Khóa luận tốt nghiệp khai thác tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia núi chúa, tỉnh ninh thuận - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI VƯỜN
QUỐC GIA NÚI CHÚA - TỈNH NINH THUẬN
NGUYỄN ĐÌNH NGỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí MinhTháng
Tháng 7/2008
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Khai Thác Tiềm Năng
Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, Tỉnh Ninh Thuận”, Nguyễn
Đình Ngọc, sinh viên khóa 30, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ
thành công trước hội đồng vào ngày__________________.
Đặng Minh Phương
Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo

Ngày tháng năm Ngày tháng năm
LỜI CẢM TẠ
Thấm thoát bốn năm ngồi trên giảng đường đại học đã sắp kết thúc, những gì
tôi đạt được trong thời gian qua là sự động viên và giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn
bè, tất cả tôi xin ghi mãi trong lòng.
Đầu tiên tôi xin gởi sự biết ơn sâu sắc của mình đối với người dưỡng dục tôi đạt
được ngày hôm nay là Ba, Mẹ và những người thân trong gia đình đã nâng đỡ con trên
con đường Đại Học và là nguồn động lực rất lớn để con phấn đấu trong học tập.
Xin gởi lời cảm ơn đến thầy Đặng Minh Phương, người đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi, cho tôi những ý kiến qúy báu để có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên
cứu. Tôi cũng xin cảm ơn đến toàn thể qúy thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành

tế xã hội từ hoạt động du lịch mang lại, từ đó đề xuất một số giải pháp, mục tiêu,
chương trình nhằm góp phần giúp hoạt động du lịch sinh thái thật sự có hiệu quả và là
công cụ sắc bén, tích cực phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và ngành
du lịch nói riêng của tỉnh Ninh Thuận.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHỤ LỤC vii
CHƯƠNG I viii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
1.1. Sự cần thiết của đề tài viii
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHỤ LỤC vii
CHƯƠNG I viii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
1.1. Sự cần thiết của đề tài viii
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHỤ LỤC vii
CHƯƠNG I viii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
1.1. Sự cần thiết của đề tài viii
vi
PHỤ LỤC
Phụ Luc 1. Phiếu Phỏng Vấn Du Khách
Phụ Lục 2. Quảng Bá Hình Ảnh Vườn Quốc Gia Núi Chúa.
vii
CHƯƠNG I

lương thực vẫn còn phổ biến gây ảnh hưởng rất lớn cảnh quan và HST của VQG Núi
Chúa.
Mặc dù có tiềm năng lớn như vậy, nhưng DLST ở tại đây đang ở giai đoạn bắt
đầu phát triển và chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Một trong những nguyên
nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển DLST tại Núi Chúa là sự thiếu sự phối kết hợp
giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong việc xây dựng chính sách phát triển và quy
hoạch DLST. Du lịch là ngành liên quan tới nhiều lĩnh vực, vì vậy cần có sự kết hợp
giữa các bên liên quan thì mới có thể phát triển được. Hiện tại, các hoạt động du lịch
tại đây còn mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có sự
đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển công nghệ phục vụ DLST.
Phát triển DLST là một giải pháp rất hợp lý vừa giúp nâng cao đời sống của
người dân, vừa góp phần bảo tồn tại nguyên thiên nhiên tại VQG Núi Chúa. Nhưng
vấn đề đặt ra là phải tìm ra những chính sách vừa phát triển, vừa bảo tồn, không tạo ra
những ảnh hưởng xấu cho cảnh quan môi trường mà vẫn cải thiện cho cuộc sống của
người dân nơi đây.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Kinh tế
trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cùng với sự hướng dẫn của thầy Đặng
Minh Phương, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Khai Thác Tiềm Năng Du
Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, Tỉnh Ninh Thuận”, như một giải
pháp phù hợp để vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan
tại khu vực nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích hiện trạng khu bảo tồn về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và sự
kiện đa dạng sinh học tại VQG Núi Chúa.
- Phân tích và xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái đã và đang có tại VQG
Núi Chúa.
- Đề xuất các chính sách nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái
và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Núi Chúa.
ix
- Dự báo những hiệu quả về kinh tế xã hội mà các chính sách từ bài nghiên cứu

CHƯƠNG II
TỔNG QUAN
2.1. Giới thiệu tổng quan về tỉnh Ninh Thuận Ninh Thuận
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Ninh Thuận là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Phía Bắc giáp
tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và
phía Đông giáp biển Đông. Phần đất liền Ninh Thuận nằm trong giới hạn 11
0
18’ -
11
0
10’ vĩ độ Bắc và 108
0
39’ - 109
0
14’ kinh độ Đông.
Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển. Giữa tỉnh và ven
biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền viễn tây của Việt Nam.
Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 14,4%
và đồng bằng là 22,4%.
Với vị trí địa lý và những đặc điểm tự nhiên nêu trên đã tạo cho Ninh Thuận có
một tiềm năng rất lớn về du lịch đặc biệt là DLST. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho
Ninh Thuận giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tiếp thu
và ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ với các tỉnh Đông Nam Bộ,
bán Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Đồng thời cũng đặt Ninh Thuận trước sự
thách thức phải đẩy mạnh phát triển kinh tế cũng như tránh nguy cơ tụt hậu so với các
tỉnh trong vùng Nam Trung Bộ và cả nước.
b. Đặc điểm địa hình
Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Lãnh thổ Ninh Thuận được

a. Tài nguyên rừng
Tỉnh Ninh Thuận có 157.300 ha bao gồm rừng tự nhiên 152.300 ha, rừng trồng
5.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng 46,8%.
Do nhiều năm khai thác gỗ với khối lượng lớn phục vụ cho nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội trong và ngoài tỉnh nên đã làm kiệt quệ tài nguyên rừng, làm giảm diện
tích rừng già và trung bình làm tăng rừng nghèo và rừng non. Diện tích rừng giàu có
7.000 ha chiếm 4,65% và diện tích rừng trung bình có 20,000 ha chiếm 13,2%, trữ
lượng gỗ toàn tỉnh còn gần 11 triệu m
3
và 2,5 triệu cây tre nứa, rừng sản xuất có 58,5
nghìn ha trữ lượng 4,5 triệu m
3
gỗ, rừng phòng hộ đầu nguồn 98,9 nghìn ha trữ lượng
gỗ 5,5 triệu m
3
.
xii
Ngoài ra Ninh Thuận còn có các khu rừng đặc dụng khác như rừng nguyên sinh
đèo Ngoạn Mục, rừng nguyên sinh Phước Bình (Bác Ái) cần được bảo vệ.
b. Tài nguyên đất
Tài nguyên đất tỉnh Ninh Thuận không nhiều, phần lớn là đất đồi núi, độ dốc
cao, tầng đất mỏng, đá lẫn và lộ đầu ít đến nhiều. Tổng diện tích đất có khả năng nông
nghiệp toàn tỉnh khoảng 101,8 nghìn ha đất canh tác, hiện đã sử dụng 60,4 nghìn ha.
Tiềm năng đất nông nghiệp có khả năng mở rộng thêm khoảng 46 nghìn ha, trong đó
từ diện tích đất chưa sử dụng có khả năng nông nghiệp khoảng 25 nghìn ha, từ đất còn
rừng thưa, rừng non phục hồi sau nương rẫy 21 nghìn ha.
Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có 9 nhóm với 75 loại đất: Nhóm đất cát, nhóm
đất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất mới biến đổi, nhóm đất xám vùng
bán khô hạn, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá.
c. Tài nguyên nước

Cà Ná, Bình Tiên, Vĩnh Hy, Mũi Dinh, gắn với các công trình văn hóa Chăm nổi tiếng
và nhiều cảnh quan tạo thế liên hoàn cho khả năng phát triển ngành du lịch - dịch vụ.
e. Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản ở Ninh Thuận tương đối phong phú về chủng loại gồm:
- Nhóm khoáng sản kim loại có Wolfram ở Krông pha, núi Đất,
molipden, núi Đất (4.000 tấn), thiếc gốc ở núi Đất (24.000 tấn).
- Nhóm khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể ở núi Chà Bang,
Mộ Tháp 1, Mộ Tháp 2; cát thủy tinh ở Thành Tín, sét gốm ở Vĩnh Thuận,v.v.
- Muối khoáng: thạch anh ở Cà Ná, Đầm Vua, sô đa ở đèo Cậu,v.v.
- Nguyên liện sản xuất vật liệu xây dựng có đá Granitte trữ lượng trên
850 triệu m
3
, cát kết vôi ở Sơn Hải, Cà Ná, Mỹ Tường trữ lượng khoảng 1,5 triệu m
3
;
đá vôi san hô tập trung ở Mỹ Tường, Thái An, Cà Ná - trữ lượng 2,5 triệu tấn CaO; sét
phụ gia, đá xây dựng.
2.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội
a. Cơ cấu kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh có nhiều ngành: Nông - lâm – ngư nghiệp, thủy
hải sản, công nghiệp sản xuất muối, du lịch,v.v. Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng 18
nghìn km
2
, là một trong những ngư trường quan trọng của Việt Nam với 500 loài hải
sản, cho phép khai thác mỗi năm 5 - 6 vạn tấn.
Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130
nghìn tấn/năm, với các nhà máy sản xuất lớn như: Cà Ná, Phương Cự, ngoài ra với
diện tích rừng lớn lâm nghiệp cũng được coi là thế mạnh nhưng khai thác chưa hiệu
quả.
Tổng quỹ đất lâm nghiệp của tỉnh có khoảng 200 nghìn ha, đến năm 2000 đã sử

dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và
điêu khắc.
Dân số năm 2001 ước tính khoảng 531,7 nghìn người với mật độ dân số 158,2
người/km
2
.Trên địa bàn Ninh Thuận có 28 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh,
người Chăm và người RagLay. Ninh Thuận là tỉnh có nhiều người Chăm và người
Raglay sinh sống. Theo tài liệu điều tra dân số 1/4/1999, Ninh Thuận có 57,1 nghìn
xv
người Chăm, chiếm trên 11,3% dân số toàn tỉnh và chiếm 43,05% tổng số người Chăm
của cả nước; 47,6 nghìn người RagLay, chiếm 4,9% và 49,1%.
Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập
quán của chế độ mẫu hệ. Ninh Thuận có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm
xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hòa Lai xây dựng thế kỷ thứ
9, cụm tháp Poklong Gaira xây dựng thể kỷ 13 và cụm tháp Pôrêmê xây dựng thế kỷ
XVII.
2.2. Giới thiệu Vườn quốc gia Núi Chúa
2.2.1. Quá trình hình thành Vườn quốc gia Núi Chúa
Núi Chúa là khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định 194/CT ngày 09/08/1986
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, với tên gọi Rừng Khô Phan Rang có diện tích 1.000
ha. Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc huyện An Phước (nay là Ninh Phước). Tuy nhiên,
rừng của khu Rừng Khô Phan Rang đã bị phá hủy nghiêm trọng trong những năm giữa
thập kỷ 90. Do vậy, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận đã lựa chọn một vùng ven biển ở
phía bắc có hệ sinh thái rừng khô hạn, với trung tâm là Núi Chúa để thiết lập một khu
bảo tồn thay thế (Lê Trọng Trải pers. comm.).
Trong năm 1997, Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu
tư và đổi tên thành Khu Bảo tồn thiên nhiên Rừng khô hạn Núi Chúa (Anon. 1997).
Dự án đầu tư này đã được Bộ NN&PTNT phê chuẩn ngày 12/01/1998 theo Quyết định
số 243/BNN-PTLN và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận phê chuẩn ngày 01/04/1998
theo Quyết định số 659/QĐ-UBND. Cũng trong tháng 4/1998, UBND tỉnh đã thành

- Khu vực Núi Chúa là một khối núi khá liền lạc, nhìn từ ảnh vệ tinh thì Núi
Chúa có hình dạng như một con rùa có đầu quay về phía Nam, đuôi là phần nhô ra của
mũi Xốp thò vào vịnh cam Ranh như đang từ biển bò lên đất liền. Khối núi này có
nhiều đỉnh ở các độ cao khác nhau, mà đỉnh cao nhất là đỉnh núi Cô Tuy có độ cao
1.039 m.
- Địa hình thấp dần từ trung tâm ra, phần phía bắc và tây có độ dốc lớn hơn phía
nam và phía đông. Phía tây và tây nam địa hình bị chia cắt do có các khối núi nhỏ tạo
thành các thung lũng sườn núi theo hướng đông bắc - tây nam, còn phía bắc, đông và
đông nam địa hình ít bị chia cắt, thấp dần từ đỉnh núi ra biển.
- Địa hình có độ cao dưới 300 m: phân bố phía đông và nam và các khu vực ở
phía bắc giáp biển, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc dưới 200.
- Địa hình có độ cao từ 300 – 700 m: phân bố phía tây và tây nam, địa hình bị
chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng và sườn vách dốc trên 200, cho đến 350.
- Địa hình có độ cao trên 700 m: phân bố phần trung tâm, có nhiều đỉnh núi ở các
độ cao khác nhau, bị ngăn cắt bởi các thung lũng, có độ dốc từ 200 đến 400.
d. Địa chất thổ nhưỡng
VQG Núi Chúa nằm trong miền Trường Sơn Nam thuộc địa đới Kontum, có
tuổi địa chất cách đây hàng triệu năm, được cấu tạo chủ yếu trên nền địa chất vững
chắc của khối magma xâm nhập và phún xuất xen kẽ nhau với 3 loại đá mẹ đặc trưng
là: Andelit, đá Liparit (Riolit) và Granite chiếm chủ yếu ở khu vực này. Ở ven rìa khối
núi là trầm tích đệ tứ nguồn gốc biển và đầm lầy biển. Trên cơ sở nền đá mẹ này, quá
trình phong hoá hình thành đất có các loại đất chính như sau: đất bạc màu trên đá
Magma acid và cát, đất xám nâu vàng bán khô hạn, đất vàng đỏ trên đá mẹ magma
acid, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất cát, đất phù sa, đất mặn đầm lầy.
e. Thủy văn
Do địa hình hiểm trở, độ dốc cao 10 - 25
o
nên đã hình thành hệ thống suối trong
vùng với mật độ khe suối 0,7 km/km
2

vùng này bởi các vòng cung núi bao bọc phía bắc, tây và nam với hai luồng gió mùa
chính. Trong vùng khí hậu khô hạn này thì khu vực Phan Rang được coi là trung tâm
khô hạn nhất nước, với lượng mưa trung bình năm dưới 700 mm, có những năm dưới
500 mm.
Mùa mưa ở khu vực này đến muộn so với các vùng khác và kết thúc cũng sớm
hơn, bắt đầu khoảng tháng 9 - 10 và kết thúc khoảng tháng 12. Theo Luận chứng Khoa
học của VQG Núi Chúa, tính toán các chỉ số nhiệt và mưa hàng tháng thì khu vực này
có 9 tháng khô, 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt và được xếp vào loại khô hạn nhất ở Việt
Nam.
xix
2.2.3. Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên rừng
VQG Núi Chúa có tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng với diện tích rừng
khô hạn rộng lớn đặc trưng và độc đáo của Việt Nam, diện tích rừng thường xanh cây
lá rộng xen kẽ cây lá kim đặc trưng của vùng khí hậu á nhiệt đới ẩm còn mang tính
chất nguyên sinh.
Hệ thực vật rừng: Theo kết quả điều tra năm 2001 - 2002, hệ thực vật rừng ở
VQG Núi Chúa khá phong phú đa dạng và mang tính khô hạn rõ rệt với các kiểu rừng
chính sau:
1) Kiểu thực vật trên cát biển.
2) Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới.
3) Kiểu chuông gai hạn nhiệt đới.
4) Kiểu trảng cây to cây bụi cỏ cao khô nhiệt đới.
5) Kiểu rú kín lá cứng hơi khô nhiệt đới.
6) Kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp.
Qua điều tra đã ghi nhận được 1.265 loài thực vật bậc cao có mặt trên cạn nằm
trong 85 bộ, 147 họ và 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (Việt Nam có 8
ngành thực vật bậc cao có mặt hiện hữu thì ở VQG núi chúa có tới 7 ngành, chiếm tới
87%, chỉ thiếu ngành cỏ Tháp Bút) bao gồm:
Những loài thực vật đã được ghi nhận có những giá trị khác nhau:

trên các triền núi như Chúa Anh, Chúa Em, Đá Vách. Nơi đây tập trung nhiều loài thú
nhất (khoảng 51 loài, chiếm 82,25% tổng loài thú trong Vườn). Đặc trưng là Cu li nhỏ,
Chà vá chân đen, Báo Gấm, Sơn Dương, v.v. Bên cạnh đó có, có khoảng 97 loài chim,
chủ yếu là các loài thuộc họ Chèo Bẻo, Quạ, Khướu, Cu Cu và một số loài quý hiếm
đang bị đe dọa như Khách đuôi cờ, Niệc nâu, v.v. Ngoài ra, sinh cảnh này còn có
khoảng 36 loài bò sát, ếch nhái đặc trưng là: Rồng đất, Kì đà vân, Rắn lục xanh, Trăn
đất, các loài họ Rùa đầm.
- Sinh thái rừng khô hạn và trảng cỏ: Các khu vực khô hạn và trảng cỏ thường
tiếp giáp với rừng thường xanh. Do vậy coi thể coi đây là khu vực vành đai nối liền
rừng thường xanh với sinh cảnh bãi cát ven biển. Có 38 loài thú, chủ yếu là Cheo cheo
Nam Dương (Trangulus javanicus), Mèo rừng (Felis bengalensis), Sóc chuột lửa
(Tamiops Rodophei), Thỉ rừng (Lepus nigricollis),v.v. Đây là nơi sinh sống và kiếm ăn
của nhiều loài chim nhất: 115 loài (chiếm 63.54% số loài). Đặc biệt là Công, Trĩ sao,
Gà tiền mặt đỏ, chỉ phân bố ở sinh cảnh này. Ngoài ra còn 9 loài bò sát, ếch, nhái, chủ
xxi
yếu là các loài Thằn lằn bóng đốm (Mabuya macularia), Nhông xanh (Calostes
vesicolor), Nhông xám (Calos Mystaceus), Rắn leo cây (Dendrelaphis pictus).
- Sinh cảnh ven biển và khu dân cư: Sinh cảnh này đặc trưng bởi các bãi cát ven
biển và khu vực canh tác nông nghiệp xung quanh các thôn bản. Sinh cảnh này tập
trung nhiều loài thú nhỏ và một số loài thú kiếm ăn gần với khu dân cư gốm 30 loài
như Chuột, Sóc, Thỏ, v.v. Khoảng 98 loài chim gồm các loài Dẽ, Mòng Biển, Nhàn,
các loại Cò và 24 loài bò sát, ếch nhái. Đặc trưng nhất cho dạng sinh cảnh này là
nhóm Rùa biển: Rùa da (Dermochelys coriacea), Vích (Chelonia mydas), Đồi mồi
(Eretmochelys imbricata) và Quảng đồng (lepidochelys olivacea). Ngoài ra còn có các
loài Nhông cát (Leiolepis spp.), Rắn cát (psamdomophis condanarus), Rắn nước
(Xenochrophis oiscator),v.v.
b. Tài nguyên biển
Nằm trong giới hạn từ Mũi Đá vách phía bắc cửa đẩm Vĩnh Hy kéo dài đến
Hòn Chông, chiều dài đường bờ khoảng 24,5 km và nơi có chiều rộng nhất là 4,5 km -
là nơi phân bố của nhiều loài sinh vật biển với thành phần như sau:

dân tộc Raglay có số hộ ít nhất nhưng lại phân bố vào sâu trong vườn (thôn Cầu Gẫy
và thôn Đá Hang xã Vĩnh Hải).
Ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp nhưng do đất đai khô cằn, chưa chủ
động được nguồn nước tưới tiêu nên hàng năm lương thực sản xuất ra không đủ tự
cấp, tự túc. Tình trạng dựa vào rừng để săn bắn chim thú, đốt than, phát rừng làm rẫy,
trồng hoa màu, cây ăn quả đổi lấy lương thực vẫn còn phổ biến. Vì vậy diện đói nghèo
ở đây còn rộng, chủ yếu vào các hộ thuần nông và đồng bào dân tộc Raglay. Đặc biệt
ở 2 xã Lợi Hải, Công Hải tỷ lệ hộ đói và nghèo chiếm trên 30%. Nguyên nhân do diện
tích đất canh tác nông nghiệp ruộng 02 vụ ít và lại chưa có trình độ thâm canh, mặt
khác do phong tục tập quán hủ lậu còn nặng nề. Đến nay tuy đã khắc phục được phần
nào nhưng vẫn chưa triệt để.
Nghề chăn nuôi: Chủ yếu là bò, dê, cừu theo tập quán thả rong. Do đó có
những tác động xấu không chỉ với hoa màu, cây lương thực mà còn đối với cả rừng
trồng.
Ngành nghề khác: Đánh bắt hải sản và làm muối. Các hộ dân sống bằng nghề
này có mức sống cao hơn so với nghề nông thuần túy. Tuy nhiên, số lao động đầu tư
cho lĩnh vực này chiếm tỉ trọng thấp (7%). Một bộ phận hộ dân tiểu thương buôn bán
nhỏ và làm dịch vụ vẫn là hộ luôn có thu nhập cao và khá ổn định.
xxiii
Văn hóa, giáo dục: Các xã đều có trường mẫu giáo và tiểu học, riêng phổ
thông cơ sở và trung học tập trung ở hai xã Nhơn Hải và Khánh Hải nằm ngoài vùng
quy hoạch.
Số người mù chữ hiện nay vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao, đây là một thực trạng
rất cần được quan tâm đầu tư để nâng cao dân trí.
Do điều kiện kinh tế và sinh hoạt hết sức khó khăn ở vùng sâu và xa, tại nhiều
thôn người dân tộc Raglay còn thiếu giáo viên, đặc biệt là đối với hệ tiểu học, CSVC
của nhà trường bị xuống cấp và còn nhiều thiếu thốn. Mặc dù đã có sự cố gắng của
chính quyền địa phương song vẫn gặp không ít khó khăn.
Về y tế: Các xã đều có trạm xá (mỗi xã có từ 1 - 2 cơ sở), mỗi trạm xá có
khoảng 5 giường bệnh và 3 - 5 thầy thuốc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Nhìn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status