Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
MỤC LỤC
HVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam năm vừa qua tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng nhìn chung
chưa thoát khỏi giai đoạn trì trệ. Những dấu hiệu bất ổn vĩ mô được cải thiện so với các
năm trước; đặc biệt là nguy cơ lạm phát cao đã được ngăn chặn. Tốc độ tăng CPI từ hơn
18% năm 2011 đã kéo giảm còn 6,81% trong năm 2012; năm 2013 chỉ còn 6,04%. Đây là
kết quả nổi bật nhất trong mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Những khó khăn đặt ra trong
năm 2013 vẫn tiếp tục kéo dài trong năm 2014. Do đó thực hiện các chính sách vĩ mô
đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì yêu
cầu đặt ra là phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách vĩ mô trong đó phối hợp
chính sách tài khóa và chính sách tiền tề là mối quan tâm hang đầu của Chính phủ.
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quan trọng trong điều hành,
quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào, nhất là trong thời điểm nền kinh tế có
nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Để giải thích được tại sao phải phối hợp hai chính
sách trên, kinh tế vĩ mô đã sử dụng mô hình IS - LM để phân tích, lí giải. Đặc biệt với
tình hình Việt Nam trong giai đoạn gần đây với rất nhiều biến động thì việc nghiên cứu
mô hình IS - LM và các chính sách kinh tế vĩ mô càng trở nên cần thiết.
Nhận thấy tính cấp thiết trên, tôi lực chọn đề tài “Chính sách ổn định kinh tê vĩ
mô qua mô hình IS - LM”. Qua đề tài có thể hiểu thế nào mô hình IS - LM, qua đó tìm
hiểu về thực trạng phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ thời gian qua.
Trang 2
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
CHƯƠNG I: MÔ HÌNH IS – ML
1.1 Mô hình IS
1.1.1 Khái niệm
với
mức lãi suất i
2
I
2
AD
2
Y
2
ta có thể xác
định được điểm B (Y
2,
i
2
) là một tổ hợp giữa lãi
suất và thu nhập cân bằng mà ở đó thị trường
hàng hóa cân bằng
- Nối hai điểm A và B ta được một đường IS
1.1.3 Ý nghĩa của đường IS
* Những điểm nằm trên đường IS là những điểm cân bằng trên thị trường hàng hóa
* Ngược lại những điểm nằm ngoài đường IS đều là những điểm không cân bằng
trên thị trường hàng hóa
* Những điểm nằm phía trên bên phải đường IS như điểm K thì thị trường hàng
Trang 3
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
hóa dư thừa cho nên tồn kho ngoài dự kiến
* Những điểm nằm phía trong bê trái IS như điểm H thị trường Hàng hóa thiếu hụt
ngoài dự kiến.
1.1.4 Phương trình đường IS
Môn: Kinh tế Vĩ mô
1.1.5 Độ dốc đường IS
dmY
i
tga
1
=
∆
∆−
=
Độ dốc của đường IS phụ thuộc vào số
nhân chi tiêu (m, m’, m’’) và hệ số góc d
Nếu số nhân chi tiêu càng lớn thì hệ số
góc của đường IS càng nhỏ, đường IS càng
thoải và ngược lại.
Nếu đầu tư càng kém nhạy cảm với lãi
suất (d giảm) thì đường IS càng dốc và ngược lại.
Đường IS có độ dốc xuống do lãi suất cao hơn, tổng cầu sẽ suy giảm dẫn đến thu
nhập cũng suy giảm. Độ dốc của đường IS phụ thuộc vào độ nhạy cảm với lãi suất của
tổng cầu.Nếu những thay đổi trong lãi suất đưa đến dịch chuyển nhỏ của đường cầu,
mức thu nhập cân bằng ít thay đổi và đường IS sẽ rất dốc.
1.1.6 Sự dịch chuyển đường IS
Sự di chuyển dọc theo đường IS cho ta
thấy sự thay đổi của thu nhập do sự biến
động riêng của lãi suất làm dịch chuyển
đường tổng cầu.Ở mức lãi suất nhất
định,những nhân tố ngoài lãi suất có biến
động ( như chi tiêu Chính phủ…) và làm
Trang 5
tiền tệ cân bằng .
Trang 6
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
Khi thu nhập tăng Y
1
đến Y
2
đường cầu tiền dịch chuyển lên LP
2
với điểm cân bằng
E
2
có lãi suất cân bằng i
2.
Từ đó có thể xác định điểm B của tổ hợp (i
2,
Y
2
) . Đường đi qua
2 điểm A, B của đồ thị trên là đường LM.
Cũng có thể xây dựng đường LM bằng công thức:LP = k.Y - hi
Khi thu nhập tăng lên đòi hỏi một lượng cầu tiền tăng thêm, dẫn đến tăng lãi suất
do cung tiền không đổi.
Đường LM có độ dốc nghiêng đi lên bởi khi thu nhập tăng, lãi suất phải tăng
theo để giảm bớt cầu tiền nhằm duy trì sự cân bằng của thị trường tiền tệ khi cung tiền
không đổi.Khi cầu tiền nhạy cảm với thu nhập và kém nhạy nhạy cảm với lãi suất thì
Trang 8
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
thu nhập lớn hơn Y
1,
như vậy cầu tiền thấp hơn cung tiền đã có nên lãi suất phải giảm
xuống để tổng cầu và thu nhập tăng lên tới điểm với lãi suất i
1
thì cả 2 thị trường mới
cùng cân bằng.
1.4. Sự phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô trên mô hình IS-LM.
Nếu chính phủ sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô môt cách riêng rẽ, độc
lập thì sẽ gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.
1.4.1 Tác động của chính sách tài khóa
Trong nền kinh tế đóng, giả sử Chính phủ
sử dụng chính sách tài khóa mở rộng,
bằng việc tăng chi tiêu của Chính phủ
thêm một lượng là ∆G, khi đó tổng chi
tiêu của nền kinh tế tăng, tổng cầu tăng,
đường IS dịch chuyển sang phải từ IS đến
IS
1
do tổng cầu tăng, cầu tiền tăng, đẩy lãi
suất tăng lên từ i
0
đến i
1
. Lãi suất tăng là nguyên nhân làm giảm đầu tư (đây chính là hiện
tượng tháo lui đầu tư).
* EE
→E
2
khi đó Y
0
Trang 9
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
giảm xuống Y
2
, i
0
giảm xuống i
2
.Nhưng do i giảm→ I tăng→Y tăng làm giảm hoặc vô
hiệu hóa chính sách này, nền kinh tế lại rơi vào tình trạng tăng trưởng nóng trở lại
1.4.2 Sự tác động của chính sách tiền tệ
* Chính sách tiền tệ lỏng: LM
0
→LM
1
thì E
0
→E
1
khi đó Y
0
tăng lên Y
1
,i
0
công cụ mà Chính phủ đưa ra, phụ
thuộc vào độ dốc của đường IS và
đường LM, đồng thời phụ thuộc vào
mức độ phản ứng, mức độ tác động của hai chính sách này. Chúng ta có thể xem xét một
số trường hợp sau:
1.4.3 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai công cụ quản lý
kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi
mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi
này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Vì
Trang 10
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư lớn. Trong mối quan hệ
với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới lỏng
CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng
cầu và tài trợ thâm hụt.
CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín
dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính
sách đề ra. Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng
tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng.
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm
hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu
tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá cả,
nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay
các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của các khu vực
kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, CSTK còn ảnh
CSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lên tổng cầu và lãi suất trong nền kinh tế. Bên
cạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan có thể giúp các
nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợp hiệu quả giữa CSTT
và CSTK
1. 4.4 Sự phối hợp chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ mở rộng
Trang 12
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
Khi Chính phủ sử dụng chính sách
tài khoá lỏng (tăng chi tiêu, giảm thuế) thì
tổng cầu sẽ tăng lên, đường IS sẽ dịch
chuyển sang phải từ IS0 → IS1 nền kinh tế
đạt trạng thái cân bằng tại E0. Kết quả là
lãi suất tăng từ i0 → i1, mức sản lượng cân
bằng tăng từ Y0 → Y1. Do lãi suất tăng,
đầu tư giảm, xảy ra hiện tượng tháo lui đầu
tư.
Khi Chính phủ sử dụng chính sách
tài khoá mở rộng (tăng chi tiêu, giảm
thuế) và chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền), đường IS sẽ dịch chuyển đến IS2,
đường LM dịch chuyển đến LM2.
Để tránh được hiện tượng tháo lui đầu tư, Chính phủ phải kết hợp chính sách tiền
tệ lỏng và chính sách tiền tệ lỏng. Đó là việc Chính phủ tăng mức cung tiền và duy trì
mức lãi suất i0, đường LM dịch chuyển sang phải từ LM0 → LM1 nền kinh tế đạt trạng
thái cân bằng mới tại E2, lúc này lãi suất giảm từ i1 về mức lãi suất ban đầu i0, sản lượng
cân bằng tăng lên từ Y1 → Y2. Kết quả của việc phối hợp hai chính sách là: Thu nhập
tăng nhanh từ Y0 → Y2 và ổn định được lãi suất
1.4.5 Sự phối hợp giữa chính sách tài khoá chặt và chính sách tiền tệ chặt
Chính sách tài khoá chặt (chính sách tài khoá thắt chặt) là chính sách sử dụng nhằm
tăng thuế T, giảm chi tiêu G để giảm
.
Để kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tránh nền kinh tế rơi vào tình
trạng quá nóng, Nhà nước có thể phối hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt. Nhà nước
giảm mức cung tiền, tăng lãi suất i, đường LM sẽ dịch chuyển sang trái LM giảm từ LM
0
→ LM
1
. Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới là E
2
, lãi suất tăng từ i
1
→ i
2
, sản lượng
giảm từ Y
1
→ Y
2
.
Kết quả của việc phối hợp hai chính sách đã làm cho sản lượng giảm nhanh, lãi
suất i không thay đổi, tránh được nền kinh tế rơi vào trạng thái tăng trưởng quá nóng.
Trang 14
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA,
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA.
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu trong việc quản
lý, điều tiết vĩ mô, đảm
bảo
cân đối thu- chi ngân sách nhà nước, ổn định tiền tệ, tăng
Cuộc khủng hoảng nổ ra, vào năm 2009 Việt Nam nhanh chóng có ứng xử mà điển
hình là gói kích cầu 1 tỷ USD qua bù lãi suất. Gói hỗ trợ này là tác động chính đối với lãi
suất cho vay khá mềm trong năm 2009. Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay
liên tục leo thang, đặc biệt là sự ngột ngạt năm 2011. Nửa cuối 2012 và đến 2013 lãi suất
cho vay mới bắt đầu hạ nhiệt khi lạm phát được kiềm chế.
Biểu đồ 2: Tình hình tín dụng và lãi vay bình quân.
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt Nam
Bàng 1: Tốc độ tăng cung tiền và tín dụng giai đoạn 2007 – 2013
Một số chỉ tiêu
20
07
20
08
20
09
20
10
20
11
20
12
20
13
Tốc độ tăng M2(%)
41
.2
20
.3
27
0.
86
1.
06
1.
16
0.
65
0.
6
Tỷ lệ cho vay/ Huy
động (LDR) -
0.
95
1.
01
1.
01
0.
7
0.
6
Nguồn: Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
Lạm phát của Việt Nam hội tụ đủ các nguyên nhân: Lạm phát vừa do cầu kéo, vừa
do chi phí đẩy và vừa do lạm phát kỳ vọng; vừa có nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ, vừa
có nguyên nhân từ yếu tố phi tiền tệ. Đặc biệt, nhiều nguyên nhân được tích lũy từ nhiều
năm qua như: (i) Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư lại
kém hiệu quả, nhất là đầu tư công; (ii) Giá cả của nhiều mặt hàng như điện, xăng,…
được điều chỉnh tăng; (iii) Nới lỏng chính sách tiền tệ của những năm trước…Thực tế,
lạm phát ở Việt Nam luôn vượt quá một con số kể từ năm 2007 đến nay (trừ năm
doanh bằng công cụ lãi suất, thì Bộ Tài chính lại quyết định điều chỉnh tăng giá xăng
ngay trước hoặc sau thời điểm cắt giảm lãi suất làm tăng chi phí đầu vào cho các hoạt
động sản xuất, tăng nguy cơ lạm phát.
Năm 2011, tỷ lệ lạm phát tăng tốc vào các tháng đầu năm buộc Chính phủ đã phải
đưa ra Nghị quyết 11 với các chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khoá thu hẹp.
Các chính sách này một mặt làm giảm tốc độ tăng giá nhưng mặt khác lại tác động giảm
tốc độ tăng sản lượng của nền kinh tế. Nguyên nhân của tình trạng lạm phát cao trong
năm 2011 về cơ bản là do tiền tệ đã được nới lỏng trong một thời gian dài. So với các
nước trong khu vực, tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam khá cao. Tính trung bình giai
đoạn 2000-2010, tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam dẫn đầu khu vực với mức tăng
Trang 18
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
31,4%, sau đó là của Trung Quốc (17,8%), Indonesia (13%), Philippines (10,2%),
Malaysia (8,7%) và Thái Lan (6,2%). Riêng năm 2010, tốc độ tăng cung tiền của Việt
Nam thậm chí lên tới 33,3%. Do cung tiền tăng nhanh nên tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP
của Việt Nam tăng lên rất nhanh. Từ sau khủng hoảng tài chính 1997-1999, trong khi các
nước trong khu vực có xu hướng duy trì ổn định tỷ lệ cung tiền trên GDP thì tỷ lệ này
luôn có xu hướng tăng ở Việt Nam. Tín dụng tăng nhanh đã giúp giới đầu cơ đẩy giá bất
động sản tăng cao trong một thời gian dài, đặt nền kinh tế trong trạng thái “bong bóng”
bất động sản. “Bong bóng” bất động sản khuyến khích người dân tiết kiệm ít đi và tiêu
dùng nhiều hơn, tạo áp lực cho giá cả… Trước tình hình trên, Chính phủ đã đề ra chủ
trương với các biện pháp mạnh, CPI hằng tháng giảm nhanh, bắt đầu từ 8/2011. Lạm phát
tháng 8/2011 (so cùng kỳ) là 23% đã giảm, đến 8/2012 chỉ còn 5%. Một nguyên nhân
quan trọng của kết quả nêu trên là việc, Ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền ra thị trường
bằng các kênh chính thức (như hỗ trợ đầu tư, kể cả trái phiếu chính phủ, hỗ trợ thanh
khoản cho ngân hàng thương mại qua thị trường mở) và sau đó bằng các biện pháp
nghiệp vụ đã thu tiền về nhanh, làm cho việc cung tiền (qua M2) danh nghĩa thì lớn,
nhưng tiền (nhất là tiền mặt) thực sự tham gia lưu thông thì ít hơn.
Chính sách tài khóa trong năm 2012 đã phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nan giải, từ
với mức 18,13% năm 2011 và 11,75% năm 2010. Tỷ lệ lạm phát thấp trong hai năm 2012
và 2013 là một thành công lớn của chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô. 2013 Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ,
triệt để tiết kiệm đảm bảo mục thiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Nhìn
chung, phối hợp của hai chính sách vĩ mô này vẫn còn nhiều hạn chế, có những lúc còn
chưa thực sự nhịp nhàng. Lúc CSTT “thắt” quá chặt, trong khi CSTK lại mở rộng; có lúc
tín dụng mở rất nhanh nhưng đầu tư nhà nước lại mở chậm. Liều lượng và mức độ sử
dụng các công cụ từng thời kỳ, giai đoạn chưa tạo ra sức mạnh kết hợp tổng thể. Sự phối
hợp trong việc hoạch định và thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài hạn,
sự phối hợp trong việc sử dụng các công cụ còn hạn chế.
2.3 Những hạn chế trong sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa
Trang 20
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
Bên cạnh những mặt đạt được trên thì còn có một số điểm chưa “tương
thích” giữa hai chính sách.
Thứ nhất, chính sách tiền tệ phải theo đuổi nhiều mục tiêu và chưa có sự độc lập
tương đối.
Trên thế giới, ở các nước có ngân hàng trung ương (NHTW) độc lập, NHTW
được chủ động thực thi các công cụ của chính sách tiền tệ và bị cấm cho chính phủ vay
không theo điều kiện thị trường, đồng thời phải có trách nhiệm giải trình trước Quốc
hội và trước công chúng các quyết định của mình. Các nhà hoạch định chính sách tiền
tệ phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng của chính sách tiền tệ, và không thể bị
gây áp lực làm chính sách tiền tệ đi chệch hướng.
Đối
với một số quốc gia theo đuổi
lạm phát mục tiêu, NHTW chỉ thực hiện mục tiêu duy nhất là kiểm soát lạm phát
Ở Việt Nam, tại
Đ
Nhà nước vẫn gửi tại NHNN ảnh hưởng lớn đến vốn khả dụng và khả năng thanh
toán của NHTM.
Thứ ba, phối hợp chính sách trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho công tác
dự báo mức lạm phát còn
hạn
chế
Hiện nay, Bộ Tài chính chưa thiết lập được cơ chế thông tin một cách thường
xuyên về các dòng vốn của thu - chi NSNN và các định chế tài chính do Bộ Tài chính
quản lý, dẫn đến chưa thống kê và kiểm soát được một tỷ lệ đáng kể phương tiện thanh
toán trong nền kinh tế. Ngoài ra, thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong việc xác định mục tiêu
dài hạn như dự báo mức lạm phát. Việc cố định mức lạm phát kế hoạch hàng năm, mà
không đưa ra biên độ dao động hợp lý dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần, đã làm mất
lòng tin của công chúng đối với những cam kết của các nhà hoạch định chính sách.
Trang 22
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH
SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
- Tăng cường và hoàn thiện việc thu thập thông tin, phân tích thông tin và trao đổi
thông tin để việc thông qua và thực hiện các chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ được chuẩn xác.
Đ
â
y
là khâu yếu nhất hiện nay, cần phải tăng cường sự phối hợp để
đảm bảo các thông tin được cập nhật kịp thời. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định
các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao thời gian qua nằm ở cơ cấu kinh tế
,
h
Bài tiểu luận cuối kỳ
Môn: Kinh tế Vĩ mô
KẾT LUẬN
Từ mô hình IS – LM có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những
chính sách kinh tế phù hợp. Khi phân tích bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách tiền tệ
và tài khóa, điều quan trọng là có thể các chính sách này không độc lập với nhau. Sự
thay đổi trong chính sách này có thể làm tác động tới chính sách kia. Sự phụ thuộc này
có thể làm biến dạng tác động của hai chính sách này. Do đó, cần phải có sự phối hợp
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh
doanh để phục hồi tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế cho năm 2014 sắp tới.
Trang 24