BỘ Y TẾ
VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PANEL HỒNG CẦU
TẠI VIỆN HUYẾT HỌC -TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG AN TOÀN TRUYỀN MÁU
VỀ MẶT MIỄN DỊCH Chủ nhiệm đề tài:
- PGS. TS. NGUYỄN ANH TRÍ
- TS. BÙI THỊ MAI AN
Cơ quan chủ trì đề tài:
VIỆN HUYẾT HỌC-TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG
Cơ quan chủ quản : BỘ Y TẾ 6869
19/5/2008
2.2.2. Vật liệu nghiên cứu và sinh phẩm: 23
2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu 24
2.2.4. Xử lý các kết quả nghiên cứu: 30
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1. Khảo sát kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu để xây dựng panel hồng cầu tại Viện Huyết học Truyền
máu TW 31
3.1.1. Hệ nhóm máu Rhesus 31
3.1.2. Hệ nhóm máu Kell 31
3.1.3. Hệ nhóm máu Kidd 31
3.1.4. Hệ nhóm máu Duffy: 32
3.1.5. Hệ nhóm máu MNSs, Mia: 32
3.1.6. Hệ nhóm máu Lewis: 34
3.1.7. Hệ nhóm máu Lutheran: 34
3.1.8. Hệ nhóm máu P: 34
3.2. Tần suất xuất hiện kháng nguyên của một số hệ nhóm máu hồng cầu ở người hiến máu nhóm O 35
3.3 Xây dựng và quản lý panel hồng cầu để sàng lọc KT bất thường 35
3.3.1. Một số đặc điểm của người hiến máu nhóm O được lựa chọn làm panel hồng cầu 36
3.3.2. Xây dựng panel hồng cầu để sàng lọc kháng thể bất thường 37
3.3. Ứng dụng panel hồng cầu để sàng lọc kháng thể bất thường 52
3.3.1. Đặc điểm KTBT ở bệnh nhân bị bệnh máu 52
3.3.2. Tỷ lệ KTBT ở bệnh nhân bị bệnh máu liên quan đến tuổi, giới, số lần truyền máu, nhóm máu và chẩn
đoán lâm sàng 52
4. BÀN LUẬN 54
4.1. Khảo sát tần suất xuất hiện kháng nguyên của một số nhóm máu hệ hồng cầu 54
4.1.1 . Bàn luận về tần suất xuất hiện kháng nguyên D, C, c, E, e của hệ nhóm máu Rh 54
4.1.2. Bàn luận về tần suất xuất hiện kháng nguyên K, k của hệ Kell 54
4.1.3 . Bàn luận về tần suất xuất hiện kháng nguyên Jka, Jkb của hệ Kidd 55
Bảng 1-2. Đặc điểm huyết thanh học của một số trường hợp dưới nhóm B 10
Bảng 1-3. Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO theo nghiên cứu một số tác giả trong và ngoài nước. 10
Bảng 1-4. Một số kháng nguyên của hệ Rh và các tên gọi khác nhau 11
Bảng 1-5. Một số kháng nguyên của hệ Kell và các tên gọi theo ISBT 12
Bảng 1-6. Các kháng nguyên của h
ệ Duffy và các tên gọi theo ISBT 13
Bảng 1-7. Một số kháng nguyên của hệ MNSs và các tên gọi theo ISBT 14
Bảng 1-8. Kháng nguyên của hệ nhóm máu Cromer 15
Bảng 2-1. Đối tượng nghiên cứu 22
Bảng 3-1. Tần suất xuất hiện kháng nguyên D, C, c, E, e ở NCM nhóm O 31
Bảng 3-2. Tần suất xuất hiện kháng nguyên K, k, Kpa, Kpb ở NCM nhóm O 31
Bảng 3-3. Tần suất xuất hiện kháng nguyên Fya, Fyb ở NCM nhóm O 32
Bảng 3-4. Tần suất xuất hiện kháng nguyên M, N ở NCM nhóm O 32
Bảng 3-5. Tần suất xuất hiện kháng nguyên Lea, Leb ở NCM nhóm O 34
Bảng 3-6. T
ần suất xuất hiện kháng nguyên Lua, Lub ở NCM nhóm O 34
Bảng 3-7. Tần suất xuất hiện kháng nguyên P1 ở NCM nhóm O 34
Bảng 3-8. Tần suất xuất hiện kháng nguyên của một số hệ nhóm máu hồng cầu ở người
cho máu nhóm O 35
Bảng 3-13. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 1) 39
Bảng 3-14. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 2) 40
Bảng 3-15. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tạ
i Viện HHTM trung ương (Số 3) 41
Bảng 3-16. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 4) 42
Bảng 3-17. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 5) 43
Bảng 3-18. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 6) 44
Bảng 3-19. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 7) 45
Bảng 3-20. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số
8) 46
Bảng 3-21. Panel HC sàng lọc kháng thể bất thường tại Viện HHTM trung ương (Số 9) 47
MỤC LỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2-1. Sơ đồ nghiên cứu theo mục tiêu 23
Biểu đồ 3.1. Tần suất xuất hi
ện kháng nguyên Jka, Jkb ở NCM nhóm O 32
Biểu đồ 3-2. Tần suất xuất hiện kháng nguyên S,s ở NCM nhóm O 33
Biểu đồ 3-3. Tần suất xuất hiện kháng nguyên Mia ở NCM nhóm O 33
5
PHẦN A
TÓM TẮT KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
Hoàn cảnh ra đời của đề tài:
Máu rất quan trọng và cần thiết cho sự sống, nhờ có máu mà nhiều người bệnh
đã được cứu chữa, máu cần cho điều trị, cho các cấp cứu ngoại khoa, sản khoa và
hiện nay khi triển khai một số các kỹ thuật cao như ghép tạng, mổ tim thì một lượng
máu lớn cũng cần được sử dụng. Máu quan trọng như vậy nhưng truyền máu cũ
ng
có thể gây ra nhưng tai biến nghiêm trọng nếu không thực hiện đầy đủ các xét
nghiệm để bảo đảm an toàn truyền máu, do vậy vấn đề truyền máu hiện nay đang
được toàn thế giới quan tâm.
Hiện nay, tại các nước tiên tiến vấn đề an toàn truyền máu đã được thực hiện
một cách khá triệt để cả về mặt miễn dịch và phòng lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng
truyền qua đường máu, việ
c định nhóm máu hệ ABO, Rh và một số hệ nhóm máu
khác, sàng lọc kháng thể bất thường của cả người cho và người nhận đã được thực
hiện một cách thường quy. Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp trên mà an toàn
truyền máu về mặt miễn dịch tại các nước này đã được bảo đảm và hạn chế được tới
ng panel hồng cầu tại Viện Huyết học
Truyền máu TW.
2. Bước đầu nghiên cứu ứng dụng panel hồng cầu của Viện Huyết học
Truyền máu TW để sàng lọc kháng thể bất thường cho ng−êi cho m¸u vµ
bệnh nhân được truyền máu.
Kết quả nổi bật của đề tài:
1. Xây dựng panel hồng cầu tại Viện Huyết học Truyền máu TW để sàng lọc
kháng thể bất thường
a. Giàn hồng cầu được xây dựng và sản xuất tại Viện Huyết học truyền
máu TW sẽ mang được tính đặc thù của của người Việt Nam, như vậy
việc sàng lọc kháng thể bất thường sẽ đạt được kết quả tốt nhất.
b.
Giá thành để thực hiện xét nghiệm này sẽ rẻ hơn so với mua hồng cầu
panel của nước ngoài.
c. Việc bảo quản, vận chuyển và cung cấp panel hồng cầu cho các tỉnh
để triển khai xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất thường sẽ dễ dàng và
thuận tiện hơn so với việc mua panel hồng cầu được sản xuất tại nước
ngoài.
d. Đào tạo được một
đội ngũ cán bộ trong toàn ngành thực hiện xét
nghiệm sàng lọc kháng thể bất thường để đảm bảo an toàn truyền máu
về mặt miễn dịch cho bệnh nhân trước khi được truyền máu.
2. Ứng dụng panel hồng cầu được xây dựng và sản xuất tại Viện Huyết học
truyền máu TW để sàng lọc kháng thể bất thường sẽ góp phần nâng cao
chất lượng an toàn truyền máu về mặt miễ
n dịch tại nước ta.
3. Triển khai kỹ thuật mới: Kỹ thuật gelcard trong xác định các kháng
nguyên nhóm máu và sàng lọc kháng thể bất thường.
các nước này đ
ã được bảo đảm và hạn chế được tới mức thấp nhất các tai biến
truyền máu về mặt miễn dịch [15], [17], [23], [26], [27], [36], [37], [50], [54], [56].
Trong khi đó, tại nước ta hiện nay việc thực an toàn truyền máu về mặt miễn
dịch chưa được đảm bảo, chúng ta mới chỉ thực hiện được việc định nhóm máu hệ
ABO và định nhóm máu hệ Rh (D), làm phản ứng chéo trong điều kiện kháng
globulin m
ới được thực hiện tại một số trung tâm lớn. Việc xác định các hệ nhóm
máu hồng cầu khác và sàng lọc kháng thể bất thường chưa được thực hiện [2], [5],
[7], [9], [12].
Trong giai đoạn hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, hiện nay
có nhiều người nước đến làm việc và công tác tại Việt Nam, khi bệnh nhân và
8
người nước ngoài này cần truyền máu với những nhóm máu hiếm thì việc tìm được
người cho máu có nhóm máu phù hợp là rất khó khăn [4], [11].
Tại Việt nam đã có một số tác giả nghiên cứu về sự phân bố của nhóm máu hệ
ABO, Rh [4], [6], một số tác giả cũng đã nghiên cứu về nhóm máu hệ hồng cầu ở
một số nhóm quần thể khác nhau, tuy nhiên với cỡ mẫu còn nhỏ, đối tượng nghiên
cứu chủ
yếu là nhân viên y tế và người khám sức khỏe, do vậy việc xây dựng một
giàn hồng cầu đầy đủ để xây dựng giàn panel hồng cầu tại Việt Nam để cung cấp
cho các trung tâm truyền máu trong cả nước triển khai kỹ thuật sàng lọc kháng thể
bất thường là khó thực hiện [1], [4], [9].
Chính vì những lý do trên mà việc đi sâu nghiên cứu tần suất xuất hiện của
các kháng nguyên của một số hệ nhóm máu hồng c
ầu, các kiểu hình thường gặp,
hiếm gặp để xây dựng một giàn hồng cầu với đầy đủ các kháng nguyên cần thiết
của một số hệ nhóm máu hồng cầu ở người ở người hiến máu tình nguyện nhóm O
nhằm đảm bảo cung cấp máu kịp thời cho bệnh nhân, người nước ngoài có nhóm
kết giữa hồng cầu của người này với huyết thanh của người kia và ngược lại Ông đã
phát hiện ra hệ thống nhóm máu đầu tiên ở người với 3 nhóm máu là: Nhóm A,
nhóm B và nhóm O. Năm 1902, Decastello và Sturli đã lặp lại thí nghiệm của
Landstainer và phát hiện thêm nhóm máu AB, sự phát hiện ra hệ nhóm máu ABO
đã mở ra cho ngành truyền máu một chân trời mới [1], [3], [14], [18].
Hệ nhóm máu ABO có bốn nhóm máu chính là nhóm A, B, AB và O. Bốn nhóm
máu này được nhận biết dựa vào sự có mặt hoặc không có mặt của kháng nguyên A,
B trên bề mặt hồng cầu và sự có mặt hoặc không có mặt của kháng thể chống A,
chống B trong huyết thanh. Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABO thường xuất hiện
sớ
m vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai. Kháng thể chống A và chống B
thường là kháng thể tự nhiên có bản chất là IgM, thích hợp hoạt động ở 4°C, xuất
hiện sau khi sinh, tăng dần hiệu giá và đạt cực đại vào 5-10 tuổi, không qua được
hàng rào nhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của cá thể khỏe mạnh mà có
kháng nguyên tương ứng trên bề mặt hồng cầu. Kháng thể chống A và chống B
cũng có thể là kháng thể miễn dịch, có b
ản chất là IgG, thích hợp hoạt động ở 37°C,
được hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với kháng nguyên
của hệ ABO gặp trong trường hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu
không hòa hợp hệ ABO, các kháng thể này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, có khả
năng kết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng mạch [1], [8], [14], [18], [22].
Ngoài bốn nhóm máu chính đã được phát hiện ở trên, năm 1911 Von Dungerm
và Hirszfeld đã phát hiện nhóm máu A gồm có hai loại khác nhau là A
1
và A
2
.
Nhóm máu A
2
thường gặp hơn ở người Châu Âu ( khoảng 20%), trong số những
2
+++ +++ - +++ +/- - A+H (2,1 ±0,5)
A
3
++/[M] ++[M] - ++++ +/- - A+H (1,2±0,5)
Ax
-/+ +/++ - ++++ + -/(+) A
x
+H (0,5)
Bảng 1-2. Đặc điểm huyết thanh học của một số trường hợp dưới nhóm B
Phản ứng của Hồng cầu với KT trong có huyết thanh Dưới
nhóm
Anti B Anti (A+B) Anti H Anti A Anti A
1
Anti B
Chất tiết trong
nước bọt
B ++++ ++++ + + + - (B)+H
B
3
+++[M] +++[M] +++ + + - (B)+H
B
x
(+) (+) +++ + + (+) H
Mức độ ngưng kết: ++++: Rất mạnh; +: Yếu; (+): Rất yếu; [M]: hai quần thể hồng cầu.
Tại Viện Huyết học Truyền máu trung ương trong những năm qua chúng tôi cũng
gặp hai bệnh nhân có nhóm máu A
20,2
45,0
44,5
28,3
29,9
5,44
5,4 11
Nhóm máu hệ ABO có tỷ lệ rất khác nhau tùy thuộc vào nước, chủng tộc và các
khu vực khác nhau trên thế giới [4], [6], [10], [11] (Bảng 1-3).
1.1.2. Hệ nhóm máu Rhesus (Rh):
Năm 1939, Levine và Stetson đã phát hiện một kháng thể bất thường trong huyết
thanh của một sản phụ có con bị bệnh vàng da tan máu, kháng thể này ngưng kết
với hồng cầu của cha và con nhưng không làm ngưng kết hồng cầu của mẹ [30],
[34], [44].
Năm 1940, Karl Lansteiner và Wiener miễn dịch lợn và thỏ bằng hồng cầu khỉ
Rhesus và đã thu được một kháng thể mà gây ngưng kết với khoảng 85% hồng cầu
ng
ười da trắng và họ đã gọi tên yếu tố đó là Rhesus (Viết tắt là Rh), Wiener và
Peters cũng đã nhận xét sự xuất hiện kháng thể Rh (D) ở những bệnh nhân Rh (D)
âm mà đã nhận máu Rh (D) dương. Tuy nhiên người được công nhận phát hiện ra
kháng nguyên D của hệ Rh là Levine và cộng sự (1939-1940) [3], [30], [34], [44].
Năm 1941, thêm ba kháng nguyên của hệ Rh được phát hiện là C, E, c bởi
Wiener, Race và Levine. Năm 1945, Mourant phát hiện thêm kháng nguyên e của
hệ Rh. Bảng 1.4 dưới đây trình bầy các kháng nguyên của hệ
Rh và các đặc tính của
chúng [1], [3], [28], [30], [34], [44].
Bảng 1-4. Một số kháng nguyên của hệ Rh và các tên gọi khác nhau
RH5 004005 hr“ e 98 RH15 0040015 Rh
C
85
RH6 004006 hr Ce 64 RH16 0040016 Rh
D
85
RH7 004007 rh
i
Ce(f) 70 RH17 0040017 Hr
o
85
RH8 004008 rh
w1
C
W
2 RH18 0040018 Hr 100
RH9 004009 rh
x
C
x
<1 RH19 0040019 Hr
S
100
RH10 0040010 hr
V
V(ce
s
) (2) RH20 0040020 VS (e
s
) 98
1.5 dưới đây cho biết một số kháng nguyên của hệ Kell, tên gọi và tần suất xuất
hiện gặp tại một số vùng, nước [1], [3], [30], [34], [38], [44].
Bảng 1-5. Một số kháng nguyên của hệ Kell và các tên gọi theo ISBT
ISBT Kháng
nguyên
Ca bệnh
đầu tiên
Tần suất xuất hiện
(người Châu Âu)
Tần suất xuất hiện
(người Việt Nam 2006)
Năm phát
hiện
KEL 1 K
Kellher 9,0 0 1946
KEL 2 k Cellano 99,8 100 1949
KEL 3 Kp
a
Penney 2,0 1957
KEL 4 Kp
b
Rautenberg 99,9 1958
KEL 6 Js
a
Sutter <1,0 1958
KEL 7 Js
b
Matthews >99,9 1963
kháng nguyên của hệ Duffy, tên gọi, tần suất xuất hiện cũng như kiểu hình thường
gặp, hiếm gặp tại một số vùng, nước [1], [3], [20], [30], [34], [44].
Bảng 1-6. Các kháng nguyên của hệ Duffy và các tên gọi theo ISBT
ISBT Kháng nguyên Ca bệnh đầu tiên Tần suất xuất hiện
(người Châu Âu)
Nước khác
FY 1 Fya Kellher 9,0
FY 2 Fyb Cellano 99,8
FY 3 Fy3 Penney 2,0
FY 4 Fy4 Rautenberg 99,9
FY 5 Fy5 Peltz >99,9
FY 6 Fy6 Sutter <1,0 19,5 (Negrids)
14
1.1.5. Hệ nhóm máu MNSs
Hệ nhóm máu MNS được Landsteiner và Levine phát hiện năm 1927 bao
gồm 2 kháng nguyên là M và N. Năm 1947, Walsh và Montgomery phát hiện kháng
thể S; năm 1951, Levine và cộng sự phát hiện kháng thể chống s. Cho đến nay có
46 kháng nguyên của hệ MNS đã được phát hiện (Bảng 1-7), tuy nhiên bốn kháng
nguyên hay gặp nhất của hệ MNS là: M, N, S, s [1], [3], [30], [34], [44].
Hệ thống MNS chỉ đứng thứ hai sau hệ thống nhóm máu Rh với 46 kháng
nguyên khác nhau, các kháng nguyên này đã được công nhận bởi Hội truyền máu
quốc tế. Kháng nguyên của hệ MNS được mã hoá bở
i 2 gen đồng hợp tử cao là
GYPA và GYPB, nằm sát ngay trên nhiễm sắc thể số 6. Sinh học phân tử cho thấy
tính đa dạng của các kháng nguyên trong hệ thống nhóm máu này là do biến đổi các
nucleotid làm tăng tái tổ hợp protein glycoporine A và B [1], [30], [34].
Đặc tính của các kháng thể của hệ MNS cũng rất khác nhau phụ thuộc vào
Martin
MNS 6 He Henshaw MNS 15 St
a
Stones
MNS 7 Mi
a
Mittenberger MNS 16 Ri
a
Ridley
MNS 8 M
c
MNS 17 Cl
a
Caldwell
MNS 9 Vw Gr, Vereyst MNS 18 Ny
a
Nyberg
15
1.1.6. Hệ nhóm máu Lewis
Kháng thể đầu tiên của hệ thống nhóm máu Lewis là kháng thể Lea đã được
Mourant mô tả vào năm 1946. Năm 1948, Andresen mô tả kháng thể Leb, hai kháng
nguyên tương ứng với hai kháng thể này tạo nên các kiểu hình của hệ thống nhóm
máu Lewis là: Le (a+ b-), Le (a- b+), Le (a+b+). Kiểu hình Le (a+b+) dường như rất
hiếm gặp ở người Châu Âu, nhưng lại gặp nhiều hơn ở người Nhật Bản, Đài Loan.
Các kháng nguyên nhóm máu hệ Lewis không được sinh tổng hợp từ tế bào hồng
cầu, các kháng nguyên này được tạo ra bởi các tế bào của tổ chức và được tiết vào
các dịch của cơ thể và huyết tương, sau đó được hấp thụ lên trên màng hồng cầu.
Kháng nguyên Lewis có trong dịch tiết của cơ thể có bản chất là glucoproteins, các
kháng nguyên Lewis có mặt trong huyết tương được gắn lên trên bề mặt hồng cầu
T trong huyết thanh của bệnh nhân với khoảng thời gian từ 2-12 năm trước khi các
kết quả sinh thiết/ X quang trở nên dương tính. Như vậy xác định kháng thể chống
T có thể cho kết quả chẩ
n đoán sớm một số loại ung thư. Tỷ lệ kháng thể chống T
gặp trong một số loại ung thư như sau: Ung thư phổi có 85% bệnh nhân dương tính
với kháng thể chống T, ung thư tụy có 88% bệnh nhân dương tính với kháng thể
chống T và ung thư bàng quang là 83% [1], [3], [30], [34], [44], [58].
Hiện nay, kỹ thuật sinh học phân tử đã và đang được áp dụng một cách rộng
rãi trong lĩnh vực y học để chẩ
n đoán và điều trị bệnh. Kỹ thuật sinh học phân tử
cũng nhanh chóng được áp dụng trong việc nghiên cứu về cấu trúc kháng nguyên
nhóm máu hệ hồng cầu. Nhờ những tiến bộ của ngành khoa học mới này mà chúng
ta đã có thêm những hiểu biết mới về kháng nguyên và nhóm máu hệ hồng cầu. Các
hiểu biết này rất cần thiết vì đây chính là cơ sở khoa học giúp chúng ta có thể đề ra
các biện pháp thích hợ
p để đảm bảo an toàn truyền máu về mặt miễn dịch tại Việt
Nam [1], [3], [30], [34], [44], [58].
Tính đa dạng của các kháng nguyên nhóm máu và các hệ nhóm máu hồng
cầu ở trên đã cho thấy nếu chúng ta không thực hiện xét nghiệm sàng lọc kháng thể
bất thường cho bệnh nhân trước khi truyền máu thì vấn đề an toàn truyền máu về
mặt miễn dịch vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ.
1.2. Ngân hàng người cho máu có nhóm máu hiếm
Ngân hàng người hiến máu với những nhóm máu hiếm đã được Hội Truyền máu
Quốc tế đề cập từ những năm 1966, cho đến nay vẫn tiếp tục được duy trì và đã
phát triển được trên 4.000 người hiến máu tại 60 ngân hàng máu ở 26 quốc gia.
Chương trình này đặc biệt phát triển ở Anh và đã có bề dầy trên 30 năm, tại đây họ
có chương trình sàng lọc để lựa chọn người hiến máu có nhóm máu hi
ếm và cũng là
nơi cung cấp đầy đủ các nhóm máu hiếm cho bệnh nhân khi cần. Chương trình ngân
hàng máu hiếm cũng được thực hiện tại Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nam Phi và một số
c Tuyên (1984), Bùi Thị Mai An (2006) qua
nghiên cứu một số nhóm máu của hệ hồng cầu của người Việt Nam cũng cho thấy
các nhóm máu hiếm thường gặp ở người Việt Nam là D-, Fyb +, K+, k-, P1+, Lub-,
S+, s-, Kpa+, Kpb [3], [17].
Việc xác định các nhóm máu hiếm sẽ góp phần để xây dựng một giàn panel
hồng cầu với đầy đủ các kháng nguyên cả hiếm và thường gặp để xác định kháng
thể bất thường.
1.3. Xây dựng Panel hồng cầu để sàng lọc kháng thể bất thường đảm bảo
an toàn truyền máu
Panel hồng cầu là một giàn kháng nguyên hồng cầu của những người có nhóm
máu O mà trên mỗi hồng cầu đó đã được xác định chính xác các kháng nguyên của
một số hệ nhóm máu hồng cầu. Kháng nguyên trên các hồng cầu này sẽ phát hiện
được một hoặc nhiều kháng thể chống lại các kháng nguyên có trên bề mặt hồng
cầu.
Số lượng các hồng cầu được lựa chọn để xây dựng panel sàng lọc kháng thể b
ất
thường là không hằng định, tuy nhiên thường được xây dựng từ 2- 3 hồng cầu, điều
quan trọng là những hồng cầu này phải mang tối đa các kháng nguyên, đặc biệt là
18
những kháng nguyên hiếm gặp với mục đích là để phát hiện được đầy đủ các kháng
thể bất thường có trong huyết thanh của bệnh nhân và người cho máu.
Để xây dựng được panel hồng cầu sàng lọc kháng thể bất thường trước hết cần
xác định tần suất xuất hiện kháng nguyên của các hệ nhóm máu hồng cầu ở trong
một quần thể để xác định các kháng nguyên có tần suất hiện hi
ện thấp hay cao. Tác
giả Giblett (1961) đã xây dựng một công thức để xác định tần suất gây miễn dịch
của các kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu với mục đích để xác định các kháng
nguyên cần thiết phải có mặt trong panel hồng cầu như sau:
Tần suất gây miễn dịch = Tỷ lệ dân mang kháng nguyên x tỷ lệ dân không mang
19
1.3.1. Xây dựng Panel hồng cầu và sàng lọc kháng thể bất thường trên thế
giới
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đã thực hiện xét nghiệm sàng lọc kháng
thể bất thường một cách thường quy cho cả bệnh nhân và người cho máu, panel
hồng cầu được sử dụng cho việc sàng lọc và xác định bản chất của các kháng thể
bất thường là do các hãng sản xuất mang tính chất thương mại, mang tính đặc thù
cho từng vùng mà lại được bán với giá thành khá cao. Hơn nữa, do việc bảo quản
các mẫu máu này chỉ giới hạn trong thời gian 3-4 tuần vì vậy việc cung cấp panel
hồng cầu này này một cách đầy đủ và kịp thời là rất khó thực hiện, chính vì vậy mỗi
quốc gia thường xây dựng riêng cho nước mình một giàn hồng cầu với các kháng
nguyên đặc thù để sàng lọc kháng thể bất thường và thuận tiện để phân phối cho các
trung tâm truyền máu trên phạm vi toàn quốc. Kể cả phương án sản xuất mang tính
chấ
t thương mại hoặc sản xuất tại từng quốc gia thì panel hồng cầu được sử dụng để
sàng lọc kháng thể bất thường bắt buộc bao gồm kháng nguyên của các hệ nhóm
máu: Rh, Kell, Duffy, Lewis, Kidd, MNS, Lutheran, Xg [9], [19], [23], [24], [26],
[27], [30], [35], [36], [37], [39], [41], [44], [51].
1.3.2. Xây dựng Panel hồng cầu và ứng dụng để sàng lọc kháng thể bất
thường cho bệnh nhân và người cho máu tại Việt nam
Ngay từ thập kỷ 80, tác giả Bạch Quốc Tuyên đã phối hợp với ngân hàng quốc
gia Pháp nguyên cứu khảo sát các kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu của 60
nhân viên y tế làm tại bệnh viện bạch Mai (Chủ yếu là người có nhóm máu O) để
xây dựng panel hồng cầu sàng lọc kháng thể bất thường, tuy nhiên do số người có
nhóm máu O đồng ý cho panel chỉ có khoảng 30 người và hầu hết những người này
cho đến nay đã nghỉ hưu, bên c
ạnh đó việc xác định các kháng nguyên một số hệ
nhóm máu hồng cầu chưa được đầy đủ (Thiếu hồng cầu của những người có kháng
nguyên D âm, Fyb +, S+). Cũng do những người cho panel này là nhân viên y tế
mà không phải là người hiến máu nên mỗi lần lấy hồng cầu để làm panel cũng rất
máu, tại thời điểm đó tác giả Peter (1970) cũng đã đề cập việc sàng lọc kháng thể
bất thường phải được thực hi
ện cho cả người hiến máu và bệnh nhân bằng kỹ thuật
ngưng kết trong ống nghiệm và giàn hồng cầu sử dụng để sàng lọc kháng thể bất
thường phải bao gồm các kháng nguyên của các hệ nhóm máu sau: Hệ Rh, Kell,
Duffy, Kidd, Lewis, MNS [44].
Hiện nay, trên thế giới người ta đã áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để sàng
lọc kháng thể bất thường cho bệnh nhân và người cho máu như: Kỹ thuật ngưng kết
trong ố
ng nghiệm, kỹ thuật ngưng kết trong phiến nhựa trên hệ thống máy tự động,
kỹ thuật gelcard, tùy theo điều kiện kinh tế của từng nước mà người ta có thể áp
dụng một trong các kỹ thuật trên hoặc phối hợp nhiều kỹ thuật với nhau. Các nước
tiên tiến hiện nay thường dùng kỹ thuật ngưng kết trong phiến nhựa và kỹ thuật
gelcard trên hệ thống máy tự
đông [26], [27], [30], [31], [33], [35], [36], [37].
Tại Việt nam, kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất là kỹ thuật ngưng kết trong ống
nghiệm và việc sàng lọc kháng thể bất thường cho người cho máu và bệnh nhân
chưa được thực hiện một cách thường quy mà mới chỉ dừng ở mức nghiên cứu. Kỹ
thuật ngưng kết trong phiến nhựa trên hệ thống máy miễn dịch tự động chư
a được
áp dụng tại nước ta, tại một số trung tâm lớn kỹ thuật sàng lọc bằng kỹ thuật gelcard
đã bắt đầu được áp dụng.
Tác giả Bùi Thị Mai An (1995), Nguyễn Thị Thu Hà (1999) đã tiến hành nghiên
cứu tỷ lệ kháng thể bất thường ở người cho máu và nhận máu nhiều lần bằng panel
hồng cầu được sản xuất tại Viện Huyết học Truyền máu.
21
Qua phần tổng quan ở trên cho thấy việc khảo sát tần suất xuất hiện kháng
nguyên của các hệ nhóm máu hồng cầu là cần thiết để xây dựng panel hồng cầu tại
viện Huyết học Truyền máu trung ương.
C 1026
c 1026
E 1026
Xác định kháng
nguyên hệ Rh
e 1026
K 868
k 125
Kpa 744
Xác định kháng
nguyên hệ Kell
Kpb 744
Fya 90
Xác định kháng
nguyên hệ Duffy
Fyb 781
Jka 773
Xác định kháng
nguyên hệ Kidd
Jkb 773
Lea 795
Xác định kháng
nguyên hệ Lewis
leb 100
S 776
s 776
M 161
N 482
Xác định kháng
nguyên hệ MNS,
2.2.2. Vật liệu nghiên cứu và sinh phẩm:
1. Kháng huyết thanh hệ Rh, Kell, Duffy, Kidd, M, N, S, s, P, Lutheran của
Hãng BIO-RAD và DIA- MED.
Người hiến máu tại viện huyết học
Truyền máu TW (2004-2007)
(
Lấy máu để xác định các KN nhóm máu hệ hồng cầu
Đủ tiêu chuẩn hiến máu
Xác định tần suất xuất hiện các KN nhóm máu hệ
Rh, Kell, Duffy, Kidd, Lewis, Lutherran, MNSs, P1,
i
Kỹ thuật ngưng kết trên ống
n
g
h
i
ệm và trên lam kính
Kỹ thuật gelcard
2.2.3.1. Lựa chọn người hiến máu để xác định các kháng nguyên nhóm máu
hệ hồng cầu:
Người hiến máu được chọn để lấy mẫu máu nghiên cứu phải đạt được các
tiêu chuẩn sau:
- Có đủ tiêu chuẩn để hiến máu theo quy định của “Quy chế truyền máu”;
- Không bị nhiễm các bệnh nhiễm trùng truyền qua đường máu: HIV, HBV,
HCV, giang mai, sốt rét;
- Những người hiến máu này được tư vấn, giải thích về ý nghĩa nhân đạo và
cần thiết của việc nghiên cứu;
- Là những người tình nguyện, đồng ý sẽ
hiến máu nhiều lần trong tương lai.
2.2.3.2. Lấy mẫu máu để tiến hành nghiên cứu:
Lấy 2 ml máu tĩnh mạch vào một ống nghiệm sạch, chuyên dụng có chứa sẵn
chất chống đông bằng EDTA. Lắc đều để máu không bị đông dây.
2.2.3.3. Xác định kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu bằng các kỹ thuật:
a/ Kỹ thuật ngưng kết trong ống nghiệm để xác định kháng nguyên của hệ
nhóm máu Rh (D, C, c, E, e):
- Bước 1: Nhỏ 1 giọt kháng huyết thanh của hệ Rh (Hoặc anti D, anti C, Anti c, Anti
E, anti e) vào một ống nghiệm đã được dán nhãn;