đồ án tốt nghiệp nghiên cứu công nghệ chuyển mạch nhãn mpls và đề xuất các kiến nghị áp dụng công nghệ mpls trong mạng thế hệ mới ngn của tổng công ty - Pdf 22

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT BƯU ĐIỆN
BÁO CÁO ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH NHÃN MPLS VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC KIẾN NGHỊ ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ MPLS TRONG
MẠNG THẾ HỆ MỚI NGN CỦA TỔNG CÔNG TY
1
Chương I: Cơ sở công nghệ MPLS
I. Lịch sử phát triển MPLS
Cisco phát hành ấn bản đầu tiên về chuyển mạch nhãn đa giao thức
(MPLS) vào tháng 3 năm 1998 và trong vài tháng gần đây công nghệ này được
chuẩn hoá tại Lực lượng đặc nhiệm kỹ sư Internet (IETF). Một vài đặc tính
MPLS mới trở nên có giá trị trong năm nay sẽ cung cấp những khả năng mới
cho các mạng cung cấp dịch vụ.
Sự phát triển nhanh chóng của Internet và sự triển khai trên diện rộng các
mạng được xây dựng trên tập giao thức Internet đang tạo ra những nhu cầu cho
các khả năng mới trong mạng IP. MPLS cung cấp một số các khả năng như vậy.
Trong khi báo chí thương mại thường tập trung vào MPLS như một công nghệ
nâng cao chất lượng, chúng ta sẽ xem xét các lợi ích của MPLS theo khía cạnh
tăng cường chức năng. Các khả năng cơ bản mà MPLS cung cấp cho việc phân
phối các dịch vụ thương mại IP bao gồm:
 Hỗ trợ VPN
 Định tuyến thẳng (cũng được biết đến như là định tuyến có điều tiết
hay điều khiển lưu lượng)
 Hỗ trợ cục bộ cho định tuyến IP trong các tổng đài chuyển mạch
ATM.
Sự phát triển nhanh chóng của IP và sự tăng trưởng của Internet trở thành
một sự thật không thể không thừa nhận. Địa vị thống trị của IP tại giao thức lớp
3 cũng là điều không cần bàn cãi. Trong một thời gian dường như mọi thứ đều

trì và ngắt kết nối giữa các nút, các mào đầu liên quan (như số kênh ảo, số lượng
thông tin điều khiển) sẽ chỉ thị về độ lớn của hình vuông N của số các nút. Khi
mạng mở rộng, mào đầu sẽ ngày càng lớn và tới mức không thể chấp nhận được.
2. Phương thức lai ghép phân chia toàn bộ mạng IPOA thành rất nhiều các
LIS (Mạng con IP Logic), thậm chí với các LIS trong cùng một mạng vật lý.
Các LIS được kết nối nhờ các bộ định tuyến trung gian được biểu diễn trong
Hình I -2. Cấu hình multicast giữa các LIS khác nhau trên một mặt và giữa các
bộ định tuyến này sẽ sẽ trở nên hạn chế khi luồng lưu lượng lớn. Cấu hình như
vậy chỉ áp dụng cho các mạng nhỏ như mạng doanh nghiệp, mạng trường sở,
3
v.v và không phù hợp với nhu cầu cho các mạng xương xống Internet trong
tương lai. Cả hai đều khó mở rộng.
3. Trong phương thức lai ghép, IPOA sẽ không thể đảm bảo về chất lượng
dịch vụ QoS.
Hình I-1 Sự mở rộng mạng IPOA.
Hình I-2 Nút cổ chai trong mạng IPOA.
4. Không phải tất cả mọi cân nhắc được đưa ra cho mỗi bên trong thiết kế
IP và ATM. Điều này tạo nên sự liên kết giữa chúng phụ thuộc vào một loạt các
giao thức phức tạp và các bộ định tuyến xử lý các giao thức này. Sự phức tạp sẽ
gây ra các hiệu ứng có hại đến độ tin cậy của các mạng xương sống.
4
Các công nghệ như MPOA, và LANE đang được hình thành để giải quết
các tồn tại này. Tuy nhiên các giải pháp đó không thể giải quyết được tất cả các
tồn tại. Trong khi ấy, nổi bật lên trên một loạt các công nghệ IPOA khác với
phương thức lai ghép là chuyển mạch nhãn theo phương thức tích hợp. Chúng
cung cấp giải pháp hợp lý để giải quyết những tồn tại này.
Chuyển mạch nhãn được hiểu là khải niệm chung cho tất cả các công
nghệ chuyển mạch nhãn hiện có. Những công nghệ này thực sự dựa trên những
cơ sở mà MPLS đã được hình thành.
Khái niệm chuyển mạch nhãn xuất phát từ quá trình nghiên cứu hai thiết

lạc đều nằm trong cùng một LIS giống nhau, chúng có thể liên lạc trực tiếp. Nếu
không chúng không thể liên lạc trực tiếp với nhau và một hoặc một vài bộ định
tuyến trung gian cần thiết sẽ được sử dụng.
Vì những nhược điểm của CIPOA được đề cập ở trên, trong khi nó lại
được sử dụng rất rộng rãi, các nhà nghiên cứu đang làm việc để tìm kiếm một
công nghệ IPOA hiệu quả hơn.
2. Toshiba's CSR
Toshiba đầu tiên định nghĩa mô hình chuyển mạch nhãn, công nghệ CSR
(Cell Switching Router). Mô hình này đầu tiên đề xuất ý kiến đặt cấu trúc
chuyển mạch ATM dưới sự điều khiển của giao thức IP (như giao thức định
tuyến IP và giao thức RSVP) mà không phải là giao thức ATM (Q.2931). Bởi
vậy mô hình này có thể loại trừ toàn bộ cuộc gọi báo hiệu ATM và việc xắp xếp
địa chỉ phức tạp. Và CSR đòi hỏi mạng CSR có thể chứa những tổng đài chuyển
mạch ATM và các tổng đài chuyển mạch CSR tại cùng một thời điểm. CSR có
thể thay thế các bộ định tuyến giữa một LIS trong CIPOA, do đó giải phóng nhu
cầu cho NHRP.
CSR xem như là công nghệ chuyển mạch nhãn đầu tiên được đệ trình tại
cuộc họp IETF BOF vào cuối năm 1994 và đầu năm 1995. Tuy nhiên, không có
những nghiên cứu chuyên sâu vào mô hình này. Định nghĩa của công nghệ này
không rõ ràng và hoàn chỉnh. Và các sản phẩm vật lý chưa có.
6
3. Cisco's Tag Switching
Chỉ một vài tháng sau khi Ipsion thông báo về công nghệ chuyển mạch IP,
Cisco đã phổ biến công nghệ chuyển mạch thẻ của mình. Mô hình này khác rất
nhiều so với hai công nghệ ở trên. Ví dụ, nó không sử dụng điều khiển luồng
nhưng sử dụng phương thức control drive trong thiết lập bảng truyền lại, và nó
không giới hạn với các ứng dụng trong hệ thống chuyển mạch ATM. Công nghệ
này đã có các tài liệu RFC. Không giống như Ipsilon, Cisco dành hết cho tiêu
chẩn quốc tế của công nghệ này. Các tài liệu RFC được xuất bản cho tất cả các
khía cạnh của các công nghệ, và các nỗ lực của Cisco đã mang lại kết quả trong

Hầu hết các tiêu chuẩn MPLS hiện tại đang còn ở dạng “Internet Draft”,
mặc dù có một vài tiêu chuẩn MPLS đã được đưa vào dạng RFC-STD.
Không có một tiêu chuẩn MPLS độc lập mà chỉ có một tập các RFC, khi
toàn bộ các RFC được hoàn thiện chúng sẽ được tập hợp với nhau cho phép xây
dựng một hệ thống MPLS. Ví dụ như hiện này có khoảng hơn RFC về chỉ tiêu
kỹ thuật cho bộ định tuyến IP mà các bộ định tuyến này phải tuân theo.
III. Nhóm làm việc MPLS trong IETF
Nhóm làm việc MPLS là một tập các nhóm làm việc bao gồm các phạm
vi ‘sub-IP’ mà IESG thành lập gần đây. Tất cả các nhóm làm việc sub-IP tạm
thời đang được đặt trong General Area cho đến khi IESG quyết định cấu trúc
quản lý cuối cùng cho việc quản lý các nhóm này.
Nhóm làm việc MPLS chịu trách nhiệm chuẩn hoá các công nghệ cơ sở
cho sử dụng chuyển mạch nhãn và cho việc thi hành các đường chuyển mạch
nhãn trên các loại công nghệ lớp liên kết, như Frame Relay, ATM và các công
nghệ LAN (Ethernet, Token Ring, v.v ). Nó bao gồm các thủ tục và các giao
thức cho việc phân phối nhãn giữa các bộ định tuyến, xem xét về đóng gói và
multicast.
Các mục tiêu khởi đầu của nhóm làm việc đã gần như hoàn thành. Cụ thể,
nó đã xây dựng một số các RFC (xem liệt kê phía dưới) định nghĩa Giao thức
phân phối nhãn cơ sở (LDP), kiến trúc MPLS cơ sở và đóng gói gói tin, các định
nghĩa cho việc chạy MPLS qua các đường liên kết ATM, Frame Relay.
Các mục tiêu gần đây của nhóm làm việc là:
8
1. Hoàn thành các chỉ mục còn tồn tại:
2. PHát triển các tiêu chuẩn đề nghị của nhóm làm việc MPLS thành các
bản Dratf Standard. Bao gồm: LDP, CR-LDP, và các tiêu chuẩn kỹ thuật RSVP-
TE cũng như vấn đề đóng gói.
3. Định rõ các mở rộng phù hợp với LDP và RSVP cho việc xác nhận
LSP nguồn.
4. Hoàn thành các công việc trên MPLS-TE MIB

13 LSP Modification Using CR-LDP
14 LSP Hierarchy with MPLS TE
15 Link Management Protocol (LMP)
16 Framework for MPLS-based Recovery
17 Multiprotocol Label Switching (MPLS) FEC-To-NHLFE (FTN)
Management Information Base Using SMIv2
18 Fault Tolerance for LDP and CR-LDP
19 Generalized MPLS - Signaling Functional Description
20 MPLS LDP Query Message Description
21 Signalling Unnumbered Links in CR-LDP
22 LDP Extensions for Optical User Network Interface (O-UNI)
Signaling
23 Signalling Unnumbered Links in RSVP-TE
24 Requirements for support of Diff-Serv-aware MPLS Traffic
Engineering
25 Extensions to RSVP-TE and CR-LDP for support of Diff-Serv-aware
MPLS Traffic Engineering
26 Generalized MPLS Signaling - CR-LDP Extensions
27 Generalized MPLS Signaling - RSVP-TE Extensions
Chương II: Các khía cạnh kỹ thuật MPLS
I. Khái niệm MPLS
1. Khái quát MPLS
Khi một gói tin tuân theo các phương thức lớp mạng connectionless từ
một bộ định tuyến đến bộ định tuyến tiếp theo, mỗi bộ định tuyến phải đưa ra
một quyết định gửi chuyển tiếp độc lập cho gói tin đó. Do đó, mỗi bộ định tuyến
phân tích mào đầu gói tin và mỗi bộ định tuyến sẽ chạy các thuật toán định
tuyến lớp mạng. Mỗi bộ định tuyến lựa chọn hop tiếp theo cho gói tin một cách
10
hoàn toàn độc lập dựa trên những phân tích của nó về mào đầu gói tin và kết quả
của việc chạy thuật toán định tuyến.

năng tìm kiếm và thay thế nhãn, nhưng không có khả năng phân tích mào đầu
lớp mạng hoặc không có khả năng phân tích mào đầu lớp mạng tại một tốc độ
xác định.
- Kể từ lúc gói tin được ấn định vào một FEC khi nó đi vào mạng, bộ định
tuyến đầu vào có thể sử dụng bất cứ thông tin nào mà nó có về gói tin cho dù là
các thông tin đó không thể lấy được từ mào đầu lớp mạng trong khi quyết định
việc ấn định. Ví dụ, các gói tin tới các cổng khác nhau có thể được ấn định cho
các FEC khác nhau. Trong khi đó việc gửi chuyển tiếp truyền thống có thể chỉ
xem xét đến thông tin được mang theo cùng với gói tin trong mào đầu gói tin.
- Một gói tin đi vào mạng tại một bộ định tuyến cụ thể có thể được dán
nhãn khác với một gói tin tương tự nhưng đi vào mạng tại một bộ định tuyến
khác, kết quả là các quyết định gửi chuyển tiếp phụ thuộc vào bộ định tuyến lối
vào. Điều này không thể thực hiện được trong việc gửi chuyển tiếp truyền thống,
khi mà bộ định tuyến lối vào của gói tin không được mang theo gói tin.
- Những yếu tố quyết định xem liệu gói tin được ấn định cho một FEC
như thế nào có thể trở nên ngày càng phức tạp, nếu không có bất cứ một tác
động nào vào các bộ định tuyến chỉ đơn thuần là gửi chuyển tiếp các gói tin dán
nhãn.
- Đôi khi chúng ta muốn bắt gói tin đi theo một tuyến đường xác định mà
đã được lựa chọn trước hoặc tại thời điểm gói tin đi vào mạng, hơn là tuyến
đường được lựa chọn bằng các thuật toán định tuyến động khi gói tin đi qua
mạng. Điều này có thể được thực hiện như là vấn đề về chính sách hoặc để hỗ
trợ điều khiển lưu lượng. Trong gửi chuyển tiếp truyền thống, điều này đòi hỏi
gói tin phải mang bộ mã về tuyến đường của nó đi theo. Trong MPLS, một nhãn
có thể được sử dụng để đại diện cho một tuyến đường vì thế nhận dạng của
tuyến đường không cần phải mang theo trong gói tin.
Một vài bộ định tuyến phân tích mào đầu lớp mạng của gói tin không phải
đơn thuẩn chỉ để lựa chọn hop tiếp theo mà còn để quyết định quyền ưu tiên và
COS của gói tin. Sau đó chúng có thể áp dụng các ngưỡng loại bỏ hoặc các lịch
12

13
nhận được vì các nhãn với độ dài cố định được chèn vào vị trí đầu của gói tin
hoặc tế bào và có thể được phần cứng sử dụng để chuyển mạch các gói tin một
cách nhanh chóng giữa các đường liên kết.
II. Các thành phần trong MPLS
1. Nhãn
Nhãn là một nhận dạng có ý nghĩa cục bộ với độ dài cố định và ngắn,
được dùng để nhận dạng FEC. Nhãn được gán vào một gói tin cụ thể sẽ đại diện
cho FEC mà gói tin đó được ấn định.
Thường thì một gói tin được ấn định cho một FEC (hoàn toàn hoặc một
phần) dựa trên địa chỉ đích lớp mạng của nó. Tuy nhiên nhãn không bao giờ là
mã hoá của địa chỉ đó.
Nếu Ru và Rd là các LSR, chúng có thể thoả thuận khi Ru truyền gói tin
tới Rd, Ru sẽ dán cho gói tin nhãn có giá trị L nếu như gói tin là một thành viên
trong FEC F. Do vậy, các bộ định tuyến có thể thoả thuận một sự kết hợp giữa
nhãn L và FEC F cho việc gửi gói tin từ Ru tới Rd. Kết quả của quá trình thoả
thuận này là L sẽ trở thành nhãn lối ra đại diện cho FEC F của Ru và là nhãn lối
vào đại diện cho FEC F của Rd. Chú ý rằng L không nhất thiết đại diện cho FEC
F cho bất cứ gói tin nào khác. L là một giá trị tuỳ ý để kết hợp F một cách cục
bộ giữa Ru và Rd.
Việc gửi gói tin ở trên từ Ru tới Rd không ngụ ý là gói tin sẽ xuất phát từ
Ru và đích của nó là Rd, nó bao gồm việc truyền gói tin tại một hoặc cả hai
LSR.
Đôi khi Rd rất khó thậm chí là không thể xác định được (khi có một gói
tin mang nhãn L tới) nhãn L được đặt trong gói tin là do Ru hay các LSR khác.
Điển hình là trong trường hợp Ru và Rd không phải là hai LSR kết cận. Trong
trường hợp này nó phải đảm bảo việc kết hợp nhãn với FEC là ánh xạ một - một.
Nghĩa là Rd không được thoả thuận với Ru1 kết hợp nhãn L với FECF1 trong
khi cũng thoả thuận với Ru2 kết hợp nhãn L với FECF2. Ngoại trừ trường hợp
khi Rd nhận một gói tin dán nhãn L thì nó luôn có thể xác định được gói tin

kết hợp của một nhãn với FEC F, khi đó dưới điều kiện cụ thể, nó có thể cũng
yêu cầu phân phối các thuộc tính đáp ứng mà nó nhận được từ Rd.
15
6. Các giao thức phân phối nhãn
Một giao thức phân phối nhãn là một tập các thủ tục mà nhờ đó một LSR
thông báo cho các LSR khác các kết hợp nhãn/FEC mà nó thực hiện. Hai LSR
sử dụng giao thức phân phối nhãn để trao đổi thông tin kết hợp nhãn/FEC được
gọi là hai LSR phân phối nhãn ngang cấp xét theo khía cạnh thông tin kết hợp
mà nó trao đổi. Nếu hai LSR là hai LSR phân phối nhãn ngang cấp, chúng sẽ đề
cập đến ‘label distribution adjacency’ giữa chúng.
Chú ý rằng hai LSR có thể là hai LSR phân phối nhãn ngang cấp xét theo
phương diện một vài tập kết hợp nhưng sẽ không phải là hai LSR phân phối
nhãn ngang cấp xét theo phương diện một vài tập kết hợp khác.
Giao thức phân phối nhãn cũng bao gồm các thủ tục đàm phán mà hai
LSR phân phối nhãn ngang cấp phải thực hiện để học các khả năng MPLS của
nhau.
Kiến trúc mạng không đòi hỏi chỉ có một giao thức phân phối nhãn.
Trong thực tế, một số các giao thức phân phối nhãn đang được chuẩn hoá. Các
giao thức đã có đang được mở rộng để cho việc phân phối nhãn có thể thực hiện
trên nó(như [MPLS-BGP], [MPLS-RSVP], [MPLS-RSVP-TUNNELS]). Các
giao thức mới cũng được định nghĩa cho mục đích phân phối nhãn như [MPLS-
LDP], [MPLS-CR-LDP].
7. Công nghệ phân phối nhãn Downstream-on-demand và Unsolicited
Downstream
Trong kiến trúc MPLS cho phép một LSR yêu cầu trực tiếp việc kết hợp
nhãn cho một FEC từ hop tiếp theo của FEC đó. Công nghệ này được gọi là
công nghệ phân phối nhãn Downstream-on-Demand.
Kiến trúc MPLS cũng cho phép một LSR phân phối các kết hợp
nhãn/FEC của nó tới các LSR không yêu cầu các kết hợp đó. Công nghệ này
được gọi là công nghệ phân phối nhãn unsolicited Downstream.

nhãn mà không xem xét tới khả năng mà một vài nhãn khác có thể ở phía trên
nhãn đó trước đây hoặc một số nhãn khác có thể nằm dưới nó tại thời điểm hiện
tại.
17
Một gói tin không dán nhãn có thể xem như là một gói tin có tập nhãn
rỗng.
Nếu một tập nhãn của gói tin có độ lớn là m thì nhãn ở đáy của tập nhãn
là nhãn mức1, nhãn trên nó là nhãn mức 2 và nhãn ở trên cùng là nhãn mức m.
Tiện ích của tập nhãn sẽ được làm rõ khi chúng ta xem xét đến khái niệm
LSP Tunnel và hệ thống phân cấp MPLS.
10.Lối vào gửi chuyển tiếp nhãn hop tiếp theo (NHLFE)
NHLFE được sử dụng khi gửi chuyển tiếp gói tin dán nhãn. Nó bao gồm
các thông tin sau:
1. Hop tiếp theo của gói tin.
2. Hoạt động thi hành trên tập nhãn của gói tin. Nó là một trong các hoạt
động sau:
- Thay thế nhãn trên cùng của tập nhãn bằng một nhãn mới
- Đẩy tập nhãn đi
- Thay thế nhãn trên cùng của tập nhãn bằng một nhãn mới sau đó đẩy
một số nhãn mới vào tập nhãn.
Ngoài ra nó còn gồm các hoạt động sau:
- đóng gói thông tin lớp liên kết dữ liệu để sử dụng khi truyền gói tin.
- Hoạt động mã hoá tập nhãn khi truyền gói tin
- Các thông tin cần thiết để xắp xếp gói tin chính xác.
Chú ý là với một LSR cho trước thì nó có thể nhận được gói tin mà hop
tiếp theo chính là nó. Trong trường hợp đấy nó sẽ đẩy nhãn trên cùng trong label
stack sau đó gửi gói tin đến chính nó. Sau đó nó sẽ đưa ra quyết định gửi chuyển
tiếp mới dựa trên những thông tin còn lại sau khi đẩy tập nhãn. Khi đó có thể gói
tin vẫn là gói tin được dán nhãn hoặc có thể là gói tin IP thông thường. Nghĩa là
trong một vài trường hợp LSR phải dựa vào mào đầu gói tin IP để gửi chuyển

Một LSR Rd có thể kết hợp nhãn L1 với một FEC F, và phân phối kết hợp
đó tới LSR phân phối ngang cấp Ru1. Rd cung kết hợp nhãn L2 với FEC F và
gửi kết hợp này tới LSR phân phối ngang cấp Ru2. Liệu L1 có bằng L2 hay
19
không không phải là do kiến trúc mạng quyết định mà nó chỉ mạng ý nghĩa cục
bộ.
Một LSR Rd kết hợp L với FEC F1 sau đó gửi binding này tới LSR Ru1
đồng thời kết hợp L với FEC F2 rồi gửi binding này cho LSR Ru2. Khi Rd nhận
được gói tin dán nhãn L thì chỉ nếu như nó nhận biết đựoc gói tin được gửi từ
Ru1 hay Ru2 thì khi đó kiến trúc mạng mới không đòi hỏi F1 bằng F2. Trong
trường hợp này Rd sử dụng các không gian nhãn khác nhau cho các nhãn gửi tới
Ru1 và Ru2.
Nhìn chung, Rd chỉ xác định được liệu Ru1 hay Ru2 đẩy nhãn L lên vị trí
trên cùng của tập nhãn khi:
-Ru1 và Ru2 là các đơn vị phân phối nhãn ngang cấp được RD phân phối
liên kết của nhãn L và
- Ru1 và Ru2 được kết nối trực tiếp với Rd qua giao diện liên kết điểm -
điểm.
Khi điều kiện được thoả mãn nó sử dụng các nhãn giới hạn cho từng giao
diện nghĩa là nó là duy nhất cho mỗi giao diện. Khi đó ta nói LSR sử dụng "per-
interface label space". Khi điều kiện này không có hiệu lực, các nhãn phải là duy
nhất với các LSR cấp phát chúng và chúng ta nói rằng LSR sử dụng "per-
platform label space."
Nếu LSR Rd liên kết với LSR Ru qua hai giao diện điểm điểm, khi đó Rd
có thể phân phối kết hợp L với FEC F1 cũng như L với FEC F2, F1 khác F2 nếu
như mỗi kết hợp là hợp lệ cho các gói tin Ru gửi tới Rd qua một giao diện cụ
thể. Trong các trường hợp khác, Rd không đựoc phân phối tới Ru các kết hợp
của một nhãn với các FEC khác nhau.
Trong MPLS không có khái niệm về các không gian khác nhau cho các
cấp khác nhau.

1. nó bắt đầu với LSR (LSP lối vào) đẩy nhãn mức m vào tập nhãn.
2. Tất cả các LSR trung gian đưa ra quyết định gửi chuyển tiếp bằng việc
chuyển mạch nhãn trên nhãn mức m.
3. Nó kết thúc (tại LSP lối ra) khi quyết định gửi được tạo bởi chuyển
mạch nhãn trên nhãn mức m-k, ở đây k>0, hoặc khi quyết định gửi được tạo bởi
21
các thủ tục gửi chuyển tiếp non-MPLS thông thường. Hệ quả của điều này là bất
cứ khi nào LSR đẩy nhãn vào gói tin đã dán nhãn, nó cần phải đảm bảo rằng
nhãn mới phù hợp với FEC mà LSP lối ra của nó là LSR ấn định nhãn đang ở vị
trí thứ 2 trong tập nhãn.
Chúng ta sẽ gọi dãy các LSR là "LSP cho một FEC F" nếu nó là một LSP
mức m cho một gói tin cụ thể P thì nhãn mức m của gói tin P là nhãn tương ứng
với FEC F.
Cân nhắc tập các nút mà nó có thể là nút LSP lối vào cho FEC F. Khi đó ở
đây có một LSP cho FEC F nó bắt đầu bằng một trong số các nút trên. Nếu số
LSP này có cùng một LSP lối ra, khi đó xem xét một tập các LSP như vậy dưới
dạng hình cây mà gốc là LSP lối ra.
16.Đẩy nhãn tại hop kề cuối
Theo như phần trên ta thấy rằng nếu dẫy <R1 Rn> là LSP mức m của gói
tin P thì P có thể được truyền từ Rn-1 tới Rn với label stack có độ dài m-1. Khi
đó label stack có thể đựoc đẩy đi từ LSR giáp cuối hơn là tại LSP lối ra.
Từ cấu trúc tương ứng ta thấy rằng điều đó hoàn toàn phù hợp vì nhãn
mức m để truyền gói tin tới Rn một khi Rn-1 quyết định gửi gói tin đến Rn thì
nhãn không còn thực hiện chức năng nào nữa và không cần phải mang nó đi
nữa.
Có những ưu điểm thiết thực khi thực hiện việc đẩy nhãn tại hop kề cuối.
Nếu không thực hiện việc đẩy nhãn tại hop kề cuối thì khi LSP lối ra nhận được
gói tin, đầu tiên nó sẽ tìm kiếm nhãn trên cùng và các quyết định đưa ra là kết
quả của quá trình tìm kiếm tại LSP lối ra. Sau khi đẩy nhãn và kiểm tra những
thứ còn lại trong gói tin. Nếu còn nhãn khác trong tập nhãn, LSP lối ra sẽ tìm

MPLS, nhưng không yêu cầu đẩy tập nhãn thì nút kề cuối không có cách nào để
biết được rằng mình là nút kề cuối)
Một LSR có khả năng đẩy tập nhãn phải thực hiện công việc này khi được
thiết bị phân phối nhãn ngang cấp xuôi của nó yêu cầu.
Giàn xếp giao thức LDP ban đầu phải cho phép mỗi LSR biết được liệu
LSR kế cận của mình có khả năng đẩy tập nhãn hay không. Một LSR không
23
được yêu cầu LSR phân phối nhãn ngang cấp đẩy tập nhãn nếu như nó không có
khả năng đó.
Có một câu hỏi là liệu nút lối ra có thể làm sáng tỏ nhãn trên cùng của gói
tin nhận được một cách đúng đắn nếu việc đẩy nhãn tại hop kề cuối được sử
dụng. Miễn là qui tắc về tính duy nhất trong phần II.1.2.2.14 được tuân theo, thì
nó luôn làm sáng tỏ nhãn trên cùng của gói tin nhận được một cách chính xác.
17.LSP hop tiếp theo
LSP hop tiếp theo cho một gói tin dán nhãn xác định trong một LSR xác
định là một LSR hop tiếp theo, được lựa chọn theo phưong pháp NHLFE sử
dụng cho việc gửi chuyển tiếp gói tin.
LSP hop tiếp theo cho một FEC xác định là hop tiếp theo được lựa chọn
theo phương pháp NHLFE được nhãn đáp ứng với FEC đó ra dấu.
Chú ý là LSP hop tiếp theo có thể khác với hop tiếp theo được sử dụng
trong thuật toán định tuyến lớp mạng. Chúng ta sẽ sử dụng thuật nghữ L3 hop
tiếp theo để đề cập đến LSP hop tiếp theo trong thuật toán định tuyến lớp mạng.
18.Các nhãn lối vào không hợp lệ
LSR sẽ làm gì khi nhận một gói tin dán nhãn nhưng không có kết hợp cho
nhãn đó. Khi đó nó có xu hướng nghĩ rằng các nhãn này có thể đã được loại bỏ,
và gói tin được gửi chuyển tiếp như một gói tin IP không dán nhãn. Tuy nhiên
trong một vài trường hợp làm như vậy có thể gây ra lặp. Nếu LSR ngược nghĩ
rằng nhãn được xắp xếp cho một tuyến xác định nhưng LSR xuôi lại không nghĩ
như vậy, và nếu như việc định tuyến hop by hop của các gói tin IP không dán
nhãn mang gói tin trở về LSR ngược khi đó hiện tượng lặp xảy ra.

chỉ dẫn thì hiệu quả của mạng lớn hơn nhiều so với điều khiển độc lập.
Điều khiển độc lập và chỉ dẫn có thể cùng tồn tại, kiến trúc mạng cho
phép hai loại điều khiển này mang tính cục bộ. Khi hai phương thức này hoạt
động với nhau, một LSR cần phải hỗ phương thức này hoặc phương thức kia.
Lựa chọn phương thức điều khiển độc lập hay điều khiển có chỉ dẫn không ảnh
hưởng đến cơ chế phân phối nhãn.
25

Trích đoạn CÁC ĐƯỜNG NGẦM VÀ HỆ THỐNG PHÂN CẤP GIẢI PHÁP MPLS CỦA MỘT SỐ HÃNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status