thực trạng việc áp dụng các nguyên tắc chi ngân sách nhà nước trong hoạt động chi ngân sách nhà nước việt nam - Pdf 22

Trường Đại học Thương Mại
Khoa Marketing

BÀI THẢO LUẬN

Môn: Nhập môn tài chính tiền tệ
GVHD: Lê Thu Huyền
Nhóm: 9
Lớp: 1202EFIN0112
Đề tài: Thực trạng việc áp dụng các nguyên tắc chi
ngân sách nhà nước trong hoạt động chi ngân sách nhà nước Việt
Nam. Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất
thoát nguồn ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay.

Hà Nội, 2012
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
o0o
Page 2 of 27

MỤC LỤC
Lời mở đầu
A. Lý luận chung về chi ngân sách Nhà nước
I- Khái niệm, đặc điểm và nội dung chi NSNN
II- Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN
III- Vai trò của chi NSNN
B. Trực trạng chi ngân sách Nhà nước
I- Bảng cân đối NSNN
II- Phân tích đánh giá chi NSNN
C. Giải pháp nâng cao hiệu quả và hạn chế thất thoát trong chi NSNN
Kết luận

I. Khái niệm, đặc điểm và nội dung chi NSNN:
Page 4 of 27
1. Khái niệm:
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ
NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng
của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn
tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa
chúng đến mục đích sử dụng. Vì thế, chi NSNN
là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các
định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu,
từng hoạt động và từng công việc thuộc chức
năng của Nhà nước.
2.Đặc điểm:
- Chi NSNN gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế chính trị, xã
hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ.
-Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà
nước.Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất
quyết định qui mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và
phân bổ vốn NSNN cho các mục tiêu quan trọng
nhất. Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm
vụ quản lý, điều hành các khoản chi NSNN.
-Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó
được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, anh ninh, quốc phòng,…dựa
vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, anh ninh, quốc phòng,…mà các khoản
chi NSNN đảm nhận.
-Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả
trực tiếp. Các khoản chi cấp phát từ NSNN cho các
Page 5 of 27
ngành, các cấp, cho các hoạt động văn hóa, xã hội, giúp đỡ người nghèo. Không phải trả

+) Chi không thường xuyên
III.Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN.
Chi NSNN có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia. Việc bố trí các khoản chi NSNN một cách tùy tiện, thiếu sự phân tích hoàn
cảnh cụ thể sẽ có một ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Do vậy, việc tổ chức các khoản chi NSNN phải đươc tổ chức theo những nguyên
tắc nhất định.
1. Dựa trên khả năng các nguồn thu có thể huy động được để bố trí các khoản
chi.

Chi NSNN dựa trên cơ sở có nguồn thu thực tế từ nền kinh tế. Nó đòi hỏi mức độ
chi và cơ cấu các khoản chi phải dựa vào khả năng tăng trưởng GDP của đất nước . Nếu
vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng bội chi NSNN, một nguyên nhân dẫn đến
bùng nổ lạm phát, gây mất ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chỉ tiêu
của NSNN.
Các khoản chi NSNN nói chung có đặc điểm là bao cấp với khối lượng chi tiêu
lớn. Và lại, trong thực tế, trải qua một thời gian dài với quan điểm chi với bất cứ giá nào
đã gây ra tình trạng lãng phí, kém hiệu quả trong việc sử dụng các khoản chi NSNN, đặc
biệt là các khoản chi xây dựng cơ bản. Do vậy cần phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và
hiệu quả trong các khoản chi NSNN.
3. Đảm bảo yêu cầu tập trung có trọng điểm.
Page 7 of 27
Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn NSNN phải căn cứ vào chương
trình trọng điểm của nhà nước, vì việc thực hiện thành công các chương trình này có tác
động dây chuyền, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực phat triển.
4. Đảm bảo yêu cầu Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trí các khoản
chi của NSNN, đặc biệt là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định các khoản chi ngân sách cho một lĩnh vực
nhất định cần phải cân nhắc khả năng huy động các nguồn lưc khác để giảm nhẹ gánh

động kinh doanh của các doanh nghiệp).
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong
những biện pháp căn bản để chống độc quyền và tránh cho thị trường khỏi rơi vào tình
trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong
ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp,
đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý
hơn.
2. Giải quyết các vấn đề xã hội:
Chính sách ngân sách, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi ngân sách, góp
phần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và tiền lương giữa những người
làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực hành chính, sự nghiệp, an ninh,
quốc phòng; giữa những người sống ở thành thị, nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm ổn
Page 9 of 27
định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước.
Nhà nước trợ giúp trực tiếp giành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn
cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các
mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc
làm, chống mù chữ….
3. Góp phần ổn định thị trường chống lạm phát.

Đối với thị trường hàng hóa, hoạt động điều tiết của Chính phủ được thực hiện
thông qua việc sử dụng các quỹ dự trữ của Nhà nước (bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại
hàng hóa, vật tư chiến lược ) được hình thành từ nguồn thu của NSNN. Một cách tổng
quát,cơ chế điều tiết là khi giá cả của một loại hàng hóa nào đó lên cao, để kìm hãm và
chống đầu cơ,Chính phủ đưa dự trữ hàng hóa đó ra thị trường để tăng cung, trên cơ sở đó
sẽ bình ổn giá cả và hạn chế khả năng tăng giá đồng loạt, gây lạm phát chung cho nền
kinh tế. Và khi giá cả của hàng hóa đó giảm mạnh, có khả năng gây thiệt hại cho người
sản xuất và tạo ra xu hướng di chuyển vốn sang lĩnh vực khác, Chính phủ sẽ bỏ tiền ra để
mua các hàng hóa đó theo một giá nhất định nhằm đảm bảo cho người sản xuất.
Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động,…hoạt động

0
100,000
1 Trả nợ trong nước 66,300 79,300 77,850
2 Trả nợ ngoài nước 18,700 20,700 21,000
3 Chi viện trợ 1,000 1,000 1,150
III Chi thường xuyên 442,100 491,50
0
542,000
Trong đó:
1 Chi giáo dục - đào tạo, dạy nghề 110,130 120,339 135,920
2 Chi Y tế 43,200 44,860 51,100
3 Chi dân số và kế hoạch hoá gia đình 880 900 970
4 Chi khoa học, công nghệ 6,430 6,483 7,160
5 Chi văn hoá, thông tin 4,640 4,774 5,450
6 Chi phát thanh, truyền hình, thông tấn 2,410 2,489 2,890
7 Chi thể dục thể thao 1,760 1,826 1,990
8 Chi lương hưu và bảo đảm xã hội 74,500 82,660 85,560
9 Chi sự nghiệp kinh tế 42,540 47,262 49,488
10 Chi sự nghiệp bảo vệ môi trường 7,250 7,950 9,050
Page 11 of 27
11 Chi quản lý hành chính 62,060 68,202 77,460
12 Chi trợ giá mặt hàng chính sách 1,660 2,110 1,820
IV Chi thực hiện cải cách tiền lương
27,000
6,000 59,300
V Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính 100 100 100
VI Chi chuyển nguồn 22,400
VI
I
Dự phòng 18,400 21,700

chi trả nợ, (3) chuyển nguồn đảm bảo cân đối NSNN năm 2012.
Số vượt thu NSĐP, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của
Quốc hội, phần vượt thu tiền sử dụng đất (khoảng 13.500 tỷ đồng) địa phương sử dụng để
tăng Quỹ phát triển nhà đất và đầu tư phát triển các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội
quan trọng;phần vượt thu ngoài tiền sử dụng đất (khoảng 12.000 tỷ đồng), địa phương sử
dụng 50% để tạo nguồn cải cách tiền lương, số còn lại sử dụng để đáp ứng các nhiệm vụ
cấp thiết về phòng chống giảm nhẹ tác hại thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội,
quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Trong điều hành, các địa phương chủ động tăng chuyển
nguồn đảm bảo cân đối NSNN năm 2012, hạn chế chi ngay trong năm 2011 để góp phần
kiềm chế lạm phát.
2. Chi NSNN tại một số lĩnh vực
Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm 2011, kết hợp với dự kiến phân bổ sử dụng
nguồn dự phòng và nguồn vượt thu năm 2011 nêu trên, đánh giá tổng chi NSNN năm
2011 ước đạt 796.000 tỷ đồng, tăng 9,7% so với dự toán, tăng 18,6% so với thực hiện
năm 2010. Kết quả cụ thể tại một số lĩnh vực chi chủ yếu như sau:
a) Chi đầu tư phát triển: Dự toán chi 152.000 tỷ đồng.
Ước thực hiện cả năm, trên cơ sở dự toán đầu năm, cộng thêm vốn dự kiến bổ
sung từ nguồn dự phòng và nguồn vượt thu NSNN, đạt 175.000 tỷ đồng, tăng 15,1% so
với dự toán, tăng 9% so với thực hiện năm 2010, bằng 22% tổng chi NSNN. Số vượt chi
so với dự toán được tập trung sử dụng cho các dự án quan trọng, cấp bách có khả năng
hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2011 - 2012, các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công
trình sạt lở đê kè cấp bách và giảm nhẹ tác hại thiên tai, bổ sung tăng dự trữ quốc gia để
bảo đảm an ninh lương thực
Tổng hợp vốn đầu tư từ trái phiếu Chính phủ, nguồn xổ số kiến thiết và vốn bố trí
trong cân đối NSNN, thì tổng chi đầu tư phát triển từ NSNN năm 2011 ước 233.000 tỷ
đồng, bằng 27,3% tổng chi NSNN, chiếm 9,3%GDP. Nguồn vốn đầu tư của NSNN, cùng
với vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đưa vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội năm 2011 đạt khoảng 34,5%GDP, góp phần tăng thêm năng lực mới cho nền kinh tế.
Page 13 of 27
Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành chi đầu tư phát triển năm 2011 cũng còn tồn

III. Dự toán chi NSNN năm 2012
1. Dự toán chi NSNN năm 2012:
Page 14 of 27
Năm 2012 là năm trong thời kỳ ổn định ngân sách mới (2011-2015), vì vậy việc
bố trí dự toán cơ bản được thực hiện theo hệ thống định mức phân bổ dự toán chi đầu tư
phát triển và chi thường xuyên NSNN hiện hành; đồng thời, thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an ninh quốc phòng trong tình hình mới, tiếp tục
ưu tiên đầu tư cho con người, thực hiện cải cách tiền lương, vì vậy nhu cầu tăng chi
NSNN năm 2012 là rất lớn.
Với dự kiến thu NSNN như trên, thì nguồn chi năm 2012 được bổ sung thêm
145.500 tỷ đồng từ tăng thu NSNN so với dự toán năm 2011. Ngoài ra, thực hiện chủ
trương giảm dần bộichi NSNN, dự kiến năm 2012 bội chi ở mức 4,8%GDP, tương ứng
140.200 tỷ đồng. Cùng với số dự kiến chuyển nguồn từ tăng thu NSTW năm 2011 sang là
22.400 tỷ đồng thì dự kiến nguồn cân đối chi NSNN năm 2012 tăng thêm so với dự toán
năm 2011 là 177.500 tỷ đồng; trong đó: nguồn NSĐP tăng thêm khoảng 62.904 tỷ đồng;
nguồn NSTW tăng thêm khoảng 114.596 tỷ đồng, mới đáp ứng được khoảng 40% nhu
cầu tăng chi NSNN năm 2012. Căn cứ khả năng và yêu cầu, dự toán chi NSNN năm 2012
được bố trí theo nguyên tắc như sau:
Thứ nhất, tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư cho con người,
cải cách tiền lương, thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Bố trí kinh phí cho các lĩnh
vực giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, y tế, sự nghiệp bảo vệ môi
trường theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, đảm bảo chi quốc phòng, an ninh trong
tình hình mới. Riêng chi đầu tư phát triển, bố trí tăng về số tuyệt đối nhưng giảm dần tỷ
trọng trong tổng chi NSNN để có nguồn tăng chi đầu tư cho con người, đảm bảo an sinh
xã hội.
Thứ hai, phân bổ chi ngân sách theo hướng tiết kiệm, tập trung, chống dàn trải,
đảm bảo đủ kinh phí thực hiện các cơ chế, chính sách đã ban hành; tập trung hơn cho
những nhiệm vụ quan trọng, vùng miền và địa phương, đơn vị khó khăn; thúc đẩy nhanh
việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công, tăng cường cơ chế tự chủ
tài chính, thực hiện cơ chế giá dịch vụ đi đôi với việc sửa đổi, ban hành chính sách hỗ trợ

10,9% so với dự toán năm 2011 (đã tính theo cùng mặt bằng lương và các khoản phụ cấp tính
theo lương với mức tiền lương tối thiểu 830 nghìn đồng/tháng). Số tăng chi thường xuyên
năm 2012 so với dự toán năm 2011 bao gồm tăng chi thường xuyên của địa phương (do tăng
nguồn thu NSĐP được hưởng theo phân cấp); tăng chi các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học
công nghệ, văn hoá thông tin, y tế, bảo vệ môi trường (ngoài tăng chi đầu tư, chi tiền lương) để
đảm bảo tỷ lệ so với tổng chi NSNN theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; tăng chi đảm
bảo xã hội; đảm bảo các nhiệm vụ quan trọng về an ninh, quốc phòng,
Trên cơ sở đó, định hướng phân bổ chi thường xuyên theo từng lĩnh vực chủ
yếu như sau:
- Dự toán chi sự nghiệp giáo dục-đào tạo: 135.920 tỷ đồng, tăng 11,1% so dự
toán năm 2011. Cùng với chi đầu tư XDCB, chi đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết, chi
đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và chi cải cách tiền lương (bao gồm cả chi thực
hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với giáo viên theo quy định tại Nghị định số
54/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ), tổng chi giáo dục đào tạo và dạy nghề
đạt 20% tổng chi NSNN theo Nghị quyết số 37/2004/NQ-QH11 của Quốc hội. Tập trung
thực hiện các nhiệm vụ lớn: nâng cao chất lượng kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục
tiểu học, tiếp tục triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục
trung học cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; thực hiện chính sách
miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho các đối tượng con em các hộ nghèo,
Page 16 of 27
sống thường trú tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, ; hỗ trợ các địa phương
phát triển giáo dục đối với học sinh dân tộc bán trú, học sinh tại các vùng khó khăn, nâng
cao hiệu quả giáo dục tại các trường phổ thông dân tộc nội trú; triển khai dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân; phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở vật
chất, thiết bị giáo dục; củng cố và mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú cấp
tỉnh và bán trú cấp huyện; đổi mới và thống nhất các trình độ đào tạo, đa dạng hóa các
hình thức và phương thức đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, chú trọng đào tạo nghề, đặc
biệt là đào tạo nghề cho nông nghiệp, nông thôn ; tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng,
hiệu quả và quy mô của giáo dục đại học theo hướng ưu tiên mở rộng quy mô chương
trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc

tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí chất lượng cao; kinh phí thực hiện Nghị quyết của
Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hoá nghệ thuật trong thời kỳ mới; kinh phí
thực hiện các mục tiêu về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc, bảo tồn
phát huy nghệ thuật truyền thống; thực hiện chính sách vận động toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên
cho các hội văn học nghệ thuật ở Trung ương, kinh phí trao giải báo chí quốc gia; tăng
cường thông tin tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong và
ngoài nước; triển khai các chương trình, đề án quốc gia về công nghệ thông tin; đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa
phương ; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan
có thẩm quyền.
+ Dự toán chi sự nghiệp phát thanh - truyền hình - thông tấn: 2.890 tỷ đồng, tăng
17,2% so dự toán năm 2011. Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên và nâng cao chất
lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, đổi mới phương thức sản xuất tin, thực
hiện tốt các nhiệm vụ chính trị về thông tin, tuyên truyền được Đảng và Nhà nước giao;
bố trí kinh phí đặt hàng dịch vụ truyền hình đối ngoại (VTC10), dịch vụ truyền hình
phòng chống, giảm nhẹ thiên tai phục vụ cộng đồng (VTC14), dịch vụ truyền hình nông
nghiệp, nông thôn (VTC16)
- Dự toán chi sự nghiệp thể dục thể thao: 1.990 tỷ đồng, tăng 11,5% so dự toán
năm 2011. Đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển thể dục thể thao quần
chúng; công tác giáo dục thể chất trong trường học; tổ chức các giải và hội thi thể thao
khu vực; chuẩn bị lực lượng tham dự các Đại hội thể thao khu vực và thế giới; tổ chức
các giải thể thao thành tích cao ở cấp quốc gia, quốc tế; đảm bảo các chế độ đối với vận
động viên, huấn luyện viên (tiền ăn, tiền công, tiền thưởng), tính đủ kinh phí tiền thuê
chuyên gia; từng bước tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất, trang thiết bị các trung tâm,
nhà thi đấu thể thao ở các cấp phục vụ cho các hoạt động thể thao thành tích cao
- Dự toán chi lương hưu và đảm bảo xã hội: 85.560 tỷ đồng, tăng 6,3% so dự
toán năm 2011. Bố trí đảm bảo chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho các đối
tượng do NSNN bảo đảm; chi trợ cấp ưu đãi cho người có công với cách mạng; chi trợ
cấp cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ, tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và

giá tổng thể tài nguyên boxit miền Nam Việt Nam, đề án Thăm dò quặng urani huyện
Nam Giang tỉnh Quảng Nam, các dự án thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản
lý tài nguyên - môi trường biển, ); chi bảo quản dự trữ.
- Dự toán chi sự nghiệp bảo vệ môi trường: 9.050 tỷ đồng, tăng 24,8% so dự
toán năm 2011 đảm bảo chiếm trên 1% tổng chi NSNN theo Nghị quyết số 41/NQ-TW
của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm theo quy định của
Luật bảo vệ môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường như: Đảm bảo hoạt động của
hệ thống quan trắc và phân tích môi trường; xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng thuộc khu vực công; ban hành các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường ngành;
triển khai các đề án thuộc Chương trình hành động của Chính phủ về bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các đề án bảo vệ môi trường các
lưu vực sông; chi hỗ trợ phát triển năng lượng sạch (điện gió) thông qua Quỹ bảo vệ môi
trường Việt Nam; hoàn thiện, cập nhật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường;
xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường; tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật về môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường;
Page 19 of 27
chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền; các hoạt động khác có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
- Dự toán chi quản lý hành chính: 77.460 tỷ đồng, tăng 10,5% so dự toán năm
2011. Đảm bảo đủ kinh phí chi thường xuyên theo định mức, kinh phí chi lương và các
khoản có tính chất tiền lương, các khoản đóng góp theo lương theo mức lương tối thiểu
830.000 đồng/người/tháng; bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại; tăng kinh
phí thực hiện lộ trình cải cách tư pháp; kinh phí thực hiện Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tố tụng hình sự; kinh phí phục vụ công tác sửa đổi Hiến pháp 1992; kinh phí thực hiện
tổng điều tra cơ sở hành chính, sự nghiệp; kinh phí thực hiện Chương trình tổng thể cải
cách hành chính; tăng kinh phí đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế (ADB, ); kinh
phí tổ chức các Hội nghị, Đại hội theo nhiệm kỳ.
- Dự toán chi trợ giá các mặt hàng chính sách: 1.820 tỷ đồng, tăng 9,6% so dự
toán năm 2011. Bố trí đảm bảo kinh phí thực hiện chính sách cấp không thu tiền một số

A
TỔNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
605,000 684,500 762,900
I Thu cân đối ngân sách nhà nước 595,000 674,50
0
740,500
1 Thu nội địa 382,000 425,000 494,600
2 Thu từ dầu thô 69,300 100,000 87,000
3 Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu 138,700 144,00
0
153,900
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000 5,500 5,000
II Thu chuyển nguồn 10,000 10,000 22,400
B
TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
725,600 796,000 903,100
1 Chi đầu tư phát triển 152,000 175,000 180,000
2 Chi trả nợ và viện trợ 86,000 101,000 100,000
3
Chi thường xuyên
469,100 491,50
0
542,000
4 Chi thực hiện cải cách tiền lương 6,000 59,300
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 100 100
6 Dự phòng 18,400 21,700
7 Chi chuyển nguồn 22,400
C
BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
-120,600 111,500 140,200

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy
nền kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng với nền
kinh tế thế giới; tạo lập môi trường tài chính
ngân sách lành mạnh nhằm giải phóng và
phát triển các nguồn lực; phân bổ ngân sách
một cách hợp lý, đảm bảo công bằng phục vụ
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; ổn định
và phát triển nền tài chính quốc gia, góp phần
tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực hiện
xóa đói giảm nghèo.

C. Giải pháp nâng cao hiệu quả và
hạn chế thất thoát trong chi NSNN
Từ những nhận xét trên, cần đưa ra những giải pháp để phát huy những mặt tích
cực, hạn chế những mặt tiêu cực để thực hiện chi ngân sách một cách có hiệu quả hơn.
Page 22 of 27
1. Xác định mục tiêu chiến lược quản lý chi tiêu công
Với tư cách là một công cụ trọng tâm của chính sách tài chính quốc gia, liên quan
đến việc thực hiện phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công, nên vấn đề xuyên
suốt của quản lý chi tiêu công phải thực hiện các mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ IX của
Việt Nam đề ra, đó là:
• Giữ kỉ luật tài chính tổng thể. Đảm bảo qui mô chi NSNN vào khoảng 24-25% GDP,
trong đó chi đầu tư phát triển chiếm 25-25%, chi trả nợ 17-18% và chi thường xuyên
57-58%. Theo đó, khống chế bội chi NSNN 4-5% GDP; bù đắp bội chi ngân sách
bằng nguồn vốn trong nước khoảng 3-5% GDP và vay nước ngoài 1-1,5% GDP.
• Phân phối nguồn lực tài chính phù hợp với những ưu tiên chiến lược về tăng trưởng
kinh tế và giảm nghèo; đảm bảo công bằng phù hợp với thể chế kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
• Nâng cao tính trách nhiệm, minh bạch, dân chủ trong chi tiêu công; đảm bảo tính hiệu

Page 24 of 27
kinh tế cho phù hợp với năng lực quản lí, thông qua các chính sách cổ phần hoá DNNN,
tự do hóa kinh tế, xã hội hoá các dịch vụ công.
- Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lí và đơn vị sử dụng ngân sách.
Cung cách quản lí tập trung, quan liêu là đặc tính của hệ thống lập ngân sách theo truyền
thống mà kết quả của nó là nguồn lực tài chính công sử dụng kém hiệu quả và hiệu lực,
các cơ quan Nhà nước không chịu trách nhiệm về hàng hóa, dịch vụ công cung cấp cho
xã hội. Những người quản lí và sử dụng ngân sách hoạt động trong một môi trường kiểm
soát hết sức cứng. Những công cụ truyền thống để thực hiện kiểm soát là định mức và
khoản mục hoá các khoản chi tiêu, mua sắm đầu vào. Thế nhưng, chính sự kiểm soát đầu
vào đã gây ra tính kém hiệu quả trong hoạt động bởi vì nó không khuyến khích tiết kiệm,
không tạo ra sự gắn kết giữa khối lượng chi tiêu với khối lượng đầu ra. Từ những hạn chế
đó, để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động, quản lí chi tiêu đòi hỏi:
• Những người quản lí được trao quyền tự chủ trong việc điều hành hoạt động của họ
và nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của họ về kết quả. Những kết quả cần được chi
tiết hoá trong ngân sách và trong những kế hoạch tài chính có liên quan, qua đó tạo
điều kiện cho những người quản lí thấy trước kết quả thực hiện và giúp cho chính phủ
so sánh được kết quả mục tiêu và kết quả thực tế.
• Những người quản lí có năng lực đủ mạnh trong việc chủ động đề ra những giải pháp
để giảm bớt chi phí hoạt động và nâng cao khối lượng hoặc chất lượng đầu ra.
• Tạo ra những đòn bẩy kinh tế khuyến khích những người quản lí cải thiện và nâng cao
chất lượng hoạt động.
- Chuyển sang lập kế hoạch dài hạn với những giới hạn ngân sách bằng việc xây
dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn nhằm ràng buộc các cấp chính quyền từ TW đến địa
phương sử dụng các nguồn lực tài chính phải gắn liền với các ưu tiên tổng thể của quốc
gia. Trong năm 2002, dưới sự hỗ trợ của UNDP (dự án VIE/96/028) Chính phủ đã bắt
Page 25 of 27


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status