Luận văn thạc sĩ biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các hộ sản xuất kinh doanh nghề dệt lụa phường vạn phúc quận hà đông thành phố hà nội - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI


 NGUYỄN THỊ LOAN BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
CÁC HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH NGHỀ DỆT LỤA
PHƯỜNG VẠN PHÚC – QUẬN HÀ ðÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
M· sè : 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. KIM THỊ DUNG HÀ NỘI – 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
iLỜI CAM ðOAN


nghiệp, gia ñình và bạn bè ñã giúp ñỡ, ñộng viên, khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Loan
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
iiiMỤC LỤC

LỜI CAM ðOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC ðỒ THỊ viii

DANH MỤC BẢN ðỒ viii


3.1.3. ðiều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.4. Tình hình phát triển kinh tế của phường Vạn Phúc 41
3.1.5. Khái quát sự phát triển của làng nghề dệt lụa Vạn Phúc 47
3.2. Phương pháp nghiên cứu 59
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 59
3.2.2. Phương pháp phân tích số liệu 62
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 63
4.1. ðặc ñiểm sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
lụa ở Vạn Phúc 63
4.1.1. ðặc ñiểm ñầu vào của các hộ sản xuất kinh doanh dệt lụa ở Vạn Phúc 63
4.1.2. ðặc ñiểm ñầu ra trong sản xuất kinh doanh của các hộ dệt lụa ở Vạn
Phúc 67
4.2. Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình và nguyên
nhân 75
4.2.1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
lụa 75
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia
ñình dệt lụa ở Vạn Phúc 79
4.2.1. Nhận xét chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình
dệt lụa Vạn Phúc 79
4.2.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng ñến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các hộ gia ñình ở Vạn Phúc 81
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
v4.2.3. Một số tồn tại trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hộ gia
ñình dệt lụa ở Vạn Phúc 86
4.3. BiÖn ph¸p nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lụa của các hộ s¶n xuÊt
kinh doanh nghÒ dÖt lôa ở ph−êng Vạn Phúc 87

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1. Mười nước sản xuất lụa lớn nhất thế giới năm 2005 26
3.1. Tình hình sử dụng ñất ñai ở phường Vạn Phúc năm 2010 38
3.2. Cơ cấu dân số và lao ñộng ở phường Vạn Phúc năm 2009 40
3.3. Tốc ñộ tăng trưởng GDP phường Vạn Phúc năm 2005-2009 41
3.4. Cơ cấu kinh tế phường Vạn Phúc năm 2009 42
3.5. Phân bổ các hộ theo ngành nghề của phường Vạn Phúc năm 2005 43
3.6. Sản lượng lụa của phường Vạn Phúc 46
3.7. Số lượng hộ trong mẫu ñiều tra 61
4.1. Nhân khẩu, lao ñộng các hộ gia ñình sản xuất kinh doanh dệt lụa theo
mẫu ñiều tra 64
4.2. Các loại sản phẩm lụa hiện nay ở Vạn Phúc 68
4.3. Sản lượng bình quân và cơ cấu sản phẩm lụa s¶n xuÊt của các hộ gia ñình
Vạn Phúc 69
4.4. Sản lượng lụa bán bình quân vµ c¬ cÊu s¶n phÈm b¸n của các hộ gia ñình
ở Vạn Phúc năm 2009 71
4.5. Bảng giá một số mặt hàng lụa Vạn Phúc và lụa Bảo Lộc 72
4.6. Sè l−îng s¶n phÈm lôa ë c¸c thị trường năm 2009 73
4.7. Các kinh phí xây dựng ở các hộ gia ñình chuyên dệt lụa 75
4.8. Chi phí sản xuất b×nh qu©n trong năm của các hộ gia ñình kinh doanh lụa
Vạn Phúc 76
4.9. Doanh thu b×nh qu©n và thu nhập trung bình năm của các loại hộ sản xuất
kinh doanh lụa ở Vạn Phúc 77

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
viii


11. MỞ ðẦU

1.1. Tính cấp thiết của ñề tài nghiên cứu
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện ñại hoá nông nghiệp, nông
thôn, phát triển các làng nghề truyền thống là một trong những chính sách
quan trọng ñể giải quyết công ăn việc làm cho người lao ñộng, giữ gìn và phát
huy truyền thống văn hoá của dân tộc. Phát triển các làng nghề truyền thống
còn góp phần tạo ra bộ mặt ñô thị hoá mới cho nông thôn ñể nông dân thoát
khỏi tình cảnh di dân ra các ñô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
ðà Nẵng và ñược làm giàu ngay trên mảnh ñất của quê hương mình, ñồng
thời giúp cơ cấu kinh tế chuyển dịch một cách hiệu quả. Chính vì vậy, việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất trong làng nghề
truyền thống góp phần rất quan trọng trong việc duy trì, bảo tồn sự phát triển
bền vững của làng nghề.
Khi Hà Tây chưa sáp nhập về Hà Nội, cả tỉnh có tới 411 làng nghề
truyền thống, chiếm 20% tổng số làng nghề trong cả nước, giá trị sản xuất từ
các làng nghề mỗi năm ñem về cho Hà Tây khoảng 3000 tỷ ñồng. Tại Hà
ðông (nay thuộc quận Hà ðông, t
hành phố Hà Nội), làng nghề dệt lụa Vạn Phúc hiện có khoảng 1280 hộ
dân thì có ñến 90% sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt lụa tơ tằm, hàng
năm giải quyết công ăn việc làm cho khoảng trên 2700 người, giá trị sản xuất
kinh doanh của cả làng ñạt hơn 100 tỷ ñồng và sản lượng lụa ñạt hơn 2 triệu
mét/năm. Trong vài năm trở lại ñây, làng dệt lụa Vạn Phúc ñang có sự chuyển
ñổi rất mạnh mẽ từ ñơn thuần chỉ là ngành dệt thủ công truyền thống phục vụ
thị trường trong nước sang mở rộng cơ sở sản xuất, nâng cấp máy móc, cải
tiến mẫu mã sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu, kết hợp phát triển làng
nghề với thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Theo thống kê của Hiệp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
31.2. Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ gia
ñình sản xuất kinh doanh lụa phường Vạn Phúc - quận Hà ðông - thành phố
Hà Nội, từ ñó ñề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
cho các hộ.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan ñến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các hộ gia ñình làm nghề dệt lụa truyền thống.
- Phản ánh và phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các gia ñình dệt lụa làng Vạn Phúc trong những năm gần ñây.
- ðề xuất những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh cho các hộ gia ñình dệt lụa làng Vạn Phúc trong thời gian tới.
1.3. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. ðối tượng nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu chính của ñề tài là các hộ gia ñình sản xuất kinh
doanh lụa ở làng Vạn Phúc - quận Hà ðông – thành phố Hà Nội.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Về không gian
§Ò tµi tập trung nghiên cứu trên ñịa bàn ph−êng Vạn Phúc - quận Hà
ðông - thành phố Hà Nội.
1.3.2.2. Về thời gian nghiên cứu
Luận văn ñược thực hiện trong năm 2010, do ñó số liệu phản ánh trong
luận văn sẽ chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian từ năm 2000 ñến năm

(silk road). Do có cấu trúc dạng lăng kính tam giác, lụa phản chiếu ánh sáng
chiếu vào nó với nhiều góc ñộ khác nhau tạo nên một vẻ óng ả ñặc trưng
1
.
Lụa có rất nhiều dạng khác nhau. Tại Việt Nam, nghề dệt bằng tơ lụa
ñã có từ lâu nên trong tiếng Việt có sự phân biệt rất rõ ràng giữa các hàng dệt
bằng tơ, cụ thể là:
+ Hàng dệt bằng tơ kém chất lượng vì tơ sần hoặc nổi cục thì gọi là sồi
(chồi), ñũi và nái. Hàng này thô nhưng bền.
+ Lĩnh hay lãnh là lụa dệt dày rồi ñem phết hồ.
+ ðoạn giống như lĩnh nhưng dày hơn.
+ The còn gọi là sa, là hàng dệt dùng sợi mỏng và dệt thưa, có thể nhìn
qua ñược.
+ Xuyến là hàng dệt giống như the nhưng chia ra vài sợi thưa, rồi lại
sợi mau.

1
Theo Wikipedia, lụa
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
6+ Gấm là hàng dệt dày, có nhiều màu sắc, hoa văn tạo nên gấm các
loại như gấm lam, gấm hồng cánh chấu, gấm ñỏ, gấm vàng. Hoa trên gấm
thường có màu tươi, rực rỡ, ñựơc dệt cài nổi, tự như thêu chỉ các màu rất khéo
léo trên nền sa tanh. Một tấm gấm thường có nhiều màu, thường là có 5-7
màu nen thường gọi lag gấm ngũ hay gấm thất thể. Gấm là một mặt hàng quý,
khó tìm nhất trong tất cả các mặt hàng tơ lụa. Người thợ dệt gấm phải ñạt ñến
tay nghề rất cao, kỹ thuật ñiêu luyện, tinh xảo và có óc thẩm mỹ. Từ xa xưa
ñến nay có rất ít nghệ nhân có thể dệt ñược gấm. Theo như truyền tụng cua

phẩm theo kiểu phường hội, có cùng tổ nghề, các thành viên luôn ý thức tuân
thủ những quy tắc của gia tộc và phường hội. Trong nghề dệt lụa, có sự liên
kết hỗ trợ nhau về kỹ thuật, ñào tạo thợ trẻ giữa các gia ñình cùng dòng tộc,
cùng phường hội và làng nghề thường ñược hình thành ngay trong cùng ñơn
vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ.
Nghề dệt lụa thường gắn với chiếc khung cửi. Qua thời gian, chiếc
khung cửi ñã ñược cải tiến và ngày càng mang tính hiện ñại. Ngày xưa, khung
cửi ñược làm hết sức ñơn giản. Người thợ dệt ngồi vào khung cửi không
ngừng ray ñưa, chân dận và khung cửi thời ñó chỉ có thể dệt ñược lụa với khổ
vải 40 cm. Khung cửi thời xưa thường ñược gọi là khung cửi “con cò”. Sau
này, các khung cửi “con cò” ñược thay thế bằng khung dệt “tay cày”, trong ñó
người thợ dệt không cần phải liên tục dùng lao thoi kết hợp với chân dận ñạp
máy như trước ñây, mà chỉ việc ñưa chân và tay bẩy cái tay cày, tay cày
chuyển lực ñến bộ phận mở go là lao thoi tự ñộng. Việc chuyển từ khung cửi
cổ truyền sang khung dệt tay cày là một bước chuyển biến quan trọng của
nghề dệt lụa trong những năm ñầu thế kỷ XX. Những máy dệt tay cày này có
thể giúp người thợ dệt ñược những mảnh lụa có khổ rộng từ 0,8 m ñến 1,2 m.
Ngày nay ở Vạn Phúc, chỉ còn 1 vài hộ gia ñình còn lưu giữ những khung cửi
cổ truyền, còn lại là những máy dệt hiện ñại, tự ñộng. Các công ñoạn thay thoi
hay xuốt cũng ñược tự ñộng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
8Nghề dệt lụa ñược chia làm 4 công ñoạn chính: guồng, hồ, dệt và
nhuộm. Ở công ñoạn guồng, con tơ ñược quay thành sợi (Phạm Văn Vượng,
2001). Thiết bị ñể quay tơ gọi là xa quay. Trong nghề dệt lụa, quay tơ không
ñơn thuần là chỉ quấn sợi vào ống tơ thật ñều và liên tục như xe sợi, mà còn
ñòi hỏi phải chọn sợi, mắc sợi nhằm chọn ra sợi dọc và sợi ngang. Ở công
ñoạn hồ, sợi trước khi dệt phải quan khâu hồ. Hồ sợi ñược coi như là một kỹ

a. Hộ gia ñình
Trong một số từ ñiển ngôn ngữ học cũng như trong một số từ ñiển
chuyên ngành kinh tế, người ta ñưa ra định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ là tất
cả những người cùng sống chung một mái nhà. Nhóm người ñó bao gồm
những người có chung huyết tộc và những người làm ăn chung”. Thống kê
Liên hợp quốc cũng có khái niệm về hộ: “Hộ gồm những người sống chung
dưới một mái nhà, cùng ăn chung, làm chung và có cùng chung một ngân quỹ”.
Giáo sư Mc.Lee (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho
rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng
chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm”.
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng “Hộ là một hệ thống các
nguồn lực tạo thành một nhóm các chế ñộ kinh tế riêng nhưng lại có mối
quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.
Nhóm “hệ thống thế giới” (các ñại biểu Wallertan (1982), Wood (1981,
1982), Smith (1985), Martin và Bell Hel (1987) cho rằng “Hộ là một nhóm
người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ
là một ñơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.
Giáo sư Frank Ellis (Đại học tổng hợp Cambride, 1988) ñưa ra một số
ñịnh nghĩa về nông dân, nông hộ. Theo ông, các dặc ñiểm ñặc trưng của ñơn
vị kinh tế mà chúng phân biệt gia ñình nông dân với những người làm kinh tế
khác trong nền kinh tế thị trường là:
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
10- ðất ñai: người nông dân với ruộng ñất chính là một yếu tố hơn hẳn
các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó. Nó là nguồn ñảm bảo lâu dài ñời
sống của gia ñình nông dân trước những thiên tai.
- Lao ñộng: Sự tín nhiệm ñối với lao ñộng của gia ñình là một ñặc tính
kinh tế nổi bật của người nông dân. Người lao ñộng gia ñình là cơ sở của các

nhiều hộ. Thông thường, gia ñình và hộ trùng tên nhau, tạo thành tên gọi “hộ
gia ñình”. Mỗi hộ gia ñình Việt Nam hiện nay ñều có chung sổ ñăng ký hộ
khẩu, trong ñó có chủ hộ và các quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ. Kinh
tế gia ñình là lọai hình kinh tế tương đối phổ biến và ñược phát triển ở nhiều
nước trên thế giới. Sự trường tồn của hình thức sản xuất này ñang tự chuyển
mình ñể trở thành một thành phần kinh tế của xã hội. Kinh tế hộ gia ñình có
vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với
gần 80% dân số sống ở nông thôn với xuất phát ñiểm thấp.
b. Hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
Với những ñịnh nghĩa về hộ, nông hộ, hộ gia ñình như trên, có thể
xem hộ gia ñình sản xuất kinh doanh là một cơ sở kinh tế có ñất ñai, các tư
liệu sản xuất thuộc về sở hữu của hộ gia ñình, sử dụng chủ yếu sức lao ñộng
của gia ñình và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ
yếu ñược ñặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng
hoạt ñộng với mức ñộ không hoàn hảo cao. Hộ gia ñình sản xuất kinh doanh
có những ñặc trưng kinh tế như sau:
- Là loại hình kinh tế trong ñó các thành viên làm việc một cách tự chủ,
tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân, gia ñình và xã hội. Các thành viên
chính trong hộ là những người có cùng quan hệ huyết tọc và hôn nhân, là chủ
thể ñích thực của hộ.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
12- Là ñơn vị kinh tế cơ sở, vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có sự thống nhất
giữa ñơn vị kinh tế và ñơn vị xã hội. Kinh tế hộ có khả năng tự ñiều chỉnh
nhanh mối quan hệ giữa sản xuất – trao ñổi – tiêu dùng, vì vậy tính thích nghi
của nó rất linh hoạt trong ñiều kiện và hoàn cảnh thay ñổi.
- Kinh tế hộ gia ñình là hình thức kinh tế rất phù hợp với ñặc ñiểm sản
xuất nông nghiệp, ñó là quy mô về ñất ñai, lao ñộng, ñối tượng lao ñộng luôn

tôi có thể ñưa ra khái niệm về hộ gia ñình kinh doanh nghề lụa như sau:
+ Hộ gia ñình kinh doanh nghề lụa là một cơ sở kinh tế có ñất ñai, có tư
liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia ñình, sử dụng chủ yếu sức lao ñộng của
gia ñình, phần lớn các gia ñình có kiêm thêm nghề nông, ñồng thời thuê thêm
thợ dệt.
+ Chủ hộ là người cai quản, quán xuyến mọi công việc trong nhà, ñống
thời là người ñi bán hàng, mua tơ và chi tiêu trong gia đình
+ Những người thợ học việc có thể là con cháu họ hàng trong gia ñình
do nhà không có khung cửi hoặc những người ở nơi khác đến. Thợ làm thuê
bao gồm từng nhóm từ 3 ñến 5 người, thường làm các công việc như thợ tơ,
thợ cửi, sau 1 -2 năm sẽ ñược chính thức học nghề dệt lụa.
+ Những hộ gia ñình vừa làm nghề dệt vừa làm nghề nông thì thời gian
chính ñược tập trung cho nghề dệt. Khi mùa màng ñến, toàn bộ công việc của
nghề nông ñều thuê thợ nông làm và chỉ cần một người trong gia ñình cai
quản nghề nông.
+ Hình thức sản xuất chủ yếu là các xưởng sản xuất gia ñình. Các hộ
gia ñình vừa là một ñơn vị sản xuất, vừa là một ñơn vị kinh tế, vừa là một
ñơn vị sinh hoạt. Gia ñình cũng là một ñơn vị tổ chức lao ñộng, trong ñó chủ
hộ (thường là người thợ giỏi nhất) nắm quyền quản lý, quyết ñịnh và ñiều
hành mọi công việc, từ phân công lao ñộng ñến ñầu vào, ñầu ra. Xưởng sản
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
14xuất gia ñình thuờng ñược ñặt tại nhà và chủ hộ có trách nhiệm dạy nghề cho
các lao ñộng trong hộ kinh doanh.
+ Vốn liếng của các xưởng sản xuất gia ñình thường nhỏ, thu hút ít
lao ñộng.
2.1.2. Vai trò của nghề sản xuất kinh doanh lụa
Ở các vùng nông thôn Việt Nam, ngoài nông nghiệp là ngành sản xuất

Những sản phẩm lụa ñạt tới trình ñộ kỹ thuật và nghệ thuật cao, nhất là
trong bố cục và tạo dáng hoa văn, ña dạng về màu sắc ñã thể hiện sự giao lưu
văn hoá mạnh mẽ trong ñời sống dân cư. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu
ñã coi hoa văn trên các sản phẩm dệt lụa là nguồn sử liệu quý nghiên cứu về
lịch sử tộc người và quan hệ giữa các tộc người. ðiều ñáng lưu ý là sự phong
phú về cấu tạo các loại công cụ dệt, các công ñoạn dệt, kỹ thuật dệt lụa, kinh
nghiệm dân gian về nhuộm màu, hồ sợi, phân bố màu sắc, tạo hoa văn trên
các sản phẩm ñã tạo ra những giá trị văn hoá dân gian phong phú, trở thành
niềm tự hào của mỗi dân tộc, làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc.
Thứ ba, nghề sản xuất kinh doanh lụa ñã góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế cho các vùng nông thôn Việt Nam.
Sự hình thành, mở rộng và phát triển các làng nghề dệt lụa có vai trò rất
quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, làm cho tỷ trọng của khu vực nông nghiệp
ngày càng thu hẹp, tăng dần tỷ trọng của khu vực tiểu thủ công nghiệp, công
nghệp và dịch vụ. Ngoài nghề nông là ngành nghề chi phối chủ ñoạ các hoạt
ñộng sản xuất kinh doanh của các vùng nông thôn, nghề dệt lụa có một vị trí
quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp ñi lên
tiểu thủ công nghiệp ở các xã nông thôn truyền thống. Nghề dệt lụa còn làm
thay ñổi tập quán từ sản xuất nhỏ, mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá, tiếp nhận các công nghệ mới có liên quan ñến nghề, hình thành các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các phường hội nghề. Nghề sản xuất kinh doanh lụa
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người, giữ gìn và phát huy
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
16truyền thống văn hoá, tạo ra bộ mặt ñô thị hoá mới cho nông thôn. ðối với
các làng nghề dệt lụa làm ăn có hiệu quả, nghề sản xuất kinh doanh lụa có tác
dụng giống như một ñầu tàu chính kéo toàn bộ cơ cấu nông nghiệp nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status