ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN MÔN
LUẬT HIẾN PHÁP NƯỚC NGOÀI
Đề tài số 9 :
THỰC TIỄN VẬN HÀNH CHÍNH THỂ TỔNG THỐNG
ĐƯƠNG ĐẠI
Lớp : K13503
SVTH :
Nguyễn Kim Khánh Quỳnh
Hồng Lê Trân Trân
Võ Thị Khánh Hòa
Đinh Trần Minh Đức
Đinh Gia Khánh
TPHCM , 4/2014
1
LỜI NÓI ĐẦU
Hình thức nhà nước là một vấn đề quan trọng của hiện tượng nhà nư
ớc . Lịch sử nhà nước và pháp luật tư sản , mỗi quốc gia ,trong từng thời
kì lịch sử lại chọn cho mình những hình thức chính thể khác nhau.
Mỗi hình thức chính thể có đắc điểm riêng.
Thế giới hiện nay tồn tại 6 loại chính thể nhà nước: quân chủ tuyệt
đối, quân chủ đại nghị, quân chủ nghi nguyên, cộng hòa đại nghị, cộng hòa
hỗn hợp, cộng hòa tổng thống. Trong đó cộng hòa tổng thống là một trong
những chính thể được quan tâm nhiều nhất, bởi nó được áp dụng ở nhiều
quốc gia, đặc biệt là các nước tư sản lớn với chế độ chính trị phức tạp như
Hoa Kì, Pháp
Dưới hình thức chính thể cộng hòa tổng thống, vai trò của tổng thống
rất lớn, vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu bộ máy hành
pháp, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra. Quyền lực của tổng thống
toàn độc lập nhau trong các phán quyết của mình.
Nền tảng của Tổng thống chế là nguyên tắc tam quyền phân lập của
j.Locke và C.L.Montesquieu.
2. Lịch sử tổng thống chế.
Hình thức chính thể cộng hoà tổng thống được sinh ra muộn hơn so
với hình thức chính thể đại nghị và hình mẫu của nó là Hợp chúng quốc Hoa
Kỳ. Nước Mỹ được hình thành bằng Hiến pháp năm 1787, bản Hiến pháp
thành văn đầu tiên của thế giới, do nhu cầu của cuộc phòng thủ chung của 13
tiểu bang vừa giành độc lập muốn cùng đứng ra bảo vệ sự độc lập đã có của
mình, vì cấu trúc bang liên lỏng lẻo lúc bấy giờ được hình thành từ “Những
điều khoản liên bang và liên minh vĩnh cửu” năm 1776 đã bộc lộ nhiều điểm
yếu.
Chính phủ quốc gia lúc bấy giờ không có quyền đưa ra các biểu thuế
khi cần thiết để điều chỉnh nền thương mại. Họ không có quân đội chung, 9
bang có quân đội riêng và một số bang khác lại có hải quân riêng, tồn tại rất
nhiều loại tiền tệ.
Một chính quyền trung ương yếu kém, không có quyền lực để hỗ trợ
chính sách bằng sức mạnh quân sự, thì cũng không thể nào tránh được bị bó
buộc trong ngoại giao. Hậu quả là một sự hỗn độn thực sự. Trong bối cảnh
đó nảy sinh nhu cầu phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn để thực thi
một chính sách thống nhất.
Nhưng vì e ngại trước trước một nhà nước tập trung chuyên chế như
của các nhà nước Châu Âu mà họ đã phải rời bỏ để ra đi, nên họ rất thận
trọng với mọi sự tập trung quyền lực. Ý thức về thảm hoạ tiềm tàng và sự
cần thiết có một sự thay đổi mạnh dạn đã bao trùm bầu không khí Hội nghị
lập hiến (được bắt đầu vào ngày 25/5/1787). Tất cả các đại biểu đều tin rằng,
phải có một chính quyền trung ương hữu hiệu với những quyền lực khả thi
để thay thế cho một Quốc hội yếu kém được hình thành theo Điều lệ Liên
bang và Liên minh vĩnh cửu được thông qua năm 1777.
Tư tưởng chủ đạo của những nhà lập Hiến pháp Hoa Kỳ là rất cần
kháng Madison, quyền đó mới được công nhận một cách đầy đủ như hiện
nay.
Tất cả những lý do khách quan và chủ quan đó đã hình thành nên một
chế độ chính trị mà sau này được gọi là chính thể tổng thống cộng
hoà. Những lý do sinh ra chế độ chính trị Mỹ quốc có ảnh hưởng sâu sắc và
chi phối rất lớn đến việc tổ chức ra các thiết chế chính trị của nhà nước Mỹ,
đồng thời chúng cũng biến thành những đặc điểm của mô hình tổ chức
5
quyền lực nhà nước Mỹ quốc, một điển hình của chính thể tổng thống cộng
hoà.
(1)
3. Bộ máy nhà nước.
3.1 Đặc điểm chung.
Tổng thống chế hay Hệ thống tổng thống là một hệ thống chính
phủ mà trong đó có một ngành hành pháp tồn tại và ngự trị tách biệt khỏi
ngành lập pháp. Ngành hành pháp này không có trách nhiệm gì đối với
ngành lập pháp và trong mọi hoàn cảnh bình thường ngành lập pháp không
thể giải tán nó.
Khái niệm về vùng ảnh hưởng riêng biệt giữa ngành hành pháp và lập
pháp đã được nói rỏ trong Hiến pháp Hoa Kỳ cùng với sự ra đời của chức
vụ Tổng thống Hoa Kỳ được bầu lên riêng biệt không lệ thuộc vào quốc hội.
3.2 Nhánh Hành pháp.
Quyền lực hành pháp do một người nắm là tổng thống. Các thành
viên nội các chỉ phục vụ theo ý của tổng thống và phải thực thi các chính
sách của ngành hành pháp và lập pháp. Tuy nhiên, tổng thống chế thường
xuyên cần có sự chấp thuận của ngành lập pháp đối với các nhân sự mà tổng
thống đề cử cho các chức vụ trong nội các cũng như nhiều vị trí phức tạp
khác của chính phủ.
Tổng thống không đề nghị các đạo luật. Tuy nhiên tổng thống có
quyền phủ quyết các đạo luật của ngành lập pháp, và rồi sau đó đến lượt
cử theo tỷ lệ đại diện, và các hệ thống hỗn hợp. Tại 199 quốc gia và vùng
lãnh thổ được coi là có hệ thống bầu cử có thế nhận biết tính đến thời điểm
cuối năm 2004, thì 91 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng hệ thống bầu cử
theo đa số phiếu trong các cuộc bầu cử lập pháp, 72 quốc gia và vùng lãnh
thổ sử dụng hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện, và 30 quốc gia và vùng lãnh
thổ sử dụng hệ thống bầu cử hỗn hợp.
Hình thức thắng cử với đa số tuyệt đối được sử dụng nhiều nhất trong
loại hình hệ thống bầu cử theo đa số: nó được sử dụng ở 47 trong số 91
trường hợp nói trên. Tại các nước đã có nền dân chủ lâu đời thì hệ thống bầu
cử theo tỷ lệ đại diện là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất, nhưng việc sử
dụng hệ thống thắng cử theo đa số tuyệt đối ở Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng đồng
nghĩa với việc ngày càng có nhiều người sống tại các quốc gia và vùng lãnh
7
thổ sử dụng hệ thống này hơn.
Theo định nghĩa thì việc chọn ra một vị tổng thống có nghĩa là sẽ chỉ
có một người thắng cử. Hệ thống bầu cử kiểu này thuộc loại hình bầu cử
theo đa số tuyệt đối. Vào cuối năm 2004, có 102 quốc gia và vùng lãnh thổ
trong đó người dân bỏ phiếu để lựa chọn tổng thống. Con số này bao gồm cả
những quốc gia có hệ thống bầu cử thuộc một trong hai loại: hệ thống bầu cử
tổng thống, trong đó tổng thống là người đứng đầu nhà nước và cũng là
người đứng đầu chính phủ hành pháp trong một nhiệm kỳ nhất định và
không cần phải phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của cơ quan lập pháp để
được đương nhiệm; và hệ thống đại nghị, trong đó tổng thống là người đứng
đầu nhà nước với rất ít hoặc không có quyền lực quan trọng, chính phủ hành
pháp có người đứng đầu là thủ tướng và người này phải phụ thuộc vào mức
độ tín nhiệm của cơ quan lập pháp.
Trong số 102 quốc gia này, có 78 nước sử dụng hệ thống bầu cử hai
vòng. Và trong số 78 quốc gia này thì 22 quốc gia sử dụng hệ thống bầu cử
dựa trên đa số phiếu tuyệt đối; một trường hợp sử dụng hệ thống bỏ phiếu
thay thế dựa vào số lượng cử tri; một trường hợp sử dụng hệ thống bỏ phiếu
đôi khi được xem là một điều lợi mà trong đó mỗi ngành có thể truy xét
hành động của ngành kia.
Phân lập quyền lực giúp cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn
vì một người không thể vừa là nghị sĩ vừa là thành viên chính phủ.
5.1.3 Nhanh chóng và dứt khoát.
Một nước cộng hòa Tổng thống có thể đáp ứng nhanh chóng đối với
các tình hình đang xảy ra hơn so với một nước cộng hòa đại nghị. Một vị thủ
tướng khi hành động cần phải có sự ủng hộ của ngành lập pháp nhưng một
vị tổng thống thường thường ít bị hạn chế bởi ngành lập pháp nhất là trong
những tình huống cấp bách như:chiến tranh,thiên tai.
Do có sự phân chia quyền lực rõ ràng nên một nhánh quyền lực có thể
đưa ra quyết đinh mà không cần chờ sự đồng ý của ngành kia.
5.1.4 Ổn định
Tổng thống chế là hệ thống chính trị có khả năng tồn tại hơn trong
những tình huống cấp bách. các cuộc bầu cử dưới chính thể tổng thống chế
có thời hạn rỏ rệt nên được xem là một cuộc kiểm soát đối với quyền lực của
ngành hành pháp (nếu tốt đẹp thì được tái đắc cử, bằng không sẽ bị thất cử).
Theo lý thuyết, nếu vị thế và hành động của một vị tổng thống có ảnh hưởng
tích cực đối với quốc gia của mình thì rất có thể ứng cử viên trong đảng của
ông hay chính ông sẽ được bầu thêm một nhiệm kỳ mới.Từ đó chính sách
của đảng cầm quyền sẽ được duy trì.
9
5.2 Nhược điểm của cộng hòa tổng thống.
5.2.1 Có chiều hướng dẫn đến độc tài.
Vì tổng thống là người đứng đầu nhà nước và chính phủ nên quyền
lực của tổng thống là rất lớn.Một vị tổng thống không chỉ làm ngơ ảnh
hưởng của các đảng khác mà còn có thể loại bỏ các phần tử đối nghịch trong
chính đảng phái của mình, hay thậm chí rời bỏ đảng mà mình đã đại diện ra
tranh chức tổng thống. Như thế tổng thống có thể điều hành quốc gia mà
không cần có bất cứ đồng minh nào trong thời gian một hoặc có thể là nhiều
phương thức của ông vẫn kéo dài mãi cho đến thời điểm có một cuộc bầu cử
mới".Đa số các nước hệ thống tổng thống không có tạo ra những phương
thức pháp lý nào để truất phế một vị tổng thống với lý do đơn giản là bị mất
lòng dân nên nhiều quốc gia theo cộng hòa tổng thống trải qua nhiều thời kỳ
bất ổn với các cuộc đảo chính quân sự.
Nhiều người đã chỉ trích các hệ thống tổng thống vì họ cho rằng
chúng chậm chạp trong việc đáp ứng những nhu cầu của công dân. Thường
thường, "kiểm soát và cân bằng quyền lực" khiến cho việc hành động cực kỳ
khó khăn. Walter Bagehot nói về hệ thống Mỹ như sau "ngành hành pháp bị
tê liệt vì không có được luật mà mình cần đến, và ngành lập pháp trở nên
xấu xa vì phải hành động vô trách nhiệm: ngành hành pháp trở nên không
xứng với cái tên của nó nữa vì nó không thể thực thi những gì nó quyết định
tiến hành; ngành lập pháp suy đồi vì sự tự do, vì nhận lấy các quyết định của
người khác và không phải của chính mình sẽ gây hậu quả tai hại".
Những nước cộng hòa có chính phủ theo tổng thống
• Afghanistan
• Argentina
• Armenia
• Belarus
• Bolivia
• Brasil
• Chile
• Colombia
• Costa Rica
• Cyprus
• Cộng hòa
Dominican
• Ecuador
• El Salvador
1.Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
1.1 Chính quyền Liên bang
1.1.1 Tổng thống Hoa Kỳ.
Tổng thống Hoa Kỳ là nguyên thủ quốc gia được bầu lên bởi lá phiếu
Đại cử tri nhiệm kỳ 4 năm và không quá 2 nhiệm kỳ.
Tổng thống là cá nhân quyền lực nhất quốc gia.Chính vì thế quy Tổng
thống không chỉ có quyền lực trong ngành hành pháp mà còn có ảnh hưởng
to lớn đến 2 ngành quyền lực kia.
1.1.1.1 Vai trò trong lập pháp
Quyền lực đầu tiên được Hiến pháp Hoa Kỳ qui định dành cho tổng
thống là quyền phủ quyết của tổng thống đối với các qui trình lập pháp của
Quốc hội Hoa Kỳ. Hiến pháp Hoa Kỳ bắt buộc bất cứ đạo luật nào mà Quốc
hội Hoa Kỳ thông qua đều phải được trình lên tổng thống trước khi trở thành
luật. Một khi đạo luật đã được trình lên thì tổng thống có ba sự chọn lựa:
Ký văn bản luật và đạo luật sẽ trở thành luật.
Phủ quyết văn bản luật, trả về Quốc hội kèm theo bất cứ lý do vì sao
mình phản đối. Đạo luật sẽ không thành luật trừ khi cả hai viện lập pháp của
Quốc hội biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận để gạt bỏ sự phủ quyết của
tổng thống.
Không hành động gì. Trong trường hợp này, tổng thống không ký và
cũng không phủ quyết văn bản luật. Sau 10 ngày, không kể chủ nhật, có hai
trường hợp có thể xảy ra:
• Nếu Quốc hội vẫn còn nhóm họp thì đạo luật trở thành luật.
• Nếu Quốc hội không nhóm họp thì văn bản luật không thể trả
về Quốc hội được. Lúc đó đạo luật không thành luật. Trường hợp
này được biết đến là "pocket veto" (phủ quyết gián tiếp).
Những quyền quan trong nữa của tổng thống là đưa ra dự luật ngân
sách, đề xuất và phụ trợ làm luật.
1.1.1.2 Vai trò trong hành pháp
12
quyền lực tuyên chiến được hiến pháp đặt nằm trong tay Quốc hội thì tổng
thống là người nắm quyền tư lệnh và điều khiển trực tiếp quân đội và có
trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược quân sự. Những vị khai sinh ra Hiến
13
pháp Hoa Kỳ đã thận trọng trong việc giới hạn các quyền lực của tổng thống
liên quan đến quân sự.
Quốc hội cũng đảm trách việc theo dỏi quyền lực quân sự của tổng
thống qua việc kiểm soát các qui định và chi tiêu quân sự. Tuy nhiên thực tế
ngành hành pháp đã không ít lần lấn quyền tuyên chiến, vốn đã được Hiến
pháp Hoa Kỳ giao phó cho Quốc hội
1.1.1.5 Vai trò đối ngoại.
Song song việc nắm giữ các lực lượng vũ trang, tổng thống cũng là
người nắm giữ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Qua Bộ Ngoại giao Hoa
Kỳ và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tổng thống có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ
ở hải ngoại và công dân ngoại quốc tại Hoa Kỳ. Tổng thống có quyền quyết
định việc có nên công nhận các quốc gia mới và chính phủ mới hay không
và thương thuyết các hiệp định với các quốc gia khác. Các hiệp định này có
hiệu lực khi được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận với 2/3 số phiếu tán
thành.
Tổng thống bổ nhiệm đại sứ và tiếp nhận đại sứ các nước.
1.1.2 Quốc hội Hoa kỳ
1.1.2.1 Cơ cấu.
Cơ quan lập pháp theo hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa kỳ là quốc
hội.Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện
Hạ viện là cơ quan lập pháp đại cho ý chí toàn bộ nhân dân của Liên
bang.Thượng viện đại diện cho nhân dân từng Tiểu bang.
Hạ viện có 435 nghị sĩ với nhiệm kì 2 năm,Thượng viện có 100 nghị
sĩ với nhiệm kì 6 năm.
Hạ viện có 19 ủy ban,Thượng viện có 17 ủy ban. Mỗi ủy ban chuyên
trách trong những lĩnh vực lập pháp cụ thể: các vấn đề đối ngoại, quốc
lực nước ngoài.
Ngoài ra quốc hội cũng một vài quyền vẫn còn hiệu lực nhưng các
quyền mà ngày nay đã lạc hậu.
1.1.3 Tối cao pháp viện Hoa Kỳ.
Tòa án Tối cao là tòa án cấp cao nhất của Hợp chúng quốc và là tòa án
duy nhất do Hiến pháp đặc biệt lập ra.Tòa án tối cao nắm quyền tư pháp liên
bang. Quyết định của Tòa án Tối cao thì không thể được chuyển lên phúc
15
thẩm ở bất kỳ tòa án nào khác. Quốc hội có quyền ấn định số thẩm phán
trong Tòa án Tối cao và với những giới hạn được đặt ra, quyết định loại vụ
việc nào Tòa án Tối cao có thể xét xử, song Quốc hội không thể thay đổi các
quyền mà chính Hiến pháp đã trao cho Tòa án Tối cao.
Tòa án tối cao hiện có 9 thẩm phán với nhiệm kỳ suốt đời.
Quyền lực của Tòa án:
Giám sát tư pháp và quyền lực của Tòa trong việc xác định tính hợp
hiến của các hành vi lập pháp và hành pháp.
Chánh án Tòa án Tối cao làm chủ tọa phiên tòa đàn hạch Tổng thống
tại Thượng viện.
1.2 Chính quyền Tiểu bang
Hoa Kỳ là một liên bang gồm 50 bang
Cũng giống như chính quyền quốc gia, chính quyền bang có ba
nhánh: hành pháp, lập pháp và tư pháp; chúng gần như tương đương về chức
năng và phạm vi với các ngành đồng nhiệm cấp quốc gia. Đứng đầu cơ quan
hành pháp của bang là Thống đốc, do dân chúng bầu chọn, thường với
nhiệm kỳ 4 năm (một vài bang có nhiệm kỳ là 2 năm). Trừ Nebraska là bang
có một cơ quan lập pháp đơn, còn tất cả các bang đều có cơ quan lập pháp
gồm 2 Viện: viện cao hơn thường được gọi là Thượng viện và viện thấp hơn
thường được gọi là Hạ viện, Viện Đại biểu hay Đại hội đồng bang. Trong
hầu hết các bang, thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 4 năm và hạ nghị sĩ có nhiệm
kỳ 2 năm.
Tòa án cấp cao nhất trong từng bang là Tòa án Tối cao bang hoặc Tòa phúc
thẩm bang. Các thẩm phán thường được bầu cho những nhiệm kỳ dài, nhưng
không phục vụ suốt đời. Tòa án cấp cao thường chỉ có thẩm quyền xét xử
các đơn kháng án - xem xét lại quyết định của các tòa án cấp thấp hơn. Trái
lại, các quyết định của tòa án này có thể bị kháng án lên Tòa án Tối cao Hoa
Kỳ. Cơ cấu của các tòa án cấp thấp thay đổi nhiều tùy theo từng bang. Một
số bang có những tòa án riêng để xét xử các vụ việc dân sự và hình sự, tất cả
các bang đều có một dạng tòa án tỉnh hoặc tòa án quận để xử lý những vi
phạm và khiếu kiện nhỏ.
2. Đại Hàn dân quốc
Hàn Quốc là nước nằm ở phần phía nam bán đảo Triều Tiên thuộc
khu vực Đông Á.Nền chính trị của Hàn quốc chiu ảnh hưởng của nền chính
trị Hoa kỳ.Tuy nhiên,đất nước này vẫn có những nét đặc trưng chính trị
riêng của mình.Trải qua nhiều giai đoạn với các biến cố chính trị,chiến tranh
nền cộng hòa của Hàn quốc ngày càng hoàn thiện minh chứng rõ ràng nhất
là sự phát triển về kinh tế và văn hóa.
2.1 Tổng thống Hàn quốc.
Tổng thống Hàn quốc là người đứng nhà nước và chính phủ được
nhân dân trực tiếp và có nhiệm kì 5 năm và Tổng thống không thể được bầu
lại.
17
Tổng thống có trách nhiệm:
- Duy trì và bảo vệ hiến pháp.
- Bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.
- Nghĩ vụ thống nhất và hòa bình.
Quyền hạn của Tổng thống:
- Tổng thống có thể tham gia và trình bày trước Quốc hội hoặc nêu
quan điểm bằng văn bản.
- Tổng thống có thể đệ trình các chính sách quan trọng liên quan đến
ngoại giao, quốc phòng, thống nhất đất nước và các vấn đề khác liên
cấp của Tổng thống, tuyên bố và kết thúc thiết quân luật.
2.2 Quốc hội Hàn quốc.
Quyền lực lập pháp được trao cho Quốc hội với một viện gồm tối
thiểu gồm 200 nghị sĩ.Nghị sĩ có nhiệm kì 4 năm và không thể giữ bất kì
chức vụ nào khác.
Dự án luật có thể được đệ trình bởi các đại biểu Quốc hội hoặc bởi
cơ quan Hành pháp và đưa các dư luật được thông cho đến Tổng thống.
Quốc hội thảo luận và quyết định về dự luật ngân sách.
Khi Tổng thống ban hành các sắc lệnh có hiệu lực như luật thì phải
thông báo ngay cho Quốc hội nếu Quốc hội không thông qua, các hành động
và sắc lệnh sẽ bị hủy bỏ.
Khi các quan chức Hành pháp hoặc Tư pháp vi hiến hoặc vi phạm
pháp luật Quốc hội có thể thông qua một đề xuất đàn hạch họ
2.3 Tòa án.
2.3.1 Tòa án tư pháp.
Quyền lực tư pháp được trao cho tòa án bao gồm các thẩm phán.
Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý
của Quốc hội.
Thẩm phán xét xử độc lập theo lương tâm của họ và tuân theo Hiến
pháp và luật.
2.3.2 Toà án hiến pháp.
Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền quyết định về các nội dung sau:
- Tính bất hợp hiến của luật theo đề nghị của các tòa án;
- Đàn hạch;
- Giải tán một chính đảng;
19
- Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa
các cơ quan nhà nước với chính quyền địa phương, và giữa các
chính quyền địa phương.
20
1.http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ushistory_4.html
2. http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0908_vii.html
3.4.http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_ch
%E1%BA%BF
22