Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VI THỊ HÀ MY
TÌM HIỂU VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƢỜI
PHỔ YÊN TỪ VĂN HÓA ĐẾN VĂN HỌC DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ ANH TUẤN THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn khoa Sau đại học; khoa Ngữ văn trƣờng Đại
học Sƣ phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành
khóa học này!
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo
trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Văn học Việt Nam chuyên ngành văn học dân
gian khóa 16 - những ngƣời đã cung cấp cho em tri thức và phƣơng pháp khoa
học cần thiết để em hoàn thành luận văn này!
Đặc biệt, em xin bày tỏ tình cảm kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Vũ Anh Tuấn - Ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
luận văn thạc sĩ này!
Trong quá trình điền dã, điều tra, khảo cứu các tƣ liệu phục vụ cho luận
văn, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng văn hóa thông tin
huyện Phổ Yên và các cá nhân trên địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên. Tôi
xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Tác giả
4.1. Các địa danh lịch sử tiêu biểu 24
4.1.1. Khu di tích lịch sử và đền Lục giáp 24
4.1.2. Tảo Địch - một cứ điểm của nghĩa quân Quận Hẻo 25
4.1.3. Đèo Nứa - Đèo Ông Cấn 26
4.1.4. Khu di tích lịch sử xã Tiên Phong 27
4.2. Các địa danh văn hóa gắn liền với các lễ hội dân gian tiêu biểu 28
4.2.1. Đình Phúc Duyên 28
4.2.2. Đình làng Thanh Thù 30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5. Văn học dân gian vùng Phổ Yên 31
Chƣơng hai. PHỔ YÊN - MỘT VÙNG VĂN HỌC DÂN GIAN
ĐA THỂ LOẠI 37
1. Khái quát chung 37
2. Các thể loại tiêu biểu 38
2.1. Thể loại truyền thuyết 38
2.1.1. Số lƣợng 38
2.1.2. Phân loại 39
2.1.3. Kết cấu 46
2.1.4. Nhân vật 48
2.2. Thể loại tục ngữ 62
2.2.1. Nội dung tục ngữ 62
2.2.2. Các hình thức nghệ thuật của thể loại tục ngữ 64
2.3. Thể loại ca dao 65
2.3.1.Nội dung ca dao 66
2.3.1.1. Những câu ca dao nói về vùng đất và con ngƣời Phổ Yên 66
2.3.1.2. Những câu ca dao lƣu hành ở vùng Phổ Yên 69
2.3.2. Các hình thức nghệ thuật của thể loại ca dao 76
2.3.2.1. Biểu tƣợng 76
2.3.2.2. Kết cấu 79
đựng biết bao tinh hoa văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc. Kho tàng văn học
dân gian Việt Nam hết sức phong phú bao gồm sản phẩm tinh thần của 54 dân
tộc anh em. Trong xu thế hội nhập quốc tế đang ngày càng đƣợc mở rộng nhƣ
hiện nay, văn hóa truyền thống nói chung và văn học dân gian của mỗi dân
tộc nói riêng càng phải đƣợc bảo tồn và phát huy hơn nữa. Nghị quyết hội
nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [21, tr.1]. Văn kiện hội nghị lần
thứ V Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản khóa VIII cũng đã chỉ rõ:
“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của
bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa.
Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa
vật thể và phi vật thể” [21, tr.1].
Vì vậy, nghiên cứu văn học dân gian là một việc làm cần thiết, góp phần
quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản
sắc dân tộc.
2. Phổ Yên là huyện trung du nằm ở vùng phía nam tỉnh Thái Nguyên.
Tồn tại trong lịch sử ngàn năm cùng đất nƣớc, vùng đất và con ngƣời nơi đây
vốn có truyền thống lịch sử lâu đời. Nhiều sự kiện nổi bật, nhiều chiến tích vẻ
vang, nhiều con ngƣời tiêu biểu đã góp phần vun đắp nên truyền thống quý
báu đó. Nhân dân vùng Phổ Yên đã tham gia vào tất cả các phong trào đấu
tranh yêu nƣớc, đóng góp vào công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc.
Nơi đây còn là vùng đất ghi nhận sự có mặt của nhiều vị anh hùng dân tộc,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
danh nhân tiêu biểu. Ngay từ khoa thi đầu tiên của khoa cử Nho học (năm
nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu vùng đất và con ngƣời Phổ Yên từ văn hóa đến
văn học dân gian.
II. Lịch sử nghiên cứu
Phổ Yên là một vùng đất đƣợc hình thành và có địa danh từ khá sớm.
Trong những bộ sách lớn về lịch sử của dân tộc nhƣ Lịch triều hiến chƣơng
loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều
Nguyễn), địa danh Phổ Yên đều đƣợc các tác giả nhắc tới. Gần đây hơn là
một số cuốn sách nhƣ Địa chí Thái Nguyên (Tỉnh ủy - UBND Thái Nguyên),
Vùng đất và con ngƣời Phổ Yên (Nguyễn Hữu Khánh). Ngoài những thông
tin về lịch sử, địa giới hành chính, tên gọi của huyện qua các giai đoạn lịch sử,
những tƣ liệu trên còn giới thiệu về huyện Phổ Yên là vùng đất của truyền
thống yêu nƣớc, là nơi ghi nhận sự có mặt của nhiều vị anh hùng dân tộc,
danh nhân tiêu biểu. Theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Đỗ Cận: người
huyện Phổ Yên, đỗ đồng tiến sĩ đời Lê Hồng Đức, phụng mệnh đi sứ, có làm
bài “Kim lăng ký”, làm quan đến thượng thư” [39, tr.208]. Theo sách Địa chí
Thái Nguyên: “Nhờ tài năng và sự cống hiến, Đỗ Cận đã làm tới chức
Thượng thư đứng đầu trong sáu bộ của triều đình nhà Lê với hàm Tòng nhị
phẩm. Thành đạt trên con đường sự nghiệp như ông, quả là ít người thời ấy
có thể phấn đấu vươn tới được” [46, tr.1990]. Và “Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn)
quê ở ấp Thái Bình, châu Giã Năng (vùng đất Phổ Yên ngày nay), là người đã
lãnh đạo nhân dân ta nổi lên đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, lập Nhà nước
Vạn Xuân (năm 544); đánh dấu bước phát triển mới của phong trào đấu
tranh giành độc lập dân tộc sau hơn 500 năm dưới thời Bắc thuộc [46,
tr.967]. “Nguyễn Cấu, tức Nguyễn Đình Cấu, quê ở làng Thanh Thù, tổng
Tiểu Lễ, huyện Thiên Phúc tỉnh Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, nay là thôn Thanh Thù,
xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Ông đỗ đệ tam giáp đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
5
hoạt giải trí đầy hứng khởi và thăng hoa; Hát ví cũng là một hình thức hát đối
đáp dân dã, không cần phông màn, sân khấu Hát ví là một hình thức gặp
gỡ, tâm tình và giao lưu văn nghệ hấp dẫn, cuốn hút được nhiều người tham
gia và người nghe”; Trống quân là điệu hát dân gian quen thuộc khi xưa của
người Kinh sống ở các làng ở huyện Phổ Yên, Phú Bình, nơi tiếp giáp với
vùng quê Kinh Bắc. Trống quân được tổ chức hát vui trong các ngày lễ hội ở
đền và đình làng” [46, tr.776].
Tác giả Nguyễn Hữu Khánh với hai cuốn sách Một vài làn điệu dân
ca ven sông Cầu và Vùng đất và con ngƣời Phổ Yên xƣa đã cung cấp cho
độc giả những thông tin sâu hơn, chi tiết hơn về văn hóa dân gian vùng Phổ
Yên. Trong cuốn Một vài làn điệu dân ca ven sông Cầu, tác giả đã sƣu tầm
và giới thiệu tới độc giả một số làn điệu dân ca bao gồm: hát ví, hò gọi bạn,
hát trống quân và hát xẩm, đồng thời khẳng định tính độc đáo, sáng tạo, đậm
chất nhân văn sâu sắc của các làn điệu dân ca này. Đây chính là những loại
hình văn hóa, văn nghệ dân gian đã ăn sâu trong nền nếp sinh hoạt, không thể
phai mờ trong tâm hồn của ngƣời dân sở tại. Tuy nhiên, sự thể hiện của tính
chất sáng tạo, độc đáo ấy trên những phƣơng diện, khía cạnh nào lại chƣa
đƣợc tác giả đi sâu phân tích. Với mỗi làn điệu, tác giả đã ghi lại một số lời
dân ca sƣu tầm đƣợc và nêu sơ lƣợc về hình thức diễn xƣớng (không gian và
trình tự diễn ra) của mỗi buổi hát. Trong cuốn Vùng đất và con ngƣời Phổ
Yên xƣa, tác giả Nguyễn Hữu Khánh đã giới thiệu một số di tích lịch sử văn
hóa tiêu biểu, các lễ hội dân gian truyền thống của huyện Phổ Yên nhƣ: Di
tích và lễ hội đền Giá (thuộc xã Đông Cao); Di tích và lễ hội đền Đồng Thụ
(thuộc xã Thuận Thành); đình làng và lễ hội làng Phúc Duyên (thuộc xã Tân
Hƣơng) Gắn liền với những di tích lịch sử tiêu biểu đó là những truyện
truyền thuyết về các vị anh hùng dân tộc nhƣ: truyền thuyết về Thánh Gióng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu và giới thiệu những nét nổi bật về văn hóa dân gian của vùng
Phổ Yên - một vùng văn hóa đa dạng và giàu tính tiếp biến.
2. Khảo sát, sƣu tầm, thống kê và phân loại các tài liệu văn học dân gian
ở vùng Phổ Yên. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ phân tích và luận giải về những
giá trị của các thể loại văn học dân gian nơi đây.
3. Dựa trên những tri thức về văn hóa và văn học dân gian đã tìm hiểu
đƣợc, ngƣời nghiên cứu sẽ phân tích và chỉ rõ mối quan hệ giữa văn học dân
gian với đời sống sinh hoạt văn hóa trong truyền thống của ngƣời dân vùng
Phổ Yên.
VI. Đóng góp của luận văn
1. Trên cơ sở khảo sát, phân tích các giá trị văn hóa đến văn học dân gian
của vùng Phổ Yên, lần đầu tiên văn học dân gian vùng Phổ Yên đƣợc nghiên
cứu dƣới góc độ của khoa học nghiên cứu văn học dân gian.
2. Chỉ ra mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn
hóa dân gian của ngƣời dân vùng Phổ Yên. Đề xuất ý kiến nhằm lƣu giữ, bảo
tồn và khôi phục vốn văn hóa cổ truyền nơi đây.
VII. Phƣơng pháp nghiên cứu
1. Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống: Trên quan niệm văn hóa dân gian và
văn học dân gian là một chỉnh thể, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích và
nhận xét về các giá trị từ văn hóa đến văn học dân gian của vùng Phổ Yên;
Chỉ rõ mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống sinh hoạt văn hóa của
ngƣời dân Phổ Yên.
2. Phƣơng pháp điền dã: Chúng tôi tiến hành điền dã trên địa bàn huyện
Phổ Yên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng một
PHỔ YÊN - MỘT VÙNG VĂN HÓA LỊCH SỬ
1. Đặc điểm địa lý
Phổ Yên là huyện trung du nằm ở vùng phía nam tỉnh Thái Nguyên,
trong giới hạn địa lý có tọa độ từ 21
o
19’ đến 21
o
34’ độ vĩ bắc, 105
o
40’ đến
105
o
56’ độ kinh đông. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 256,68km
2
; huyện lỵ
đƣợc đặt tại thị trấn Ba Hàng, cách tỉnh lỵ Thái Nguyên 26km về phía nam và
cách Thủ đô Hà Nội 56km về phía bắc. Phía tây của Phổ Yên giáp với huyện
Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc), phía bắc và tây bắc giáp thành phố Thái Nguyên,
Từ xa xƣa, do điều kiện tự nhiên hiểm trở, đƣờng bộ kém phát triển nên
những dòng sông chính là tuyến giao thông quan trọng của mỗi vùng. Dòng
sông Cầu với hợp lƣu của sông Công không những là trục giao thông căn bản
nối liền hai miền xuôi - ngƣợc của tỉnh Thái Nguyên mà nó còn tạo cho Phổ
Yên có đƣợc “vị thế giữa ngã ba sông”. Đây một điều kiện vô cùng thuận lợi
để ngƣời dân trao đổi và buôn bán hàng hóa. Hơn nữa, phía hạ lƣu sông Cầu
đƣợc mở rộng, độ dốc thấp, dân cƣ đông đúc hơn, nhu cầu trao đổi hàng hóa
nhiều nên đã hình thành một số bến cảng sông, trong đó có bến cảng Đại
Phùng. Nơi ấy ngày nay chính là bến sông Chã thuộc xã Đông Cao, huyện
Phổ Yên. Có bến cảng nên đã hình thành chợ phiên để giao lƣu hàng hóa.
“Trà Thị” (chợ Chè, chợ Chã) bên bến cảng Đại Phùng đã trở thành một điểm
giao thƣơng, phát triển kinh tế khá sầm uất giữa hai miền xuôi ngƣợc. “Chợ
Chã ngược lên Thái Nguyên, trở thành một bến lớn, trung tâm giao dịch phía
cực bắc” [46, tr.140]. Cho đến ngày nay, khi mà giao thông đƣờng bộ đã rất
phát triển nhƣng với lợi thế “trên bến dưới thuyền”, chợ Chã (Trà Thị xƣa)
vẫn là trung tâm giao lƣu hàng hóa của các vùng đông nam huyện Phổ Yên.
Thêm nữa, Phổ Yên có đƣờng quốc lộ số 3 và đƣờng sắt Hà Nội - Thái
Nguyên chạy dọc từ nam lên bắc. Theo tuyến đƣờng này, thị trấn Phổ Yên chỉ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
cách nội thành Hà Nội chƣa đầy 60km. Nói rõ hơn, ra khỏi trung tâm huyện
lỵ chừng vài chục cây số, ngƣời Phổ Yên đã có thể tiếp xúc với nền văn minh
của đồng bằng sông Hồng lâu đời. Ngƣợc lên cũng chừng vài chục cây số,
ngƣời Phổ Yên đã tới trung tâm tỉnh lỵ xƣa và giao lƣu với cƣ dân miền núi
Việt Bắc.
Những đặc điểm địa lý tự nhiên trên chính là điều kiện thuận lợi để vùng
đất Phổ Yên sớm trở thành một trung tâm thu hút đƣợc nhiều tầng lớp cƣ dân
thừa tuyên Thái Nguyên lại đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc, kiêm quản 3 phủ,
8 huyện, 7 châu và Phổ An (Yên) là một trong số bảy huyện của phủ Phú
Bình.
Dƣới triều Nguyễn (năm 1831) vua Minh Mệnh cải cách hành chính, đổi
trấn thành tỉnh, trấn Thái Nguyên đƣợc đổi thành tỉnh Thái Nguyên (1 trong
13 tỉnh của miền bắc nƣớc ta lúc đó) có hai phủ là Phú Bình và Thông Hóa.
Huyện Phổ Yên thuộc phủ Phú Bình, huyện lỵ đặt ở xã Lợi Xã (tổng Hoàng
Đàm). Từ năm Tự Đức thứ 4 (1851), huyện Phổ Yên do tri phủ Phú Bình
kiêm lý, lỵ sở trƣớc đặt ở Lợi Xã, nay bỏ. Huyện hạt Phổ Yên cách tây phủ
thành 32 dặm, phía đông giáp thôn Cầu Đông, xã Nghĩa Hƣng, huyện Tƣ
Nông; phía tây giáp hai xã Mi Khƣu, Đăng Cao (huyện Bình Xuyên) và xã Ký
Phú huyện Đại Từ; phía bắc giáp xã Niệm Quang (huyện Đồng Hỷ), phía nam
giáp xã Nam Lý (huyện Kim Anh) và xã Đông Cao (huyện Đa Phúc), thuộc
tỉnh Bắc Ninh. Huyện đƣợc chia làm 6 tổng, gồm 24 xã, 1 trang, 1 phƣờng.
Nhƣ vậy, cho tới thời vua Đồng Khánh nhà Nguyễn (1886 - 1888), các
tổng Thiên Thù, Tiểu Lễ (huyện Hiệp Hòa), Thƣợng Giã (huyện Thiên Phúc)
- phần đất cực nam và đông nam của huyện Phổ Yên ngày nay thuộc về phủ
Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
Dƣới thời Pháp thuộc, huyện Phổ Yên nằm trong phủ Phú Bình, thuộc
tiểu Quân khu Thái Nguyên - Đạo quan binh I Phả Lại. Từ tháng 10 - 1892,
Phổ Yên là một huyện thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Những năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bỏ đơn vị hành chính cấp
phủ. Phổ Yên là một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên gồm 6 tổng, với 24 làng.
Năm 1918, Phổ Yên là một phủ (trong số 2 phủ, 3 huyện, 3 châu của tỉnh Thái
Nguyên) gồm 8 tổng, 36 làng.
gọi là vùng Giã. Đây là một địa điểm chiến lƣợc chỉ huy bảo vệ vùng đồng
bằng. Với truyền thống bất khuất, ngƣời dân vùng Phổ Yên tích cực ủng hộ,
che chở quân khởi nghĩa, hăng hái tham gia chiến đấu chống lại quân xâm
lƣợc. Châu Giã Năng (gồm một phần đất phía đông bắc huyện Sóc Sơn, Hà
Nội, cả huyện Phổ Yên, thị xã Sông Công, phía bắc huyện Phú Bình) mà
trung tâm là vùng đất huyện Phổ Yên gắn liền với chiến thắng của cuộc khởi
nghĩa Lí Bí. Vùng đất Thái Nguyên không những là nơi xuất phát, khởi binh
của cuộc khởi nghĩa Lí Bí mà còn là một trong những “hậu phương chiến
lược”, cung cấp dồi dào về lƣơng thực và lực lƣợng quân lính cho nghĩa quân
Lí Bí.
Từ thế kỷ X, dƣới sự chỉ huy của Lí Thƣờng Kiệt, nhân dân Phổ Yên đã
trực tiếp tham gia xây dựng phòng tuyến phía bắc sông Cầu (một phần phòng
tuyến kéo dài qua địa bàn huyện Phổ Yên ngày nay) và trực tiếp chiến đấu
góp phần đánh quân xâm lƣợc quân Tống ngay trên mảnh đất quê hƣơng
mình.
Thế kỷ XII, nhân dân huyện Phổ Yên đã cùng Dƣơng Tự Minh (thủ lĩnh
phủ Phú Lƣơng) chăm lo xây dựng, chiến đấu bảo vệ và giữ yên bờ cõi khu
vực phía bắc Đại Việt. Đầu thế kỷ XV, hàng trăm ngƣời dân Phổ Yên đã cùng
với tƣớng quân Lƣu Nhân Chú tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi
lãnh đạo, đánh đuổi quân xâm lƣợc Minh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Nhân dân nơi đây vẫn lƣu truyền mãi câu truyện về sự kiện tƣớng Lƣu Nhân
Chú về tuyển mộ binh lính tại quê hƣơng Phổ Yên. Sau khi tuyển mộ đƣợc
200 ngƣời, ông đã cho mở hội đấu vật ở ngôi miếu làng Sơn Cốt để thử tài võ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
nghệ của các binh lính. Vì vậy, ngôi miếu của làng Sơn Cốt còn có tên là
Miếu Vật.
Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng lần thứ tám cho cán bộ Trung ƣơng Đảng
các vùng lân cận và cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ do đồng chí Trƣờng Chinh tổ chức
tại Tiên Thù. Năm 1943, địa bàn tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên đƣợc Trung
ƣơng xây dựng thành An toàn khu II (cùng với xã Kha Sơn, huyện Phú Bình -
Thái Nguyên và xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang). Nhân dân và
lực lƣợng tự vệ tổng Tiên Thù đã hết lòng giúp đỡ, chở che và bảo vệ tuyệt
đối an toàn cho các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo của Đảng; làm thất bại
các đợt tấn công và khủng bố của địch vào An toàn khu II.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân và lực lƣợng vũ trang huyện
Phổ Yên đã tích cực ủng hộ và tham gia. Phổ Yên vừa là cửa ngõ phía nam
của tỉnh Thái Nguyên, vừa là cửa ngõ phía nam của trung tâm căn cứ địa Việt
Bắc - thủ đô kháng chiến của cả nƣớc. Quân và dân Phổ Yên đã góp phần
quan trọng cùng với quân dân trong tỉnh và bộ đội chủ lực đập tan nhiều cuộc
càn quét của địch. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phổ Yên đã huy động
hàng chục ngàn lƣợt ngƣời đi dân công hỏa tuyến. Với những đóng góp đó,
Phổ Yên đã đƣợc Nhà nƣớc phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong kháng chiến chống Mĩ, Phổ yên là một trong những trọng điểm
đánh phá của máy bay Mĩ. Toàn huyện đã xây dựng đƣợc 36 trận địa dân
quân, tự vệ trực chiến phòng không bắn máy bay địch… Trung đội trực chiến
phòng không của dân quân du kích các xã Nam Tiến, Trung Thành, Thành
Công đã trực tiếp chiến đấu nhiều trận với máy bay Mĩ.
Tìm hiểu những sự kiện tiêu biểu trên đã giúp ngƣời đọc một lần nữa
thấy rõ truyền thống lịch sử của vùng đất và con ngƣời Phổ Yên. Nơi đây qua
hàng ngàn năm tồn tại và phát triển cùng non sông đất nƣớc đã ghi nhận
không ít những công lao và đóng góp của nhân dân địa phƣơng vào phong
trào đấu tranh chung của toàn dân tộc. Phải chăng, thực tế lịch sử ấy chính là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Thắng lợi của nghĩa quân Lý Bí có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một
bƣớc trƣởng thành của ý thức dân tộc, khẳng định nền độc lập, tự chủ của
nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế chế phƣơng Bắc đối
với đất nƣớc và dân tộc ta.
3.2. Nguyễn Cấu
Nguyễn Cấu, tức Nguyễn Đình Cấu, quê ở làng Thanh Thù, tổng Tiểu Lễ
(có sách chép là Khuông Lễ), huyện Thiên Phúc, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc,
nay là xóm Thanh Vân (nên nhân dân địa phƣơng vẫn gọi thân mật là “cụ
Nghè Vân”), thôn Thanh Thù, xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên.
Ông đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi (1463) niên
hiệu Quang Thuận năm thứ 4 đời Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Thị vệ
(Thị vệ xứ). Đây là ngƣời đầu tiên của đất Thái Nguyên đỗ đạt học vị này.
Nguyễn Cấu làm quan suốt sáu đời vua Lê: Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Lê
Hiến Tông (1498 - 1504), Lê Túc Tông (1504), Lê Uy Mục (1505 - 1509), Lê
Tƣơng Dực (1509 - 1516), Lê Chiêu Tông (1516 -1522). Ông có nhiều thăng
tiến trên con đƣờng võ nghiệp dài tới gần 60 năm. Chức Thị vệ xứ mà
Nguyễn Cấu đƣợc giữ là chức vụ chỉ huy quân thị vệ, túc vệ chuyên tháp tùng
vua; chức vụ này thời ấy thƣờng lấy quan đại thần ban võ kiêm quản. Vào
thập niên thứ 2 của thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu, Mạc Đăng Dung uy quyền
ngày càng lấn lƣớt quyền vua và có ý đồ chuẩn bị lật đổ triều Lê, thiết lập
vƣơng triều Mạc. Vua Lê Chiêu Tông không còn đủ uy tín và sức mạnh để
điều hành đất nƣớc. Là trung thần của nhà Lê, lại đang giữ trọng trách coi giữ
quân cấm vệ trong cung điện, hẳn Nguyễn Cấu sẽ là trở ngại cho ý đồ tiếm
quyền của họ Mạc. Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1522), Mạc Dăng Dung
từ căn cứ riêng ở Hải Dƣơng, đã kéo quân về áp sát kinh thành Thăng Long.
Sau đó cho quân Vƣợt sông Hồng, tràn vào kinh thành, giết hại những thế lực
Đỗ Cận là vị Tiến sĩ đỗ vào thời Hồng Đức, triều vua Lê Thánh Tông
(1460 - 1497), triều đại thịnh đạt nhất trong lịch sử khoa cử nho học của nƣớc