BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN - MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG Ở
VỊNH NHA TRANG - KHÁNH HÒA
HOÀNG KIM ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2008
vi
Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “Phát triển Du lịch và Quản
lý tài nguyên thiên nhiên - Môi trường bền vững ở Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” do
Hoàng Kim Anh, sinh viên khoá 30, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ
thành công trước hội đồng vào ngày ________________.
ThS Trần Đức Luân
Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên tôi xin gửi đến ba mẹ tôi những lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất.
Ba mẹ đã bên cạnh, chăm sóc, ủng hộ và nổ lực tạo cho tôi mọi điều kiện để tôi có thể kết
thúc 4 năm đại học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến thầy hướng dẫn tôi viết đề tài, thạc sĩ Trần
Đức Luân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Xin gửi đến Thầy lòng biết ơn chân thành nhất. Xin cám ơn Thầy!
Bên cạnh đó, cho tôi gửi lời cám ơn các cô chú, anh chị phòng Môi trường của Sở
môi trường bên cạnh việc phát triển du lịch. Bảo vệ môi trường hay nâng cao chất lượng
môi trường không chỉ là công việc của nhà nước mà còn là trách nhiệm của người dân,
của du khách đến tham quan Vịnh Nha Trang. Không chỉ nâng cao năng lực, trình độ
quản lý, nâng cao nhận thức của người dân mà còn phải nâng cao trách nhiệm của những
người kiếm lợi nhuận từ thiên nhiên, và những người tìm đến thiên nhiên để thư giãn.
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
Danh mục phụ lục x
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 4
1.3. Các giả thiết của vấn đề nghiên cứu 4
1.4. Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu 4
1.4.2. Phạm vi địa bàn nghiên cứu 4
1.5. Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 6
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6
2.2. Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa 6
2.2.1. Lịch sử hình thành 6
2.2.2. Dân cư 7
2.2.3. Vị trí địa lý và khí hậu 7
2.2.4. Địa hình 9
2.2.5. Tài nguyên đất 9
2.2.6. Tài nguyên rừng 10
4.4.1. Về tài nguyên 54
4.4.2. Về môi trường 55
4.5. Công tác quản lý Vịnh Nha Trang 58
vi
4.6. Giải pháp phát triển du lịch và quản lý tài nguyên – môi trường 61
4.6.1. Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý và phát triển du lịch 61
4.6.2. Giải pháp phát triển du lịch và quản lý tài nguyên – môi trường 62
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận 66
5.2. Kiến nghị 68
5.3. Hướng nghiên cứu trong tương lai 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO Tổ Chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization)
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TNTNMT Tài nguyên thiên nhiên môi trường
KBTB Khu bảo tồn biển
BQL Ban quản lý
UBND Ủy Ban Nhân Nân
MT Môi trường
DL Du lịch
NCPT Nghiên Cứu và Phát Triển
ĐVT Đơn vị tính
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
UNESCO Tổ Chức Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational Scientific and
Cultural Oraganization)
CPR Quản lý tài nguyên sở hữu cộng đồng (Common Property Resource)
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Bảng 4.3. Dân cư địa phương sống trên các đảo 36
Bảng 4.4. Độ tuổi và giới tính của du khách 44
Bảng 4.5. Mục đích đến Vịnh Nha Trang của du khách 45
Bảng 4.6. Tỷ lệ ý kiến ưu tiên bảo vệ môi trường hay phát triển du lịch 51
Bảng 4.7. Tỷ lệ ý kiến đánh giá hoạt động du lịch ảnh hưởng đến môi trường 51
Bảng 4.8. Dự báo cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Khánh Hòa (giá 2006) 64
x
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Phiếu phỏng vấn
xi
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam hiện đang là điểm đến của bạn bè năm châu trên thế giới khi trở thành
thành viên WTO, không chỉ là thị trường tiềm năng về kinh tế mà Việt Nam còn là nơi lý
tưởng để thu hút mọi người đến du lịch, khám phá và tìm hiểu cảnh vật, thiên nhiên, con
người và nền văn hoá hơn 4000 năm lịch sử. Theo ông Jonathan Galaviz – chuyên gia của
Globalysis Ltd – nhận xét: “Việt Nam là một trong những điểm đến có tốc độ tăng trưởng
mạnh nhất ở Châu Á. Với vị thế và chính sách hiện nay, du lịch Việt Nam sẽ tăng trưởng
mạnh trong những năm tới”. Globalysis dự báo, số lượng du khách nước ngoài tới Việt
Nam sẽ tăng 10% mỗi năm. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, lượng du khách quốc tế
đến Việt Nam năm 2007 tăng 17% so với năm 2006, có 47 dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn hơn 1,8 tỉ USD, tăng xấp xỉ 200% so với
năm 2006.
Hình ảnh Việt Nam xuất hiện trên truyền thông quốc tế cũng nhiều hơn bao giờ
hết. Tuy nhiên, điều mà ngành du lịch cũng như mọi ngành khác đều hướng đến là sự phát
triển mang tính bền vững thì vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Nằm trên vĩ tuyến gần xích
đạo Việt Nam là nước nhiệt đới đa dạng và phong phú các nguồn tài nguyên và thiên
nhiên, lại nằm hướng mặt ra biển Đông chạy dọc theo suốt chiều dài đất nước. Chính vì
lợi thế của điều kiện tự nhiên nên việc phát triển du lịch ở Việt Nam là một động lực kinh
San Francisco tại ‘Hội thảo quốc tế 29 Vịnh biển đẹp’ tổ chức ở Nha Trang vào tháng
3/2005, để đưa ra vấn đề chính mà đề tài này muốn đề cập đến ‘Tôi không thấy ai trong
số chúng ta ở cuộc hội thảo bàn luận về vẻ đẹp tự nhiên của Vịnh Nha Trang. Chỉ thấy
nói tới du lịch, làm thế nào phát triển du lịch hơn nữa mà không đề cập đến những tác
2
động về tầm nhìn’. Một ví dụ mà Ellen dẫn ra là “con đường dẫn lên hòn đảo ngoài kia
(Ellen chỉ tay ra đảo Hòn Tre, nơi ‘trú chân’ của khu nghỉ mát Hòn Ngọc Việt). Một con
đường lớn xé ngang sườn núi. Thật xấu xí”.
Hình 1.1: Vết chém trên đảo Hòn Tre
Nguồn: www.vnn.vn
Đây cũng chính là vấn đề đặt ra cho toàn xã hội cũng như với cá nhân người
nghiên cứu đối với sự quan tâm về tầm nhìn của các cấp chính quyền trong việc phát triển
du lịch đồng thời quản lý, quy hoạch, khai thác tối ưu (chứ không phải tối đa) hiệu quả
môi trường – tài nguyên thiên nhiên bền vững nhằm phát triển du lịch trong lâu dài được
thực hiện ở Vịnh Nha Trang – Khánh Hòa. Những lợi ích trước mắt và lâu dài luôn dẫn
đến sự mâu thuẫn giữa các mối quan hệ trong xã hội từ các cấp chính quyền, đến các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, người dân địa phương, các tổ chức khoa học,
phi chính phủ và đến những du khách thập phương đối với Vịnh Nha Trang.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên – môi trường bền vững nhằm phát triển du
lịch ở Vịnh Nha Trang - Khánh Hòa.
3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
• Tìm hiểu các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và thực trạng du lịch ở Vịnh Nha
Trang.
• Tìm hiểu mối quan hệ giữa phát triển du lịch và các vấn đề tài nguyên thiên nhiên
môi trường giữa các bên liên quan.
• Công tác quản lý tài nguyên – môi trường tại Vịnh Nha Trang.
• Đề xuất các kiến nghị.
Chương 5 gồm kết luận và kiến nghị, hướng nghiên cứu trong tương lai để giải
quyết tốt hơn các vấn đề môi trường tại vịnh Nha Trang
5
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
Chương này sẽ mô tả về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Phần này chủ
yếu trình bày về các tài liệu nghiên cứu có liên quan và đặc điểm cụ thể ở địa bàn nghiên
cứu.
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi đã được trình bày ở trên, tài liệu nghiên cứu của đề tài
không giới hạn ở một lĩnh vực nhất định mà tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực khác
nhau. Bao gồm lĩnh vực về môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái biển - đảo), thị trường du
lịch và nhu cầu về các loại hình du lịch, các hội thảo chuyên đề về phát triển du lịch bền
vững. Ngoài ra, nhiều đề tài tốt nghiệp của các anh chị khoá trước, những công trình
nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài, các bài giảng của các thầy cô có liên quan là
những tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài.
2.2. Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa
2.2.1. Lịch sử hình thành
Trước khi trở thành một phần của Đại Việt, Khánh Hòa là một phần của Vương
quốc Chăm pa. Vào năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai quân vào tận Phan Rang đánh
chiếm đất. Vua Chăm là Bà Tấm đầu hàng và nhượng đất từ phía đông sông Phan Rang
đến Phú Yên cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn chấp nhận và đặt dinh Thái Khang và chia
khu vực thành hai phủ: Thái Khang và Diên Ninh.
Tên tỉnh Khánh Hòa được đặt vào năm 1832 thời Minh Mạng, chia thành 2 phủ và
4 huyện: Phủ Diên Khánh gồm các huyện Phước Điền và Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa
gồm các huyện Quảng Phước và Tân Định.
Trong thời Pháp thuộc sau triều Nguyễn, tỉnh lỵ được đóng tại thành Diên Khánh,
nhưng được chuyển đến thị xã Nha Trang vào năm 1945.
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ mới hợp nhất hai tỉnh Phú Yên và Khánh
Hòa vào ngày 29 tháng 10 năm 1975 thành tỉnh Phú Khánh. Vào năm 1977, thị xã Nha
như Đà Lạt và Sa Pa.
7
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường
8
2.2.4. Địa hình
Địa hình của tỉnh Khánh Hòa tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông với
những dạng địa hình núi, đồi, đồng bằng, ven biển và biển khơi. Phần phía Tây là sườn
đông dãy Trường Sơn, chủ yếu là núi thấp và đồi, độ dốc lớn và địa hình bị chia cắt mạnh.
Tiếp đến là dạng địa hình núi thấp, đồi thấp xen kẽ bình nguyên và thung lũng, thỉnh
thoảng có núi đá chạy ra sát biển chia cắt dải đồng bằng ven biển thành những vùng đồng
bằng nhỏ hẹp, với chiều dài 200km bờ biển khúc khuỷu có điều kiện thuận lợi để hình
thành các cảng nước sâu, nhiều vùng đất rộng thuận lợi để lập khu chế xuất và khu công
nghiệp tập trung. Có 8 cửa lạch, 10 đầm, vịnh, 2 bán đảo và trên 200 hòn đảo lớn nhỏ với
nhiều hình thù khác nhau. Đặc điểm địa hình Khánh Hòa đã tạo ra những cảnh quan
phong phú và đa dạng vừa mang tính đặc thù của mỗi tiểu vùng, vừa mang tính đan xen
và hòa nhập. Việc khai thác tài nguyên phải phù hợp với các dạng địa hình cảnh quan
nhằm đảm bảo tính bền vững và có hiệu quả.
2.2.5. Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 5.197,45km
2
, gồm các nhóm chính: đất cát và
cồn cát chiếm 2%, chủ yếu sử dụng cho khu dân cư, trồng cây ăn quả và đồng bằng ven
biển; đất phù sa chiếm 7,5%, giàu dinh dưỡng; đất mặn và phèn mặn chiếm 1,5%, thích
hợp cho trồng muối, nuôi trồng thủy sản; đất xám bạc màu chiếm 4,6%; đất đỏ vàng và
các loại đất khác chiếm 84,4%, hiện đang được sử dụng để trồng hoa màu và cây công
nghiệp, có khả năng khai hoang mở rộng diện tích nông – lâm nghiệp.
Đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp của Khánh Hòa rất hạn chế, chỉ có
74,9%, chiếm 14,2% diện tích đất tự nhiên, trong đó đã khai thác và đưa vào sử dụng 67,7
nghìn ha, còn lại 7,2 nghìn ha có khả năng khai hoang để đưa vào sử dụng. Các vùng đất
2.2.8. Tài nguyên biển
Tổng trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa khoảng 150 nghìn tấn, trong
đó chủ yếu là cá nổi (70%), cho phép khai thác hàng năm khoảng 70 nghìn tấn. Nguồn lợi
biển phân bố không đều, tập trung phần lớn ở ngư trường ngoài khơi và ngư trường ngoài
tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Vịnh Thái Lan. Mặt khác, khai thác ngư trường quanh
quần đảo Trường Sa góp phần phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an ninh - quốc phòng.
Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập
trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp. Biển Khánh Hòa còn là nơi
cư trú của loài chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000kg yến sào. Đây là
một đặc sản quý hiếm ít tỉnh trong cả nước có, không chỉ đóng góp trực tiếp cho xuất
10
khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao
cấp.
Dọc bờ biển Khánh Hòa có rất nhiều bãi tắm đẹp như bãi biển Nha Trang nằm
ngay trung tâm thành phố, có chiều dài 5km; bãi Tiên nằm về phía Bắc thành phố; Dốc
Lết thuộc huyện Ninh Hòa có chiều dài 4km; Đại Lãnh (Vạn Ninh) có chiều dài 2km.
Ngoài ra, dọc bờ biển còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có khả năng tổ chức du lịch, săn
bắn dưới nước, vui chơi giải trí trên các đảo. Đặc biệt, đảo Hòn Tre là đảo lớn, quanh đảo
có nhiều bãi tắm san hô rất đẹp như Bãi Trũ, Bãi Tre, Bích Đầm… Với cảnh quan thiên
nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu lý tưởng cho mùa du lịch kéo dài
gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá như: Tháp Bà, thành Diên Khánh, biệt
thự Bảo Đại, mộ Yersin… Khánh Hòa đã trở thành một trong mười trung tâm du lịch lớn
của cả nước, rất hấp dẫn lôi cuốn khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là với hình
thức du lịch biển.
2.2.9. Kinh tế
Có thể nói ngành mũi nhọn của tỉnh là du lịch và dịch vụ. Với hàng loạt danh lam
thắng cảnh mà thiên nhiên ban tặng, Khánh Hòa phát triển khá mạnh về du lịch và kéo
theo hàng loạt dịch vụ.
Khánh Hòa nổi tiếng về cảnh đẹp thiên nhiên. Năm 2003, Nha Trang được thế giới
công nhận là một trong 29 Vịnh gia nhập câu lạc bộ những Vịnh đẹp nhất thế giới. Bên
Tỉnh Khánh Hòa có 1 trường đại học chính quy là Đại học Nha Trang (trước đây là
Đại học Thủy sản Nha Trang, đổi tên vào ngày 25/7/2006, theo Quyết định số
172/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ), là một trường đại học đa ngành, đa cấp
học với chuyên ngành thủy sản truyền thống là mũi nhọn và thế mạnh.
Ngoài ra còn có thể kể các đại học quân sự lớn như Học viện Hải quân, trường Sỹ
quan không quân…
Các trường Cao Đẳng: Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, Cao đẳng Văn hoá Nghệ
thuật Du lịch, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Mẫu giáo Trung ương 2.
12
2.2.11.Đặc sản
Yến sào, một món ăn chế biến từ tổ chim yến.
Trầm hương, một loại hương liệu dược liệu quý hiếm từ cây Bó Dầu.
Ngoài ra, cùng với tỉnh bạn Phú Yên, Khánh Hòa là tỉnh có số lượng lồng nuôi tôm
hùm lớn nhất nhì Việt Nam.
Ngoài những đặc sản trên Khánh Hòa còn nổi tiếng với món Nem – Nem Ninh
Hòa.
2.3. Tổng quan về Vịnh Nha Trang
Như đã giới thiệu, Khánh Hòa có 4 Vịnh là: Nha Trang, Cam Ranh, Nha Phu, Vân
Phong và hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, Vịnh Nha Trang được công nhận là thành
viên Câu lạc bộ các Vịnh đẹp nhất thế giới. Trong đề tài này nghiên cứu hệ thống biển
đảo đã được khai thác phát triển du lịch ở Vịnh Nha Trang, bao gồm bãi biển Nha Trang,
Hòn Tằm, Hòn Tre, Hòn Mun, Hòn Miếu và Hòn Một (đảo này chỉ có dân cư địa phương
sinh sống, không có các hoạt động du lịch, nhưng xin đưa vào để có cái nhìn khái quát
hơn). Riêng Hòn Cau và Hòn Vung là hai đảo nằm cách khá xa, chưa có thông tin nào về
việc phát triển du lịch ở đây, đồng thời hai đảo này cũng nằm trong khu vực bảo vệ của
Ban Quản lý KBTB Vịnh Nha Trang.
Vịnh Nha Trang được Câu lạc bộ các Vịnh đẹp nhất trên thế giới xếp hạng và
chính thức công nhận vào tháng 7/2003. Cùng với Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang là
Vịnh thứ hai của Việt Nam được xếp vào hàng danh dự này. Vịnh Nha Trang cùng với bãi
biển chạy dọc theo trung tâm thành phố, xa xa ngoài khơi những hòn đảo phơi mình giữa