LỜI CẢM ƠN
-
n
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KNS
Kỹ năng sống
GV
Giáo viên
DANH MỤC BẢNG
BẢNG
NỘI DUNG
TRANG
Bảng 3.1
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
Mường La.
37
Bảng 3.2
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
Chiềng Sinh.
38
Bảng 3.3
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
Quỳnh Nhai.
38
Bảng 3.4
Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường.
39
Bảng 3.5
Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng
ghép KNS ở trường THPTMường La.
40
Bảng 3.6
Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng
ghép KNS ở trường THPT Chiềng Sinh.
41
2
2
3
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3
4
4. Phương pháp nghiên cứu 6
6
6
7
7
7
5. Đóng góp của đề tài 7
7
n 8
6. Bố cục của đề tài 8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1. Cơ sở lí luận 9
9
13
13
ôn
13
14
14
15
15
1.1.4.2. 15
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, học sinh có nhiều điều
kiện thuận lợi để học tập, rèn luyện. Các em không chỉ học ở trường lớp mà
còn học được ở xã hội, học trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bởi thế,
yêu cầu về nguồn lao động, chất lượng lao động ngày càng tăng, điều đó đòi
hỏi học sinh không chỉ có kiến thức về lý thuyết mà còn phải có kỹ năng
sống, kỹ năng nghề nghiệp.
Hiện nay, trên thế giới nhiều quốc gia đang chú trọng tới việc rèn kỹ năng
sống (KNS). Đã có trên 155 nước trên thế gới quan tâm đến việc đưa kỹ năng
sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa
ở tiểu học và trung học. Nhiều nước đã lồng ghép nội dung rèn KNS vào các
môn học, đặc biệt là các môn thuộc khoa học xã hội.
Giáo dục phổ thông ở nước ta trong những năm qua đã được đổi mới về cả
mục tiêu, nội dung và phương pháp học gắn với 4 trụ cột giáo dục của thế kỷ
XXI là: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống
– mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống. Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học
sinh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong những nội dung của
phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong
nhà trường trong giai đoạn 2008-2013.
Giáo dục KNS có vai trò quan trọng là những nhịp cầu giúp cho con người
biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực lành mạnh. Người có
KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách, biết ứng xử,
giải quyết vấn đề một cách tích cực, phù hợp, họ thường thành công hơn trong
cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống. Ngược lại, nếu người thiếu KNS
dễ vấp ngã và thất bại trong cuộc sống.
Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Các em học sinh
hôm nay sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước. Non sông Việt Nam có trở nên
vẻ vang đó là nhờ vào thế hệ tương lai. Đặc biệt, lứa tuổi học sinh là lứa tuổi
tiêu
Đề tài hoàn thành với mục tiêu cơ bản là: Giúp cho học sinh hiểu được
KNS, các kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên trong thời kỳ biến đổi khí hậu
cho học sinh trên địa bàn tỉnh Sơn La, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên môi
trường, kỹ năng chăm sóc bảo vệ môi trường, kỹ năng phòng tránh thiên tai và
hành vi gây hại đến môi trường sống. Trên cơ sở đó, giúp các em biết ứng dụng
các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể sử dụng và khai
thác một cách hợp lí các nguồn tài nguyên đảm bảo sự phát triển bền vững.
Để đạt được mục tiêu trên đề tài có nhiệm vụ cơ bản là:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận có liên quan đến KNS, giáo dục KNS, nội
dung giáo dục KNS.
3
- Thống kê, phân tích những bài, nội dung có liên quan đến KNS trong chương
trình Địa lí 10 để đưa vào bài giảng các kỹ năng cho học sinh ở bậc học này.
- Thiết kế một số giáo án và tiến hành thực nghiệm ở trường THPT trên địa
bàn tỉnh Sơn La.
- Đề tài nghiên cứu dạy kỹ năng sống cho đối tượng là học sinh lớp 10 ở trên
địa bàn tỉnh Sơn La. Đề tài được tiến hành thực nghiệm ở 3 trường THPT tiêu biểu là
trường THPT Mường La, THPT Chiềng Sinh, trường THPT Quỳnh Nhai.
- Kỹ năng sống bao gồm rất nhiều kỹ năng khác nhau như: Kỹ năng kiên định;
kỹ năng xác định mục tiêu; kỹ năng nhận thức; kỹ năng giao tiếp… Đề tài chỉ
nghiên cứu để dạy một số kỹ năng cơ bản là kỹ năng ứng xử với môi trường tự
nhiên, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng bảo vệ môi
trường, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến môi trường sống.
- Đề tài chỉ nghiên cứu việc rèn KNS ở một số bài học Địa lí trong chương
trình Địa lí lớp 10, phần địa lí tự nhiên.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
bảo vệ môi trường, kỹ năng chăm sóc sức khỏe, kỹ năng phòng chống
HIV/AIDS. Nhiều nước dạy chuyên đề cần thiết như kỹ năng tạo thu nhập, bảo
vệ môi trường, kỹ năng nghề, kỹ năng kinh doanh.
Như vậy, có thể nói rằng việc rèn KNS cho học sinh các trường phổ thông
không chỉ riêng quốc gia nào, mà đây là một vấn đề mang tính toàn cầu, đã được
nhiều nước rất quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề kỹ năng sống và giáo dục KNS cho học sinh được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về các vấn đề này chủ yếu xác định
những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia
và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên
(trong đó có học sinh THPT). Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là:
của tác giả Phạm Văn Nhân [2002], [10]; , tác
giả Trần Thời (1998) [14].
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống
về kỹ năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình,
tác giả có nhiều bài báo, đề tài khoa học cấp Bộ, giáo trình bàn về kỹ năng sống.
Những công trình tiêu biểu của tác giả là , Chuyên đề
cao học, ĐHSP Hà Nội. , Giáo trình dành cho sinh
viên Cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
Viện Chiến lược và
Chương trình giáo dục, Hà Nội. Những công trình này đặt cơ sở và tạo ra những
hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam.
Những nội dung chủ yếu mà tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đề cập đến
trong các nghiên cứu là xác định những vấn đề lý luận cốt lõi về kỹ năng sống
và giáo dục kỹ năng sống. Tác giả đã trình bày được khái niệm về kỹ năng sống,
5
các loại kỹ năng sống. Điều đặc biệt là tác giả đã trình bày được các phương
tác giả đề cập đến nhằm giúp cho giáo viên nhận thức đầy đủ về bản chất, mục
tiêu, nguyên tắc giáo dục KNS, nội dung của các KNS và việc lựa chọn các
KNS cần giáo dục cho học sinh. Phần 2 nhóm tác giả đề cập đến việc giáo dục
KNS trong môn Địa lí ở trường trung học cơ sở (THCS). Trong phần này, nhóm
tác giả đề cập đến 3 nội dung cơ bản là: phân tích khả năng, mục tiêu
6
giáo dục KNS cho học sinh trong môn Địa lí ở trường THCS. Nội dung này giúp
giáo viên có nhận thức về việc vận dụng kiến thức của môn Địa lí vào giáo dục
KNS cho học sinh THCS. giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiết
học/bài học tiêu biểu của môn Địa lí vào giáo dục KNS cho học sinh ở từng lớp.
tiến hành soạn một số bài tham khảo về giáo dục KNS trong môn Địa lí
ở trường THCS. Cuốn sách này là nguồn tài liệu giúp cho các thầy cô có thể vận
dụng để rèn KNS cho học sinh THCS.
Như vậy, vấn đề giáo dục KNS trong nhà trường nói chung đã có nhiều tác
giả đề cập đến. Các công trình này là những cơ sở giúp cho tôi kế thừa phát huy
để nghiên cứu đề tài “
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1.
Đây là một phương pháp nghiên cứu rất quan trọng trong việc tiếp cận
vấn đề. Tài liệu thu thập được về mặt lí luận sẽ giúp chúng ta hiểu biết được các
thành tựu trong quá khứ và những vấn đề cập nhật hiện tại.
Sau khi phân tích và nhóm tài liệu, xử lý theo yêu cầu của đề tài sẽ giúp
chúng ta phát hiện những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề đang bỏ ngỏ.
Các tài liệu mà tôi thu thập được rất phong phú từ các sách báo, các đề tài
nghiên cứu khoa học và các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các tài liệu bàn về
KNS trên mạng internet… tất cả các tài liệu đó tôi nghiên cứu, phân tích, đánh
giá để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu.
4.2.
Đề tài được thực nghiệm tại một số lớp ở trường THPT, do đó kết quả thực
nghiệm sẽ được thống kê, xử lý và tính toán. Trên cơ sở những số liệu đã được
xử lí để rút ra một số kết luận cần thiết.
Các giáo án thiết kế được thực nghiệm ở 3 trường. Tôi đã tiến hành điều tra ở
lớp thực nghiệm với 350 em học sinh, lớp đối chứng 349 em học sinh, với những
nội dung khác nhau. Sau khi phát phiếu điều tra xin ý kiến, tôi đã phân tích, xử lý
số liệu thống kê. Những số liệu được phân tích, tính toán một cách tỉ mỉ trong mối
tương quan tổng thể, từ đó có những đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết.
Đây là một phương pháp phổ biến và thông dụng trong môn Địa lí. Các
biểu đồ đều mang một thông tin nhất định. Trong đề tài tôi đã xây dựng các biểu
đồ cột thể hiện kết quả thực nghiệm. Đề tài đã xây dựng được 2 biểu đồ thể hiện
kết quả nghiên cứu về sự cần thiết phải lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho
học lớp 10 qua môn Địa lí.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ góp phần phát triển lí luận về giáo dục KNS cho học
8
sinh lớp 10 và bước đầu thiết lập cơ sở lí luận về giáo dục KNS trong môn Địa lí
thông qua việc lồng ghép những nội dung cụ thể trong từng môn học. Những
vấn đề trên thể hiện qua một số quan điểm sau:
Giáo dục KNS nói chung và thông qua môn Địa lí lớp 10 trên địa bàn tỉnh
Sơn La nói riêng nhằm giúp phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh để các
em rèn KNS, kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên trong thời kì biến đổi khí
hậu. Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng xử với cuộc sống, con người và vận
dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể sử dụng, khai
thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Việc tích hợp và lồng ghép thông qua một số bài học cụ thể không chỉ đem
lại sự sinh động, phong phú trong nội dung bài giảng mà còn góp phần hình
UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu
niên. Tuy nhiên, cho đến nay, KNS vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng và
đầy đủ.
Theo WHO: Kỹ năng sống là năng lực tâm lí xã hội, là khả năng ứng phó một
cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả
năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu
hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn
hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lí có vai trò quan trọng trong việc
phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. KNS là khả
năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này [12].
Theo UNICEF, (UNICEF Thái Lan, 1995): Kỹ năng sống là khả năng phân
tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh
được các tình huống. Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái
chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng thành
hành động thực tế làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất
xây dựng.
UNESCO (2003) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả
năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực
giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách
thức trong cuộc sống hàng ngày.
Tại Việt Nam, hiện nay cũng có khá nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm KNS. ThS. Nguyễn Thị Oanh trình bày quan điểm KNS với tư cách là đối
tượng của giáo dục KNS là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với
những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [12].
Theo tiến sĩ tâm lí Huỳnh Minh Sơn: “KNS là những kĩ năng tinh thần hay
những kĩ năng tâm lí, kĩ năng tâm lí - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và
thích ứng trong cuộc sống. Những kĩ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được
chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển.
năng để sống còn như học chữ, học nghề, làm toán tới kỹ năng bơi lội… với
khái niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên.
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu
vực và từng quốc gia. Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh,
dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục hành
vi và cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục
lòng yêu hòa bình. Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các
11
nước cũng khác nhau. Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ
sức khỏe, phòng tránh tệ nạn xã hội, nghĩa là kĩ năng sống chỉ dành cho một số
nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội,
KNS không phải là cần cho mọi người. Nhưng ở một số nước khác sự nhận thức
về KNS sâu sắc hơn, do đó KNS được phát triển cho mọi đối tượng để với những
KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau,
trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từng loại đối tượng. Tuy nhiên,
xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm
KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển kĩ năng sống cho các
đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên. Điều này được lí giải bởi hai
lí do: nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với năng lực tâm
lí xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS.
Năng lực tâm lí xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách
ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống
khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. Nhưng, điều
cần lưu ý là con người không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức
của cuộc sống mà con người còn cần và phải biết thay đổi một cách phù hợp
mang tính tích cực; khái niệm KNS theo nghĩa rộng bao hàm trong nó
năng lực tâm lí xã hội với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung cho việc hỗ trợ
cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với
người khác trong xã hội. Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề
Kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc,
đương đầu với căng thẳng.
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng thành phần:
Kĩ năng quan hệ tương tác nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cực
của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả.
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng: Tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề.
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả [3,4] đã khẳng định: Dù phân
loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như: Kĩ
năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng
thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng nhận thức, kĩ
năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu [3]. Thống nhất với quan niệm này, đề
tài đã giới hạn các KNS được nghiên cứu để giáo dục cho học sinh lớp 10 trên
địa bàn tỉnh Sơn La thông qua môn Địa lí gồm các kĩ năng: Kĩ năng ứng xử với
môi trường thiên nhiên, kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng sử dụng hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến môi
trường sống. Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng dụng các kiến thức đã học vào
thực tiễn sản xuất sau này để sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên,
đảm bảo sự phát triển bền vững.
Đề tài nghiên cứu các kỹ năng này nhằm giáo dục cho học sinh một số kỹ
năng cần thiết để giúp cho các em học sinh lớp 10 có thể vận dụng vào thực tiễn
ở địa phương, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên của quê hương. 13
Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp
độ xã hội và cấp độ nhà trường [9]. Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ
quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện
thông qua các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục là các hoạt động do các
14
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp. Tạo điều kiện cho học sinh nắm những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống,
hiểu và vận dụng các kĩ năng đó vào thực tế cuộc sống của các em một cách
hiệu quả, tạo sự tự tin cho các em trong mọi tình huống của cuộc sống, tự tin
trong học tập góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Làm cho các em làm chủ được bản thân, ứng phó được với những khó
khăn trong cuộc sống, một cách hiệu quả.
- Rèn luyện cho các em lối sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và
xã hội.
- Giúp cho các em mở ra những cơ hội về những suy nghĩ, lựa chọn, thực
hành có hiệu quả về nghề nghiệp cũng như công việc của các em sau này.
- Tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình
và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào mục tiêu, chương trình
giáo dục THPT nói chung và lớp 10 nói riêng.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào nội dung chương trình
dạy học Địa lí lớp 10.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lí lứa
tuổi học sinh lớp 10.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào tầm quan trọng của các
kĩ năng sống đối với các em học sinh lớp 10.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào cơ sở thực tiễn về thực
trạng kĩ năng sống của học sinh lớp 10.
- Xác định kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh lớp 10 phải căn cứ vào
trình bày những quan điểm của bản thân về các vấn đề tự nhiên, kinh tế xã hội một
cách tự tin hiệu quả, các em sẽ đứng vững được trước những áp lực của người xung
quanh, đồng thời bày tỏ quan điểm của mình trước các vấn đề thiên nhiên, kinh tế
xã hội đang diễn ra trong thực tế.
1.1.4.2.
- Mục tiêu là cái đích mà học sinh muốn đạt tới, muốn thực hiện ở mỗi một
giai đoạn, mỗi một công việc.
- Mục tiêu có thể là sự hiểu biết (muốn biết về một cái gì đó), có thể là một
hành vi (muốn làm được cái gì đó) hay có thể là một sự thay đổi về thái độ.
- Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của học sinh trong việc đề ra những cái
đích có thể thực hiện được cho một vấn đề nào đó của cuộc sống. Việc đặt mục
16
tiêu trong cuộc sống là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Nó giúp các em
sống có định hướng, không có quá nhiều ảo tưởng và tham vọng.
- Người có kĩ năng đặt mục tiêu sẽ xác định được các mục tiêu một cách cụ
thể và thực tế, phù hợp với hoàn cảnh bản thân.
- Mục tiêu giống như những con đường mà ta tự vạch ra để các em bước đi
trong cuộc sống của mình, hãy tự đặt câu hỏi nếu ta sống không có mục tiêu thì
sẽ ra sao?
- Kĩ năng xác định mục tiêu là kĩ năng sống quan trọng đối với mỗi em học
sinh, trong dạy học địa lí kĩ năng này sẽ giúp các em xác định mục tiêu học tập
một cách rõ ràng không coi nhẹ bộ môn địa lí như một số ý kiến cho rằng đây là
môn học phụ, không quan trọng.
+ Kĩ năng đặt mục tiêu sẽ giúp các em đề ra các phương pháp học tập phần
địa lí tự nhiên đại cương, làm các bài tập thực hành một cách hiệu quả vì đây là
nội dung học khó trong chương trình địa lí lớp 10.
+ Trong cuộc sống khi có kĩ năng xác định mục tiêu sẽ giúp các em học
sinh đề ra hướng đi, phương pháp học tập môn địa lí nói riêng, các môn học
khác nói chung một cách hiệu quả.
học tập ở những môn học nào để có những định hướng nghề nghiệp mai sau
cho phù hợp hơn.
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc trao đổi những thông tin, mong muốn, suy
nghĩ, tình cảm giữa người này với người khác.
- Các hình thức giao tiếp: Bằng lời, không lời, trực tiếp, gián tiếp.
- Đối tượng giao tiếp bao gồm: Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giao
tiếp giữa cá nhân với nhóm, giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng
đồng
- Giao tiếp là kĩ năng quan trọng sẽ giúp học sinh có nhiều thuận lợi trong
học tập cũng như cuộc sống, nó cho phép các em tự tin khi đối diện với mọi
người. Khả năng giao tiếp của các em được hình thành trong một quá trình rèn
luyện lâu dài, qua kinh nghiệm thực tế của bản thân các em, qua việc học hỏi
người khác đặc biệt được rèn luyện qua các tình huống cụ thể của cuộc sống.
- Để giao tiếp hiệu quả các em cần có các kĩ năng sau:
+ Lắng nghe tích cực và phản hồi tích cực khi tiếp nhận thông tin. Lắng
nghe tích cực là yếu tố cần thiết để quá trình giao tiếp có hiệu quả. Mỗi học sinh
cần biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác khi họ đang nói. Người nói
phải có người nghe, có như vậy quá trình giao tiếp mới có hiệu quả.
+ Tôn trọng nhu cầu của đối tượng giao tiếp, hay tôn trọng người giao tiếp
với mình. Chân thành, cảm thông chia sẻ với người mình giao tiếp, nhất là khi
họ gặp khó khăn, hoạn nạn.
+ Vui vẻ, hoà nhã, chân thành, cầu thị, luôn tìm ở người khác những điều
tốt hơn mình để học tập.
18
+ Kết hợp giữa lời nói với cử chỉ, điệu bộ, động tác để tạo sự hấp dẫn đối
với người khác trong giao tiếp.
- Trong dạy học địa lí 10 có nhiều nội dung học tập cần có sự thảo luận, trao
đổi, do vậy, giáo dục kĩ năng giao tiếp sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Khi các em được
19
1.1.5
Trước yêu cầu cấp bách về việc đưa KNS vào chương trình giáo dục học
đường, trong đó có giáo dục phổ thông nói chung, THPT nói riêng, thời gian qua
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về việc xây dựng
chương trình giáo dục KNS cho HS các cấp học. Một trong những vấn đề được
quan tâm ở các hội thảo này là phương thức thực hiện giáo dục KNS cho HS
như thế nào cho hiệu quả.
Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm của một số nước cho thấy có 3 phương
án thực hiện giáo dục KNS cho học sinh là:
- Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập của
học sinh.
- Lồng ghép các nội dung giáo dục KNS vào các môn học có ưu thế và các
hoạt động giáo dục khác.
- Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học (trong đó có môn Địa lí).
Theo quan điểm của tôi do KNS được hình thành và phát triển thông qua
trải nghiệm và gắn liền với hoạt động sống của HS nên việc giáo dục KNS cho
học sinh hình thành một môn học riêng là ít khả thi, kém hiệu quả vì để xây
dựng nên một môn học theo hướng trên sẽ tốn nhiều thời gian nghiên cứu và
thực hiện, cũng như môn học đạo đức vậy HS có thể học thuộc lòng các khái
niệm đạo đức nhưng chưa chắc học sinh có những hành vi phù hợp với chuẩn
mực đạo đức mà các em rất thuộc.
Phương thức lồng ghép cũng được thực hiện với một số nội dung giáo dục
cần cập nhật vào chương trình giáo dục phổ thông như giáo dục dân số, giáo dục
môi trường…tuy nhiên, giáo dục KNS, phương thức này cũng không nhiều hiệu
quả. Những khó khăn khi thực hiện theo phương thức này là:
- Khó khăn trong việc xác định các môn học để lồng ghép. Những môn học
này phải đảm bảo những yếu tố tương đồng với đặc trưng của giáo dục KNS