1
Mở đầu
Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một khối lợng vốn khổng
lồ, nhất là vốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thị trờng tài chính mới
chỉ đáp ứng đợc một phần nhỏ nhu cầu về vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trờng chứng khoán, với t cách là kênh huy
vốn quan trọng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành một nhu cầu cấp
thiết, khách quan trong điều kiện hiện nay.
Tuy nhiên thị trờng chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có
hàng hoá cho nó (cổ phiếu, trái phiếu...) và đồng thời phải có các công ty
chứng khoán chuyên mua bán, giao dịch các loại hàng hoá đó.
Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trờng chứng khoán nói riêng. Nhờ các công
ty chứng khoán mà một lợng vốn khổng lồ đợc đa vào đầu t từ những
nguồn lẻ tẻ trong công chúng tập hợp lại.
Nh vậy, sự ra đời của các công ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay là
một nhu cầu khách quan. Tuy nhiên để nó đi vào hoạt động có hiệu quả cần
tiếp tục có những điều chỉnh hợp lý.
Đề xuất: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty
chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ đa ra những kiến nghị góp
phần vào việc hoàn thiện các công ty chứng khoán và những giải pháp thúc
đẩy hình thành các công ty chứng khoán. Đề tài nghiên cứu những lí luận cơ
bản về công ty chứng khoán từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công ty
chứng khoán về cơ cấu tổ chức; đội ngũ cán bộ, nhân viên; mô hình công ty;
hệ thống tin học trong các công ty chứng khoán, đồng thời đa ra những giải
pháp, kiến nghị nhằm mở rộng và phát triển các công ty chứng khoán.
Nội dung đề tài gồm 3 phần:
2
Chơng I: Vai trò của công ty chứng khoán với hoạt động của thị trờng
chứng khoán.
Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau:
Quan điểm một cho rằng: thị trờng vốn và thị trờng chứng khoán là khác
nhau vì công cụ của thị trờng chứng khoán ngoài các chứng khoán dài hạn
còn có các giấy ghi nợ ngắn hạn (các tín phiếu kho bạc nhà nớc có thời hạn
03 tháng hoặc 06 tháng).
Quan điểm thứ hai cho rằng: thị trờng vốn và thị trờng chứng khoán chỉ
là các tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: thị trờng t bản.
Ngày nay, ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, thị trờng chứng
khoán đợc quan niệm là một thị trờng có tổ chức và hoạt động có điều kiện,
là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn
giữa những ngời phát hành chứng khoán và mua chứng khoán hoặc kinh
doanh chứng khoán.
4
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái ngợc nhau, nhng
nhìn chung một thị trờng chứng khoán đợc đặc trng bởi các hoạt động cơ
bản sau.
1.1.2. Hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Trên thị trờng chứng khoán các hoạt động giao dịch chứng khoán đợc
thực hiện . Xét về mặt hình thức, các hoạt động trao đổi mua bán chuyển
nhợng các chứng khoán là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán;
xét về thực chất đây chính là quá trình vận động t bản ở hình thái tiền tệ, tức
là quá trình chuyển từ t bản sở hữu sang t bản kinh doanh. Các quan hệ mua
bán các chứng khoán trên thị trờng chứng khoán phản ánh sự thay đổi các
chủ thể sở hữu về chứng khoán.
Xét về nội dung, thị trờng vốn thể hiện các quan hệ bản chất bên trong của
quá trình mua bán các chứng khoán. Thị trờng chứng khoán là biểu hiện bên
ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Các thị trờng này không thể phân
biệt, tách rời nhau mà nó là thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên
trong và bên ngoài của thị trờng t bản.
Do đó hoạt động của thị trờng chứng khoán (xét về bản chất) phản ánh
1.2.1.1. Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Vì công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn
đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau ở
các nớc. Mỗi nớc đều có một mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán
riêng, phù hợp với đặc điểm của hệ thống tài chính và tuỳ thuộc vào sự cân
nhắc lợi hại của những ngời làm công tác quản lý nhà nớc. Tuy nhiên, ta có
thể khái quát lên ba mô hình cơ bản hiện nay là: mô hình công ty chứng khoán
ngân hàng hay mô hình ngân hàng đa năng (bao gồm: Ngân hàng đa năng
6
toàn phần, Ngân hàng đa năng một phần) và công ty chuyên doanh chứng
khoán.
Trong mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, một ngân hàng có thể tham
gia tất cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà không
cần thông qua những pháp nhân riêng biệt.
Khác với mô hình trên, trong mô hình ngân hàng đa năng một phần, một
ngân hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua
công ty con là pháp nhân riêng biệt.
Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh
chứng khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng
khoán đảm nhận, các ngân hàng không đợc tham gia kinh doanh chứng
khoán.
1.2.1.2. Những nét đặc trng trong tổ chức của các công ty chứng khoán.
Do công ty chứng khoán là một hình thức định chế đặc biệt, có hoạt động
nghiệp vụ đặc thù nên về mặt tổ chức nó có nhiều điểm khác biệt so với các
công ty thông thờng. Các công ty chứng khoán ở các nớc khác nhau, thậm
chí trong cùng một quốc gia cũng có tổ chức rất khác nhau tuỳ thuộc vào tính
chất công việc của mỗi công ty và mức độ phát triển của thị trờng. Tuy vậy,
chúng vẫn có một số đặc trng cơ bản:
a. Chuyên môn hoá và phân cấp quản lí.
Công ty chứng khoán có trình độ chuyên môn hoá rất cao ở từng phòng
thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách
nhiệm với các khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình.
Ngợc lại thành viên không tham gia vào quá trình điều hành quản lí công ty
đợc gọi là thành viên góp vốn. Họ chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản
nợ của công ty trong giới hạn góp vốn của mình.
8
Thông thờng khả năng huy động vốn góp của công ty hợp danh không lớn,
nó chỉ giới hạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.
b. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đây là công ty chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên đối với các khoản
nợ của công ty trong giới hạn số vốn góp của họ, do đó gây tâm lí nhẹ nhàng
hơn đối với các nhà đầu t.
Về phơng diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty
hợp danh. Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn, không
bị bó hẹp trong một số đối tác nh công ty hợp danh.
Nhờ những u thế đó, hiện nay rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động
dới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
c. Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ
đông. Đại hội cổ đông có quyền bầu ra hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ
định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ
quản lý khác để điều hành công ty.
Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện
quyền lợi của chủ sở hữu đối với các tài sản của công ty.
* Ưu điểm của công ty cổ phần:
+ Nó tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ
đông nghỉ hu hay qua đời.
+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu đợc giới hạn ở mức nhất
định. Nếu công ty thua lỗ, phá sản, cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã
đóng góp.
giao dịch đó. Các nhà môi giới thờng gặp phải rủi ro khi khách hàng của
mình hoặc nhà môi giới giao dịch khác không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
đúng thời hạn.
Qui trình giao dịch.
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thờng qua các bớc chủ yếu
thể hiện ở sơ đồ sau:
Bớc 1: Mở tài khoản (1).
Bớc 2: Nhận lệnh (2).
Bớc 3: Chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện lệnh (3).
Bớc 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4).
Bớc 5: Thanh toán và giao hàng.
Bớc 1: Mở tài khoản.
Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài
khoản tiền mặt hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí
quĩ còn tài khoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thờng.
Bớc 2: Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dới nhiều hình
thức: Điện thoại, telex, phiếu lệnh...
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số
chứng khoán muốn bán trớc khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí quĩ
Khách hàng
Công ty chứng khoán
(4)
(1)
(2)
(3)
(5)
11
một phần số chứng khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán qui
thanh toán; ngời bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản
tại trung tâm lu kí chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại Sở, công ty
sẽ thanh toán tiền và chứng khoán cho khách hàng thông qua hệ thống tài
khoản khách hàng mở tại công ty chứng khoán.
Phí môi giới.
Hoạt động với t cách là nhà đại lí nên công ty chứng khoán đợc hởng
hoa hồng môi giới. Số tiền hoa hồng thờng đợc tính phần trăm trên tổng giá
trị một giao dịch. Số tiền mua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng càng
lớn.
Một số nớc hiện nay duy trì tỉ lệ hoa hồng cố định nh Thái Lan,
Inđônêxia, Trung Quốc, ấn Độ, Pakistan. Theo đó mức hoa hồng cao, thấp tuỳ
thuộc vào giá trị hợp đồng.
Thông thờng, các công ty chứng khoán đều có chế độ hoa hồng của mình
và thỉnh thoảng lại điều chỉnh cho thích hợp. Các công ty nhỏ thờng phải chờ
xem các hãng lớn cho biết tỉ suất hoa hồng rồi mới công bố tỉ suất của mình.
Thuế giao dịch chứng khoán.
Các công ty chứng khoán phải nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh của
mình. Doanh thu chịu thuế tuỳ thuộc vào các nghiệp vụ mà công ty tiến hành.
Đối với hoạt động môi giới, bảo lãnh, thuế đợc tính trên mức hoa hồng hay
chiết khấu mà công ty chứng khoán nhận đợc. Đối với hoạt động tự doanh
thuế đợc tính trên chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán. Ngoài
ra, công ty chứng khoán còn phải chịu thuế lợi tức trong trờng hợp kinh
doanh chứng khoán có lãi.
13
Để khuyến khích mọi ngời mua Trái phiếu Chính phủ, các nớc thờng
không đánh thuế các khoản lãi nhận đợc từ đầu t vào Trái phiếu Chính phủ.
1.2.3.2 Nghiệp vụ bảo lãnh.
Bản chất bảo lãnh.
Bảo lãnh phát hành là việc hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằng cách
bán chứng khoán trên thị trờng. Có ba hình thức bảo lãnh phát hành mà thế
đoàn.
Nhóm bán:
Để việc bán nhanh hơn, nghiệp đoàn bảo lãnh có thể tổ chức thêm một
"nhóm bán". Nhóm này bao gồm một số công ty không nằm trong nghiệp
đoàn bảo lãnh, họ chỉ giúp bán chứng khoán mà không phải chịu trách nhiệm
về số chứng khoán không bán đợc. Do vậy, thù lao cho họ ít hơn các thành
viên trong nghiệp đoàn bảo lãnh.
+ Phân tích, định giá chứng khoán.
Định giá cho cổ phiếu rất phức tạp. ở đây bắt gặp vấn đề nan giải: một mặt,
ngời phát hành cổ phiếu muốn nhận đợc càng nhiều tiền càng tốt từ đợt phát
hành này; mặt khác ngời quản lý muốn định giá sao cho có thể bán đợc và
bán càng nhanh càng tốt. Nếu giá cao quá công chúng sẽ không mua, nếu giá
thấp quá thì giá chứng khoán sẽ mau chóng chuyển lên cao hơn ở thị trờng
thứ cấp và ngời phát hành sẽ chịu thiệt. Thông thờng, việc định giá cổ phiếu
căn cứ vào nhiều yếu tố: lợi nhuận của công ty, dự kiến lợi tức cổ phần, số
lợng cổ phiếu chào bán, tỉ lệ giá cả - lợi tức so với những công ty tơng tự,
tình hình thị trờng lúc chào bán...
Đối với trái phiếu, việc định giá đơn giản hơn vì trên thị trờng đã có sẵn lãi
suất chuẩn và yết giá của những ngời mua, bán chứng khoán cho những loại
trái phiếu tơng tự.
15
+ Ký hợp đồng bảo lãnh.
Sau khi thành lập nghiệp đoàn và tiến hành một số công việc nh phân tích
định giá chứng khoán, chuẩn bị cho đợt phân phối chứng khoán ..., nghiệp
đoàn bảo lãnh sẽ ký một số hợp đồng với công ty phát hành trong đó xác định:
Phơng thức bảo lãnh.
Phơng thức thanh toán.
Khối lợng bảo lãnh phát hành.
+ Đăng kí phát hành chứng khoán.
Sau khi ký hợp đồng bảo lãnh, nghiệp đoàn bảo lãnh phải trình lên cơ quan
thơng lợng với nhau.
Phí bảo lãnh: là chênh lệch giữa giá bán chứng khoán trên thị trờng và số
tiền công ty phát hành nhận đợc.
1.2.3.3 Nghiệp vụ tự doanh.
Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng khoán dùng kinh phí
của mình để mua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làm
thêm nhiệm vụ tạo thị trờng cho một loại chứng khoán nào đó.
Nhà giao dịch chịu lãi hay lỗ tuỳ thuộc vào chênh lệch giá mua và bán
chứng khoán. Hoạt động buôn bán chứng khoán có thể là:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt lệnh mua và bán của mình
trên Sở giao dịch, lệnh của họ đợc xác định đối với bất kì khách hàng nào
không xác định trớc.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch giữa hai công ty chứng khoán hay giữa
công ty chứng khoán với khách hàng thông qua thơng lợng. Đối tợng của
giao dịch trực tiếp thờng là các trái phiếu và cổ phiếu giao dịch ở thị trờng
OTC.
17
Thông thờng các công ty chứng khoán phải dành một tỉ lệ % nhất định cho
hoạt động bình ổn thị trờng (ở Mỹ luật qui định là 60%). Các công ty có
nghĩa vụ mua vào (khi giá chứng khoán giảm) để giữ giá và phải bán ra khi
giá chứng khoán lên để kìm giá chứng khoán.
Ngoài các hoạt động kinh doanh chính: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, công ty chứng khoán còn tiến hành các nghiệp vụ phụ trợ.
1.2.3.4. Các nghiệp vụ phụ trợ.
a. Nghiệp vụ tín dụng.
ở các thị trờng phát triển thì đây là một hoạt động thông dụng. Còn ở
những thị trờng cha phát triển thì hoạt động này bị hạn chế, chỉ các định
chế tài chính đặc biệt mới đợc phép cấp vốn vay. Một số nớc còn qui định
không đợc phép cho vay kí quỹ.
Cho vay kí quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
doanh để tránh mâu thuẫn lợi ích.
Bớc 4: Khi đến hạn kết thúc hợp đồng công ty phải cùng khách hàng bàn
bạc, quyết định xem gia hạn hay thanh lí hợp đồng. Khi công ty bị phá sản,
tài sản uỷ thác của khách hàng phải đợc tách riêng và không đợc dùng để
trả nghĩa vụ nợ cho công ty chứng khoán.
Khoản phí mà công ty chứng khoán nhận đợc dựa trên số lợi nhuận thu về
cho khách hàng.
d. Nghiệp vụ quản lí thu nhập chứng khoán (quản lí cổ tức).
Nghiệp vụ này xuất phát từ nghiệp vụ lu kí chứng khoán. Công ty phải
thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu
hộ rồi gửi báo cáo cho khách hàng. Trên thực tế, các công ty chứng khoán
không trực tiếp quản lí mà sẽ lu kí tại trung tâm lu giữ chứng khoán.
19
Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể tiến hành một số
hoạt đông khác nh: cho vay chứng khoán, quản lí quỹ đầu t, quản lí vốn,
kinh doanh bảo hiểm...
Vì là một định chế tài chính đặc biệt nên công ty chứng khoán phải tuân thủ
một số nguyên tắc nhất định.
1.2.4. Nguyên tắc đạo đức và tài chính đối với công ty chứng khoán.
1.2.4.1. Nguyên tắc đạo đức.
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hởng nhiều tới lợi ích
công chúng và biến động của thị trờng tài chính. Vì vậy, luật pháp các nớc
qui định rất chặt chẽ đối với hoạt động của công ty chứng khoán. Nhìn chung
có một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ đợc tiết
lộ thông tin khi cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cho phép.
+ Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không
đợc tiến hành bất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào.
+ Công ty chứng khoán không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn
tài chính để kinh doanh.
Các chứng khoán đem ra mua bán, trao đổi trên thị trờng chiếm phần
lớn tổng giá trị tài sản của công ty chứng khoán (40%-60%).
ở các nớc đang phát triển, thông thờng các công ty chứng khoán
không đợc vay vốn của nớc ngoài trong khi ở những nớc phát triển điều
này đợc phép thực hiện.
21
Tỉ lệ nợ tuỳ thuộc vào công ty chứng khoán nhng phải tuân theo qui
định của các cấp quản lí.
c. Quản lí vốn và hạn mức kinh doanh.
* Quản lí vốn khả dụng: các công ty chứng khoán thờng phải duy trì một
mức vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán.
* Quản lí quĩ bù đắp rủi ro: Các công ty chứng khoán thực hiện hoạt động
tự doanh thờng phải duy trì một tỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn các
công ty môi giới duy trì tỉ lệ dự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích bù
đắp các khoản lỗ kinh doanh trong năm đó.
* Quản lí quĩ bổ sung vốn điều lệ: công ty chứng khoán phải trích tỉ lệ
phần trăm lãi ròng hàng năm để lập quĩ bổ sung vốn điều lệ cho tới khi đạt
một tỉ lệ phần trăm nào đó của vốn điều lệ. Quĩ này dùng bù đắp những thâm
hụt trong tơng lai.
* Quản lí hạn mức kinh doanh: hạn mức kinh doanh đợc qui định khác
nhau tuỳ từng quốc gia. Thông thờng nó tuân theo một số qui định sau:
Hạn chế mua sắm tài sản cố định theo tỉ lệ % trên vốn điều lệ.
Đặt ra hạn mức đầu t vào mỗi loại chứng khoán.
Qui định hạn mức đầu t vào một số tài sản rủi ro cao.
d. Chế độ báo cáo.
Các thông tin tài chính đợc thể hiện qua các báo cáo. Các báo cáo này,
theo qui định một số nớc, phải nộp cho Uỷ ban chứng khoán (hoặc cơ quan
quản lý tơng đơng) và một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báo
cáo tài chính thờng niên đã đợc kiểm toán. Báo cáo tài chính đợc kiểm
toán bao gồm:
hơn so với giấy phép hành nghề về các mặt học vấn kinh nghiệm công tác.
23
Trong điều kiện thành lập công ty chứng khoán cần chú ý tới tính điều kiện
và tính đơng nhiên. Tính điều kiện có nghĩa là giấy phép thực hiện hoạt động
này có thể lại chính là điều kiện xin cấp giấy phép hoạt động kia. Chẳng hạn
muốn thực hiện hoạt động bảo lãnh thì bắt buộc phải có giấy phép hoạt động
tự doanh. Tính đơng nhiên có nghĩa là đợc thực hiện hoạt động này thì
đơng nhiên thực hiện hoạt động kia. Ví dụ: nếu đã có giấy phép quản lí quĩ
đầu t thì đơng nhiên đợc thực hiện nghiệp vụ t vấn đầu t.
Riêng đối với quản lí quĩ đầu t ở một số nớc trên thế giới có những điểm
khác biệt. Chẳng hạn một số nớc nh Thái Lan, Hàn Quốc cho phép công ty
chứng khoán thành lập và quả lí quĩ đầu t trong khi điều này không đợc
Inđônêxia chấp nhận.
Nh vậy, điều kiện thành lập công ty chứng khoán có sự khác nhau ở các
nớc trên thế giới. Tùy theo đặc thù mỗi quốc gia, các công ty chứng khoán
cũng đợc tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau.
1.3. Công ty chứng khoán ở một số nớc trên thế giới.
Trên thế giới có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Thứ nhất: là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong mô hình này
không có sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh
chứng khoán. Các ngân hàng thơng mại cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân
hàng, chứng khoán và bảo hiểm trong một pháp nhân duy nhất. Đây là phơng
thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình đợc áp dụng ở
CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nớc Bắc Âu.
Thứ hai: là mô hình đa năng một phần (đa năng kiểu Anh), đợc áp dụng ở
Anh và một số nớc có quan hệ gần gũi với Anh nh Canada, australia. Ngân
hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có t
cách pháp nhân độc lập. Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân
hàng và thờng không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng.
24
khoán tại Mỹ.
1.3.2. Mô hình Nhật.
Trớc đây, mô hình kinh doanh chứng khoán của Nhật là mô hình chuyên
doanh, ngân hàng không đợc phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Theo Luật cải cách các định chế ban hành 4/1993, các tổ chức ngân
hàng đợc phép tham gia vào thị trờng chứng khoán thông qua các công ty
chứng khoán con. Đồng thời các công ty chứng khoán lại đợc phép thành lập
công ty con làm dịch vụ ngân hàng.
Kinh doanh chứng khoán Nhật Bản đợc chia thành 4 loại hình và mỗi loại
hình lại có giấy phép kinh doanh riêng biệt, đó là nghiệp vụ: môi giới, tự
doanh, bảo lãnh phát hành, chào bán chứng khoán ( hay tham gia vào hệ thống
bán lẻ các chứng khoán phát hành ra công chúng). Ngoài ra, các công ty
chứng khoán chuyên doanh đợc phép cung cấp các dịch vụ khác liên quan tới
chứng khoán nh t vấn đầu t, làm đại lí thu tiền mua các trái phiếu phát
hành ra công chúng, thanh toán gốc và lãi trái phiếu, đại lí trả lợi nhuận, mua
lại hoặc huỷ từng phần tiền mua chứng chỉ quĩ đầu t, lu kí chứng khoán...
Công ty xin tham gia kinh doanh chứng khoán phải đáp ứng đợc các tiêu
chuẩn:
Có nguồn tài chính lành mạnh.
Nhân sự phù hợp với hoạt động kinh doanh.
Chứng minh đợc việc xin tham gia kinh doanh chứng khoán là thiết
thực đối với công ty.
Vốn điều lệ tối thiểu đối với công ty chứng khoán thay đổi tuỳ theo loại
hình kinh doanh mà công ty đó tham gia:
Đối với các công ty không phải là thành viên của Sở giao dịch chứng
khoán: