặc
16
? ngôi sao
“bao nhiêu” ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó để ghi vào đáp số của bài giải chứ
không phải để ghi vào chỗ … trong tóm tắt. Nếu không thể giải thích cho học sinh
hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối cũ, tức là đặt dấu hỏi (?) ra đằng trước
theo kiểu “Còn ? quả” cũng được, không nên quá cứng nhắc.
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa
vào tóm tắt nêu đề toán. Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình. Không nên vội
vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép
tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh
rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc và giải
được bài toán là đạt yêu cầu.
b. Tìm đường lối giải bài toán.
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm,
chẳng hạn:
- Bài toán cho biết gì? (Nhà An có 5 con gà)
- Còn cho biết gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: “Có tất cả: … con gà ?”. Học sinh viết câu lời
giải: “Nhà An có tất cả số con gà là:”
Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?” để học
sinh trả lời miệng: “Nhà An có tất cả 9 con gà” rồi chèn phép tính vào để có cả
bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 4 = 9 (con gà), giáo viên chỉ vào 9 và hỏi:
“9 con gà ở đây là số gà của nhà ai?” (là số gà nhà An có tất cả). Từ câu trả lời của
học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số gà nhà An có tất cả là”
v.v…ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác
nhau,sau đó bàn bạc để lựa chọn câu thích hợp nhất. Không nên bắt buộc trẻ nhất
nhất phải viết theo một kiểu.
18
c. Trình bày bài giải
Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Thực
tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải còn rất hạn chế, kể cả học sinh
khá giỏi. Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chính
xác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm
tra. Cần trình bày bài giải một bài toán có lời văn như sau:
Bài gi ải
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 ( con gà )
Đáp số : 9 con gà
Nếu lời giải ghi: “Số gà nhà An là:” thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9 (con)”.
(Lời giải đã có sẵn danh từ “gà”). Tuy nhiên nếu học sinh viết quá chậm mà lại
gặp phải các từ khó như “thuyền, quyển, …” thì có thể lược bớt danh từ cho nhanh.
Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ “con gà” lại được đặt trong dấu ngoặc đơn?
Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) chứ 5 + 4 không thể bằng 9 con gà
được. Do đó, nếu viết: “5 + 4 = 9 con gà” là sai. Nói cách khác, nếu vẫn muốn được
Bài toán nói: Mẹ hơn tuổi con có nghĩa là con kém tuổi mẹ.
Đến đây học sinh có thể tìm cách giải dễ dàng hơn - sau đó so sánh tuổi con với
mẹ xem đã hợp lí chưa. Nhờ phần kiểm tra mà học sinh lớp tôi ít nhầm lẫn trong các
dạng toán này.
3.2.3. Biện pháp khắc sâu kiến thức “Giải toán có lời văn”
Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và giải tốt giáo viên cần giúp các em hiểu
chắc, hiểu sâu loại toán này.Ở mỗi bài, mỗi tiết về “Giải toán có lời văn” giáo viên
cần phát huy tư duy, trí tuệ, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh bằng việc
hướng cho học sinh tự tóm tắt đề toán, tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho, tự đặt đề
20
toán theo tóm tắt cho trước, giải toán từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ đồ viết tiếp nội
dung đề toán vào chỗ chấm (…), đặt câu hỏi cho bài toán.
Ví dụ 1: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán, rồi giải bài toán đó:
Bài toán: Dưới ao có … con vịt, có thêm … con vịt nữa chạy xuống.
Hỏi……………………………………………………………… ?
Ví dụ 2: Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Có : 7 hình tròn
Tô màu : 3 hình tròn
Không tô màu : ………. hình tròn?
\\
21
Phần thứ ba. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa
Do nắm được tầm quan trọng của việc dạy và học mạch kiến thức "Giải toán
có lời văn" mà trong suốt quá trình giảng dạy tôi luôn cố gắng vận dụng những kinh
nghiệm đã có từ thực tế giảng dạy để vận dụng vào quá trình giảng dạy nhờ đó:
- Học sinh được luyện tập nhiều qua các dạng toán nên các em nắm vững các
bước giải toán.
- Học sinh biết cách tóm tắt bài toán bằng lời và sơ đồ. Qua đó giúp học sinh
hình thành được phép tính thích hợp.
- Không biết tóm tắt hoặc tóm tắt không đúng.
- Viết lời giải lung tung, không phù hợp với phép tính.
- Ghi danh số ở phép tính và đáp số còn sai hoặc thiếu.
- Trình bày bài giải chưa đẹp, chưa khoa học.
Qua tổng hợp kết quả 3 lần kiểm tra khảo sát ở cuối năm học 2010 – 2011
(với đề bài tương tự như các năm học trước), số học sinh còn sai sót là rất ít.
Đối với học sinh lớp 1, các em thực sự là những mầm cây còn rất non nớt, để
có được một cây to, cây khoẻ, mỗi giáo viên dạy lớp 1 ngoài việc uốn nắn , buộc
tỉa phải biết chăm sóc để các em được phát triển một cách toàn diện. Làm tốt việc
dạy “Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1” sẽ góp phần vô cùng quan trọng để
phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó các em sẽ có một nền tảng
vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên.
2. Bài học kinh nghiệm và giải pháp thực hiện
- Mỗi giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, cấu trúc sách giáo khoa về
“Giải toán có lời văn” ở lớp 1 để xác định được trong mỗi tiết học phải dạy cho
học sinh cái gì, dạy như thế nào?
- Đối với học sinh tiểu học và đặc biệt là học sinh lớp 1, cần coi trọng sử dụng
trực quan trong giảng dạy nói chung và trong dạy “Giải toán có lời văn” nói riêng,
tuy nhiên cũng không vì thế mà lạm dụng trực quan hoặc trực quan một cách hình
thức.
- Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 không thể nóng vội mà phải hết
sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các
23
em một phương pháp tư duy học tập đó là tư duy khoa học, tư duy sáng tạo, tư duy
lôgic. Rèn cho các em đức tính chịu khó cẩn thận trong “Giải toán có lời văn”.
- Vận dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, linh hoạt phát huy tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh.
3. Kết luận
Qua thực nghiệm với kết quả rất khả quan, tôi có một số kết luận sau:
- Thực tế cho thấy chương trình môn toán lớp 1 còn nặng ở một số bài, một số
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
25