khóa luận tốt nghiệp sự thể hiện của hoán dụ tu từ trong tập thơ điêu tàn của chế lan viên - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ NHÀN SỰ THỂ HIỆN CỦA HOÁN DỤ TU TỪ TRONG
TẬP THƠ ĐIÊU TÀN CỦA CHẾ LAN VIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Để hoàn thành khóa luận này cùng với nỗ lực của bản thân em còn được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo Bùi Kim Tuyến. Ngoài ra, em
cũng đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Ngữ văn,
các cán bộ thư viện của trường Đại học Tây Bắc cũng như của gia đình và
bạn bè.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo Thạc sĩ Bùi
Kim Tuyến – Giảng viên chính, Tổ trưởng bộ môn tiếng Việt đã giúp đỡ,
hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện và hoàn thành khóa
luận này.
Quá trình nghiên cứu và viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót vì thế em kính mong các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên góp ý kiến để
khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người viết

Nguyễn Thị Nhàn MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 6
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
4.1. Phương pháp thống kê phân loại 8
4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu 8
4.3. Phương pháp phân tích tu từ học 8

2.1.3. Kết quả thống kê 34
2.1.4. Nhận xét 35
2.2. Sự thể hiện của hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên 36
2.2.1. Hoán dụ tu từ biểu hiện cho phong cách thơ Chế LanViên 36
2.2.2. Giá trị biểu cảm của hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên 41
2.3. Giá trị tu từ của hoán dụ tu từ trong bài thơ “Trên đường về” 45
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hàng ngày, có những hiện tượng lấy tên của sự vật X để
gọi tên cho sự vật Y, do giữa X và Y có những nét nào đó tương cận nhau. Đặc
điểm này của sự vật đã kích thích vào khả năng liên tưởng, giúp chúng ta nhận
thức về thế giới quan đa dạng một cách sinh động. Xuất phát từ thực tế cuộc
sống đa dạng phong phú, qua cảm nhận chủ quan và cảm nhận của thời đại, cái
mà tác giả đã đưa vào tác phẩm văn chương của mình chính là những kết quả
liên tưởng. Nói cách khác, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát huy, các tác
giả đã thực hiện những liên tưởng của mình sao cho thỏa mãn được nhu cầu giao
tiếp của cộng đồng. Cách liên tưởng như vậy vừa có tính truyền thống, tính thời
đại, vừa mang tính cá nhân chủ quan. Cách liên tưởng ấy chính là hoán dụ tu từ -
là một trong những phương thức chuyển nghĩa phổ biến.
Việc hiểu và nắm vững những phương thức chuyển nghĩa hoán dụ đã góp
phần làm giàu vốn ngôn ngữ, làm giàu tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng về ý
nghĩa. Mặt khác, nếu biết sử dụng tốt phương thức này thì cách diễn đạt của chúng
ta chắc chắn sẽ cô đọng, hàm súc, truyền cảm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.
Đặc biệt với ngành sư phạm Ngữ văn thì việc hiểu kĩ về các phương tiện và
biện pháp tu từ, trong đó có hoán dụ tu từ lại càng cần thiết hơn. Bởi nó giúp
nâng cao năng lực cảm thụ văn chương, hiểu được giá trị hình tượng cảm xúc

lớp 12 (Nhà xuất bản Giáo Dục 2009) như sau:

Stt
Số bài đưa
vào học
Tên tác giả
Số bài đưa vào giảng chính
(lớp)
Số bài đọc thêm (lớp)
8
9
10
11
12
8
9
10
11
12
1
Huy Cận
0
0
0
1
0
0
0
0
0

1
0
0
0
0
0
0
5
Anh Thơ
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
6
Xuân Diệu
0
0
0
1
0
0
0
0
0

thì cũng chỉ là mới “đả động” đến mà chưa đi vào “mổ xẻ” tìm hiểu một cách
chi tiết thấu đáo, điều đó làm mờ đi tài năng của Chế Lan Viên trong việc sử
dụng ngôn từ và hình ảnh thơ.
Từ thực trạng trên người thực hiện khóa luận quyết định đi vào tìm hiểu,
nghiên cứu về “Sự thể hiện của hoán dụ tu từ trong tập thơ Điêu tàn của Chế
Lan Viên” để giúp cho giáo viên và học sinh thuận lợi trong việc cảm thụ cái
hay cái độc đáo trong thơ Chế Lan Viên.
2. Lịch sử vấn đề
Phương thức hoán dụ từ lâu được các nhà nghiên cứu quan tâm, trong các
giáo trình về từ vựng học tiếng Việt: Nguyễn Văn Tu [22], Đỗ Hữu Châu [2],
Nguyễn Thiện Giáp [4] đều nói tới hiện tượng chuyển nghĩa nói chung và
phương thức hoán dụ nói riêng.
Hoán dụ tu từ đã được các tác giả như: Đinh Trọng Lạc [12], Cù Đình Tú
[21], Nguyễn Thái Hòa [6], Hữu Đạt [3], nghiên cứu cụ thể trên phương diện lý
thuyết các tác giả đều cho rằng hoán dụ là một phép tu từ để trang trí, góp phần

4
làm giàu hình tượng, cảm xúc của tiếng Việt, song mỗi tác giả tại mỗi thời điểm
lại có cách gọi và sự phân loại khác nhau.
Đinh Trọng Lạc [13], xem “hoán dụ tu từ là hoán dụ thực hiện hóa mối liên
hệ bất ngờ giữa hai khách thể”. Hoán dụ tu từ thường được cấu tạo dựa vào
những mối liên hệ logic khách quan: liên hệ giữa bộ phận và toàn thể; liên hệ
giữa chủ thể (người) và vật sở thuộc (y phục, đồ dùng); liên hệ giữa công cụ lao
động và bản thân sức lao động hoặc kết quả của lao động; liên hệ giữa số ít và số
nhiều, giữa con số cụ thể và con số tổng quát (cải số); liên hệ giữa vật chứa
đựng và vật được chứa đựng (cải dung); liên hệ giữa hành động, tính chất và kết
quả của hành động, tính chất. Với cách phân chia như vậy ta thấy được mối
quan hệ tương cận giữa hai sự vật, hai hiện tượng. Tuy nhiên ta vẫn chưa thấy
được tính đa dạng, phong phú của hoán dụ tu từ.
Khi xét về hiện tượng chuyển nghĩa hoán dụ Đỗ Hữu Châu [2] cho rằng:

tâm hồn vừa nhạy cảm, vừa suy tư của Chế Lan Viên. Tập thơ đầu tay “Điêu
tàn” được viết lúc nhà thơ mới 15 – 16 tuổi, xuất bản năm 1937, khi tác giả đang
là học sinh năm thứ ba trung học ở Quy Nhơn, đã gây được sự chú ý đặc biệt và
đưa Chế Lan Viên vào trong số những nhà Thơ Mới hàng đầu.
Trong một quãng thời gian dài từ khi thơ Chế Lan Viên xuất hiện đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu bàn luận về thơ Chế Lan Viên ở nhiều
phương diện khác nhau.
Trương Tửu: “Chế Lan Viên chỉ sống bằng trực giác. Bao nhiêu hình tượng
đặc sắc, những hình tượng có cảnh, ông đều tìm thấy đột ngột nhờ cảm giác một
cách linh cảm, huyền diệu chỉ nảy nở sớm ở những tâm hồn tế nhị”. Như vậy, chỉ
có những tâm hồn “tế nhị” mới có thể cảm nhận một cách tinh tế những giá trị,
những hình tượng của cuộc sống. “Chế Lan Viên là nhà thi sĩ thuần túy biết xây cái
nhà trên cái móng” đó là cái “nhà thơ” trên cái móng hiện thực.
Trần Hoài Anh: “Chế Lan Viên – một gương mặt thơ đa dạng luôn tạo lên
những bất ngờ đầy ấn tượng trên thi đàn thơ ca”.
Cũng như dự đoán của nhà phê bình lỗi lạc Hoài Thanh từ hơn nửa thế kỉ
trước về Chế Lan Viên: “Con người này quả là con người của trời đất, của bốn
phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được [19]. Gần đây nhắc lại ý

6
trên, dựa vào tầm nhìn thời đại thì Bùi Mạnh Nhị khẳng định sự vinh danh Chế Lan
Viên “Nhà thơ không thể lấy kích tấc thường mà đo được” [17].
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh – Hoài Chân nhận định trước sự xuất
hiện của thơ Chế Lan Viên trong vườn thi ca “Giữa đồng bằng văn học Việt
Nam ở nửa thế kỉ XX, nó đứng sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và
lẻ loi, bí mật. Chúng ta, người đồng bằng, thỉnh thoảng trèo lên đó – có người
trèo đuối sức mà trầm ngâm và xem gạch rung, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời
cũng hay, nhưng triền miên trong đó không nên. Riêng tôi, mỗi lần nấn ná trên
ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: Không biết mình là người hay là ma”.
Nhìn chung số lượng công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm khá đa

trong thơ Chế Lan Viên nhằm tìm ra những phương tiện tu từ này một cách
chính xác.
Thứ hai: Khảo sát thơ Chế Lan Viên, đặc biệt là tập thơ “Điêu tàn” của nhà
thơ, tìm ra những bài thơ, câu thơ có sử dụng hoán dụ tu từ để từ đó đưa ra nhận
xét, đánh giá khái quát về việc sử dụng các phương tiện tu từ trong tập thơ
“Điêu tàn” của Chế Lan Viên.
Thứ ba: Phân tích giá trị nghệ thuật của phương tiện và biện pháp tu từ hoán dụ
trong việc biểu đạt nội dung, tư tưởng của tác phẩm thơ Chế Lan Viên. Tiếp theo là
phân tích giá trị cụ thể của hoán dụ tu từ trong bài thơ “Trên đường về”.
Từ đó đề xuất một số cách phân tích, cảm thụ khác khi lĩnh hội cái độc đáo
trong thơ Chế Lan Viên. Đồng thời cũng thấy được bút pháp sử dụng ngôn ngữ
điêu luyện của tác giả.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chế Lan Viên là nhà thơ rất chú trọng phép tu từ trong ngôn ngữ. Ngôn
Ngữ thơ như được tu sức “sáng bóng” lên qua bàn tay đúc luyện, gọt giũa. Hầu
như Chế Lan Viên không bao giờ chịu nói mộc mạc, trần trụi. Hình ảnh sự vật
bao giờ cũng nổi bật lên với những loại từ. Ngôn ngữ cùng với hình ảnh tạo nên
vẻ lấp lánh màu sắc cho câu thơ. Đã có ý kiến cho rằng: “Chế Lan Viên là một
trong những cây bút chiếm tỉ số cao nhất” về “tỉ lệ sử dụng tu từ, mĩ từ”. Nhưng
do điều kiện về khả năng và thời gian nên với đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu

8
về hoán dụ tu từ trong tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên. Qua đó thấy được
giá trị biểu đạt, giá trị thẩm mĩ của hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên.
Để thực hiện quá trình nghiên cứu một cách có hiệu quả thì việc điểm qua
một số quan điểm của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình về thơ Chế Lan Viên là
không thể thiếu. Từ đó chúng tôi đã rút ra những nhận xét để phục vụ hữu ích
cho việc nghiên cứu đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê phân loại

Tuy nhiên, phân tích tu từ học chỉ là thao tác tác động vào tư tưởng, tình
cảm của nghệ thuật. Sự phân tích này đi liền với quá trình tổng hợp để tìm hiểu
tính chỉnh thể của tác phẩm, nhằm lấy được giá trị của mỗi yếu tố, mỗi phương
tiện, biện pháp tu từ trong cái toàn thể đó là tác phẩm.
Bên cạnh ba phương pháp cơ bản trên thì chúng tôi còn sử dụng các tài liệu
khoa học để cung cấp những kiến thức, làm cho khóa luận hoàn thiện hơn.
5. Những đóng góp của khóa luận
Chế Lan Viên là một tác giả lớn được giới thiệu trong nhà trường từ bậc
phổ thông đến đại học. Điều đó đã cho thấy Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn và
có đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam.
Vì vậy khóa luận hoàn thành hy vọng giúp ích chủ yếu trực tiếp cho học
sinh, sinh viên và bạn đọc yêu văn thơ Chế Lan Viên. Đặc biệt là về phong cách
tác giả, về giá trị biểu cảm của hoán dụ tu từ trong tập thơ “Điêu tàn” của nhà
thơ Chế Lan Viên.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận có cấu trúc gồm hai
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết.
Chương 2: Sự thể hiện của hoán dụ tu từ trong tập thơ “Điêu tàn” của Chế
Lan Viên.
Ngoài ra phần khóa luận này còn có phần mục lục, danh mục và tài liệu
tham khảo.

10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học đạt được tính vạn năng trong phản ánh
đời sống. Văn học có thể phản ánh bất cứ phương diện nào của đời sống hiện
thực. Còn có phương diện nào mà ngôn từ con người không thể nói được. Về
nguyên tắc, văn học có khả năng vô hạn trong tái hiện đời sống và có khả năng

sung, còn có màu sắc tu từ.
Cũng như phong cách chức năng, màu sắc tu từ là một trong các khái niệm
cơ bản của phong cách học. Với nó, người ta sẽ đi đến những khái niệm khác
như phương tiện tu từ, biện pháp tu từ.
Màu sắc tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất
bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ. Nói cách khác, màu
sắc tu từ là khía cạnh biểu cảm - cảm xúc của ý nghĩa của từ (diễn tình cảm,
những sự đánh giá, những ý định…) bên cạnh khía cạnh sự vật – logic của ý
nghĩa [10].
Ví dụ :
Từ vựng tiếng Việt có rất nhiều từ chỉ sự chết của con người: chết, qua đời,
đi, bỏ (bố mẹ), về, khuất núi, hai năm mươi, tắt thở, nhắm mắt, từ trần, tạ thế, hi
sinh, bỏ mạng, thiệt mạng, ngoẻo, ngủ với giun,…Chúng đều là những từ đồng
nghĩa khác nhau về sắc thái. Để minh chứng cho điều đó chúng ta đi phân tích
một số từ ngữ trong dãy đồng nghĩa này.
Trước hết, để cho tiện diễn đạt, chúng ta xem nghĩa của chết là nghĩa khái
quát, làm cơ sở để giải nghĩa các từ khác. Đối với người Việt Nam, có hai cách
chết, một cách chết được xem là thuận theo lẽ tự nhiên, theo số mệnh quy định,
đó là những cái chết do bệnh tật xảy ra trong điều kiện sống bình thường của
một người. Cách chết thứ hai là cách chết không bình thường, không đáng chết
hoặc chưa đáng chết mà chết, những cái chết “bất đắc kì tử”. Trong những cái
chết không bình thường này lại có cái chết vì sự nghiệp lớn, vì tổ quốc, vì trách
nhiệm, vì nhân dân và những cái chết do mình “mua lấy”, tuy không phải là tự
tử nhưng do mình làm những việc nào đó vì những động cơ không chính đáng
thí dụ như đi đua xe trái phép, đi đào vàng…

12
Bên cạnh đó người Việt Nam còn phân biệt những cái chết theo tuổi tác: có
những cái chết của trẻ em, những cái chết của ông già bà cả, những cái chết của
thanh niên và những người đứng tuổi,…Lại có những cái chết khác nhau về địa

Anh ta đã bỏ mạng ngoài chiến trường rồi.
Đa số các từ trong ngôn ngữ chỉ có phần thông tin cơ bản (còn gọi là ý
nghĩa chỉ xuất) như: chăn, màn, giày, dép… Nhưng trong ngôn ngữ cũng có
nhiều từ ngoài phần thông tin cơ bản ra còn có thông tin bổ sung (còn gọi là ý
nghĩa hàm chỉ) như: lẻn, chuồn, sáng dạ… Màu sắc tu từ chính là ý nghĩa hàm
chỉ.I.V.Acnon xác định ý nghĩa hàm chỉ như sau: “khi xem xét thông tin được
chứa đựng một cách tương ứng trong thông báo trên cấp độ các từ có thể thấy
rằng các từ bên cạnh ý nghĩa chỉ xuất nêu rõ đối tượng của lời nói còn có ý
nghĩa hàm chỉ vốn được hình thành từ những thành tố cảm xúc, biểu cảm, bình
giá và tu từ học – chức năng”.
Màu sắc tu từ là phần ý nghĩa bổ sung, là yếu tố nhỏ bé, tinh tế làm nên sự
đối lập giữa các phương tiện trung hòa của ngôn ngữ với các phương tiện tu từ
của ngôn ngữ. Còn trong các biện pháp tu từ, thì cách phối hợp sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ cả trung hòa lẫn tu từ cũng đưa đến một tác dụng, một
hiệu quả là làm nảy sinh những màu sắc tu từ. Vì vậy có thể nói rằng nếu không
có màu sắc tu từ thì sự giao tiếp trong xã hội sẽ trở nên tẻ nhạt bao nhiêu, ngôn
ngữ chỉ có những đơn vị y hệt nhau, những cách nói đơn điệu, truyền đạt độc
một loại thông tin thuần ý niệm.
1.1.2. Phương tiện tu từ
Những phương tiện tu từ thường được gọi là những phương tiện diễn cảm,
nhưng gọi như vậy dễ gây hiểu lầm là chúng chỉ diễn đạt tình cảm, cảm xúc.
Thực ra những phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý
nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có
màu sắc tu từ. Người ta còn gọi chúng là những phương tiện tu sức về mặt tu từ
hoặc đôi khi, những phương tiện được đánh dấu về mặt tu từ. Màu sắc tu từ
nhiều khi được gọi là sắc thái tu từ (cốt để nhấn mạnh sự đối lập giữa phần
nghĩa cơ bản và phần nghĩa bổ sung) nhưng từ “sắc thái” có lẽ nên dành để chỉ
những sắc thái nhỏ bé, tinh tế, đậm nhạt khác nhau của màu sắc, ví như màu sắc
cảm xúc có những sắc thái: trân trọng, kính trọng, kính nể, kính cẩn,…


lập “trung hòa – tu từ” trong nội bộ kết cấu của các phương tiện. Vì rõ ràng việc

15
sử dụng các biện pháp tu từ, đó là lĩnh vực của sự sáng tạo không ngừng, càng
thể hiện khả năng lựa chọn sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nói chung, phù hợp với
đặc trưng của từng phong cách chức năng. Để rèn luyện được kĩ năng xây dựng
và lĩnh hội văn bản, đánh giá được thái độ và ý định của người nói qua văn bản,
nhất là đánh giá được giá trị thẩm mĩ của văn bản thì cần phải nhận diện và sử
dụng được, phân tích được nhiều loại biện pháp tu từ. Chính biện pháp tu từ đã
làm nên những câu văn hay, những câu thơ hay, những tác phẩm hay. Bởi vì cái
hay ở đây không chỉ do nội dung hay mà còn hình thức hay, hình thức diễn đạt
ngôn ngữ mới mẻ, đặc sắc. Đọc một câu thơ, câu văn thấy hay nhưng không biết
hay ở chỗ nào. Phong cách học chính là nhằm giúp người sử dụng biết cái đó.
Và đề tài này chúng tôi đi vào nghiên cứu hoán dụ tu từ trong tập thơ “Điêu tàn”
của Chế Lan Viên.
1.1.4. Sự khác nhau giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ
Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có sự khác nhau được thể hiện ở các
cấp độ như: Cấp độ từ vựng, cấp độ ngữ nghĩa, cấp độ cú pháp, cấp độ văn bản.
1.1.4.1. Trên cấp độ từ vựng
Đinh Trọng Lạc [14] quan niệm: Các phương tiện tu từ từ vựng được xác
định là những đơn vị từ vựng đồng nghĩa mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự
vật – logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ. Căn cứ vào
phạm vi được ưu tiên sử dụng, những từ đồng nghĩa tu từ được hình thành từ
bốn yếu tố:
- Biểu cảm: chứa đựng yếu tố hình tượng.
- Cảm xúc: diễn đạt những tình cảm, cảm xúc.
- Bình giá: khen, chê, tốt, xấu.
- Phong cách chức năng: chỉ rõ phạm vi sử dụng, thường xuyên, cố định.
Ví dụ :
Từ “bạn gái” là phương tiện từ vựng trung hòa thì các từ sau đây là

lớp tu từ học, thuộc một hay nhiều cấp độ ngôn ngữ, kết hợp một cách hài hòa
với nhau dẫn đến một hiện tượng liên tưởng có sức biểu hiện mạnh mẽ.
Quan hệ tương phản: những yếu tố được đánh dấu về tu từ học thuộc các
lớp tu từ học khác nhau, bề ngoài tưởng đối chọi nhau, mâu thuẫn nhau nhưng

17
thực ra lại thống nhất với nhau một cách biện chứng, có khả năng gợi liên tưởng
đến bản chất của những hình tượng, sự vật, hiện tượng.
1.1.4.2. Trên cấp độ ngữ nghĩa
Đinh Trọng Lạc [14] quan niệm: Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa là những
định danh thứ hai mang màu sắc tu từ của sự vật, hiện tượng…
Ví dụ :
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
(Ca dao)
Trong cách nói “múc ánh trăng vàng đổ đi” của câu ca dao trên được coi là
phương tiện tu từ ngữ nghĩa tức là tên gọi thứ hai bằng hình tượng. Phương tiện
tu từ ngữ nghĩa này được dùng trong câu ca dao, thể hiện tài năng quan sát, trí
thông minh trong sự so sánh và tấm lòng yêu mến công việc lao động đồng áng.
Từ “múc” có khả năng diễn đạt mới: vốn chỉ nói đến động tác tác động đến
những vật hữu hình: múc nước, múc canh… Ở đây dùng để nói đến động tác tác
động đến cả vật vô hình: múc ánh trăng. Tả như vậy ai cũng thấy đẹp. Ánh trăng
lan mặt nước cho nên nói “múc ánh trăng vàng đổ đi”. Là một cách tả kết hợp
giữa thực tế và cách tưởng tượng làm đẹp thêm rất nhiều công việc lao động của
nhà nông.
Căn cứ vào loại hình ảnh được sử dụng, phương tiện tu từ ngữ nghĩa được
chia ra như sau:
- Phương tiện tu từ dùng hình ảnh về lượng gồm: phóng đại, thu nhỏ, nói
giảm,…
- Phương tiện tu từ dùng hình ảnh về chất: ẩn dụ, cải danh, nhân hóa, phúng

các kiểu câu rút gọn, mở rộng thành phần hay đảo trật tự từ.
Ví dụ :
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
(Qua đèo ngang)
Với cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ nhằm để tạo sự nhấn mạnh, nổi bật ý
thơ. Đúng ra câu thơ phải được sắp xếp: 19
Vài chú tiều lom khom dưới núi
Mấy nhà chợ lác đác bên sông
Thế nhưng nhà thơ đã đưa vị ngữ lên trên đầu câu để nhấn mạnh nội dung
cần diễn đạt: Đó là làm cho người đọc hiểu rằng cảnh sinh hoạt ở đây chỉ có một
vài “chú tiều” trong dáng vẻ tiều tụy, bé nhỏ, thêm vào đó một vài ngôi nhà nằm
rải rác ở bên ven sông. Cảnh sinh hoạt thật buồn vắng. Chính cảnh tượng ấy
càng tạo cho nhà thơ cảm giác hiu quạnh, trống trải, tẻ nhạt.
Các biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu
để đạt được hiệu quả tu từ trong phạm vi của một đơn vị thuộc bậc cao hơn
(trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, cả văn bản) như: sóng đôi, đảo đôi, lặp
đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ, tách biệt, liên kết tu từ học…
Ví dụ :
Câu hỏi tu từ có ý nghĩa khẳng định làm cho hình tượng văn học đẹp lên
gấp bội:
Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay không có tuổi?
Mái tóc em đây hay là mây là suối?
Đôi mắt em nhìn hay lửa chớp đêm đông?
Thịt da em hay là sắt là đồng?
(Người con gái Việt Nam)

biệt rõ rệt như vậy song giữa chúng có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc
sử dụng các biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa nó
thành một phương tiện tu từ, đây chính là trường hợp của những cái gọi là so
sánh, phóng đại đã mòn đi trong thời gian. Hơn nữa cùng một phương tiện tu từ
có thể được cùng để xây dựng lên những biện pháp tu từ rất khác nhau. Và
ngược lại những biện pháp tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây
dựng cùng một biện pháp tu từ duy nhất.
Việc xác định, phân loại và miêu tả các phương tiện tu từ cũng như các
biện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính nhất quán trong tất cả các cấp độ
ngôn ngữ sẽ giúp cho người học luôn có ý thức về sự tồn tại của những phương
tiện tu từ trong thế đối lập với những phương tiện trung hòa; giúp cho người đọc
thấy được tầm quan trọng của sự đối lập quen thuộc, mới mẻ giữa biện pháp

Trích đoạn Trong thơ văn nghệ thuật Sự thể hiện của hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên Giá trị biểu cảm của hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status