BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ BẠCH TUYẾT
PHƢƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG TOÁN
VỀ SỐ THẬP PHÂN Ở LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Tiểu
học – Mầm non, Trung tâm Thông tin thư viện trường Đại học Tây Bắc, các bạn
sinh viên lớp K51 Đại học Giáo dục Tiểu học A đã tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho em trong quá trình thực hiện khóa luận .
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Bạch Tuyết
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
G : Giỏi
K : Khá
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5. Khách thể nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Cấu trúc của khóa luận 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lí luận 4
1.1.1. Quan niệm và vai trò của bài tập toán trong quá trình dạy học 4
1.1.1.1. Quan niệm về bài toán 4
1.1.1.2. Vai trò của bài tập toán trong quá trình dạy học 4
1.1.2. Vai trò của nội dung số thập phân trong dạy học và thực tiễn 5
1.2. Cơ sở thực tiễn 6
1.2.1. Nội dung dạy học số thập phân 6
1.2.1.1. Mục đích yêu cầu 6
1.2.1.2. Khái niệm số thập phân 7
1.2.1.3. So sánh số thập phân 8
1.2.1.4. Bốn phép tính về số thập phân 9
1.2.1.5. Một số tính chất của các phép tính trên số thập phân 10
1.2.1.6. Ứng dụng số thập phân 10
1.2.2. Một số phương pháp thường dùng khi giải Toán về số thập phân 10
1.2.2.1. Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng 13
1.2.2.2. Phương pháp chia tỉ lệ 13
1.2.2.3. Phương pháp thử chọn 14
1.2.2.4. Phương pháp tính ngược từ cuối 14
1.2.2.5. Phương pháp ứng dụng sơ đồ 15
1.2.2.6. Phương pháp dùng chữ thay số 15
1.2.3. Những điều cần lưu ý khi giảng dạy 16
1.2.4. Điều tra khảo sát thực trạng dạy và học về số thập phân 16
1.2.4.1. Điều tra học sinh 16
1.2.4.2. Điều tra giáo viên 17
đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Vì lẽ đó, có thể coi giáo dục
đồng nghĩa với sự phát triển. Có thể khẳng định rằng, không có giáo dục thì
không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hóa và
xã hội.
Hiện nay, công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội đang diễn ra từng ngày từng
giờ trên khắp đất nước, đòi hỏi những lớp người lao động mới có bản lĩnh có
năng lực hoạt động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thích ứng được với thực tiễn
cuộc sống xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của
nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu
về nội dung và phương pháp dạy học nhằm “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Để thực hiện nhiệm vụ này cần tổ chức hợp lý quá trình học tập của học sinh,
kích thích nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập của học sinh; giúp học sinh có
khát vọng, niềm tin để nắm vững và hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Môn Toán ở Tiểu học nói chung và nội dung số học nói riêng có một vị trí
quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu
rất quan trọng của con người. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học
có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết để học các môn học khác
ở Tiểu học. Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương
pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp
phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó
đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người
lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có
nền nếp và tác phong khoa học.
Mục tiêu của môn Toán ở Tiểu học là nhằm giúp học sinh có những kiến
thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số và số thập phân. Số thập
2
phân không chỉ đóng vai trò quan trọng trong mạch kiến thức số học mà nó còn
3
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Phương pháp giải một số dạng toán về số thập phân.
Nội dung số thập phân trong chương trình Toán 5.
GV và HS một số trường tiểu học.
5. Khách thể nghiên cứu
Trường tiểu học Tân Dương- huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Trường tiểu học Thị trấn Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu tìm hiểu nguồn thông tin từ tài liệu, giáo trình có liên quan đến
đề tài.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Dùng phiếu điều tra kết hợp với phỏng vấn giáo viên và học sinh về phương
pháp giải một số dạng toán về số thập phân ở Toán 5.
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng những đề xuất đề ra tác động đến học sinh lớp 5 tại hai trường tiểu
học trong quá trình thực nghiệm. Thu được kết quả xử lí bằng phương pháp toán
học.
7. Cấu trúc của khóa luận
Mở đầu.
Nội dung.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Phương pháp giải một số dạng toán về số thập phân.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo
4
PHẦN NỘI DUNG
Phát triển năng lực trí tuệ: rèn luyện những hoạt động tư duy hình thành
những phẩm chất trí tuệ, trí tưởng tượng không gian.
Thứ hai: Trên bình diện nội dung dạy học, những bài tập toán học là giá
mang hoạt động liên hệ với những nội dung nhất định để người học kiến tạo
những tri thức nhất định trên cơ sở đó thực hiện những mục tiêu dạy học khác.
Những bài tập toán còn là một phương tiện cài đặt nội dung để hoàn chỉnh
hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lí thuyết.
Thứ ba: Trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập toán học là giá mang
hoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở đó thực
hiện các mục tiêu dạy học khác. Khai thác tốt những bài tập như vậy sẽ góp
phần tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập, linh hoạt trong giao lưu.
Trong thực tiễn dạy học, bài tập được sử dụng với những dụng ý khác nhau
về phương pháp dạy học. Đảm bảo trình độ xuất phát, gợi động cơ, làm việc với
nội dung mới, củng cố hoặc kiểm tra. Đặc biệt là về mặt kiểm tra, bài tập là
phương tiện đánh giá mức độ, kết quả dạy và học, khả năng làm việc độc lập và
trình độ phát triển của học sinh. Một bài tập cũng có thể nhằm vào một hay
nhiều dụng ý trên, nhưng cũng có thể bao hàm những ý đồ nhiều mặt.
1.1.2. Vai trò của nội dung số thập phân trong dạy học và thực tiễn
Nội dung cốt lõi của môn Toán lớp 5 là dạy học và ứng dụng những kiến
thức, kỹ năng về số thập phân và bốn phép tính với số thập phân. Có thể nói, đây
là sự kết tinh các kết quả của quá trình dạy học số học ở bậc tiểu học. Để học tập
có hiệu quả về số thập phân và các phép tính về số thập phân học sinh phải huy
động các kiến thức và kỹ năng về số tự nhiên, phân số, số đo đại lượng và các
phép tính với các loại số này đã được học từ lớp 1 đến lớp 4. Ngược lại, khi học
và thực hành với số thập phân, học sinh vừa hiểu hơn về các số đã học vừa hệ
thống hóa và củng cố các kiến thức, kỹ năng về các số và phép tính đã học. Như
vậy, phạm vi và cấu trúc nội dung của chương trình môn Toán ở tiểu học đã tạo
điều kiện cho học sinh phát triển các kiến thức và kỹ năng cơ bản của số học
ngày càng sâu và rộng, đến lớp 5 có thể đạt đến đỉnh cao của sự phát triển đó.
thập phân. Biết đọc, viết, so sánh các STP. Biết sắp xếp một nhóm các số thập
phân theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
7
* Phép cộng và phép trừ các STP
- Biết cộng, trừ các STP có đến ba chữ số ở phần thập phân, có nhớ không
quá hai lượt.
- Biết sử dụng tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng các số
thập phân trong thực hành tính.
- Biết tính giá trị của các biểu thức có không quá ba dấu phép tính cộng, trừ
có hoặc không có dấu ngoặc.
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép cộng hoặc phép trừ.
* Phép nhân các STP
- Biết thực hiện phép nhân có tích là số tự nhiên, STP có không quá ba chữ
số ở phần thập phân trong một số trường hợp:
+ Nhân một STP với một số tự nhiên có không quá hai chữ số, mỗi lượt nhân
có nhớ không qua hai lần.
+ Nhân một STP với một STP, mỗi lượt nhân có nhớ không qua hai lần.
- Biết nhân nhẩm một STP với 10, 100, 1000,… hoặc cho 0,1; 0,01; 0,001;…
- Biết tính giá trị của các biểu thức STP có đến ba dấu tính.
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép nhân hoặc phép chia với STP.
1.2.1.2. Khái niệm số thập phân
Số thập phân được đưa vào chương trình Toán lớp 5 sau phần ôn tập về phân
số. Dạy học STP ở tiểu học nhằm cung cấp cho học sinh tiểu học một loại số
mới, một công cụ biểu diễn số đo đại lượng, là một dạng biểu diễn của phân số
thập phân, tiện hơn trong tính toán và trong thực tiễn.
Có 3 cách tiếp cận khái niệm STP được dùng trong SGK Toán 5.
Cách 1: Tiếp cận kiểu dựa vào phân số.
Số thập phân được coi như một dạng biểu diễn mới của phân số thập phân.
Khái niệm số thập phân được hình thành theo sơ đồ sau:
1
1000
của mét (hoặc của kilogam) trước khi hiểu
1
10
;
1
100
;
1
1000
của một đơn vị trừu tượng. Trên cơ sở nhận thức ban đầu đó rồi
trừu tượng hóa, khái quát hình thành khái niệm số thập phân. Cách này thể hiện
ở tiết thứ 3 hình thành khái niệm STP trong Toán 5.
Cách 3: Mã hóa lại số nguyên.
Cách tiếp cận này cũng dựa trên các kiến thức và khái niệm đã có về hệ thập
phân và dựa vào quan hệ giữa các đơn vị của một số đại lượng (có quan hệ giữa
2 đơn vị đo liền kề hơn kém nhau 10 lần).
Ví dụ: Vụ thu hoạch ngô của một gia đình với số lượng 2680 kg ngô. Người
ta chọn một đơn vị đo mới là tấn để biểu diễn lại số đó ta được 2,68 tấn. Xuất
hiện 2,68 gọi là số đo thập phân. Cách này gọi là mã hóa lại số nguyên.
Chú ý: Khi hình thành khái niệm STP cho HS lớp 5 cần làm rõ:
- STP là loại số mới, một dạng biểu diễn khác của phân số thập phân. Nó
mở rộng tác dụng so với số tự nhiên ở chỗ có thể biểu diễn chính xác hơn các số
đo dại lượng.
- Cách ghi số thập phân cũng dựa trên nguyên tắc ghi số theo vị trí với hệ cơ
số 10 giá trị của mỗi chữ số phụ thuộc vào vị trí hàng mà nó đứng trong cách
ghi. Cụ thể là: mọi số tự nhiên đều có thể coi là số thập phân có phần thập phân
là 0, mọi số thập phân đều có thể biểu diễn dưới dạng phân số thập phân và
ngược lại.
- Trong quy tắc cộng (trừ) hai số thập phân, chỉ khác phép cộng (trừ) hai số
tự nhiên ở chỗ phải đặt dấu phẩy và tổng hoặc hiệu tìm được thẳng cột các dấu
phẩy của từng số hạng.
- Phép nhân hai số thập phân chỉ khác phép nhân hai số tự nhiên ở chỗ phải
đặt dấu phẩy để tách phần nguyên và phần thập phân bằng cách đếm số chữ số
thập phân ở các thừa số rồi tách ở tích tìm được kể từ phải sang trái.
10
- Trong phép chia cho số thập phân, vận dụng tính chất: Nếu cùng nhân cả
số bị chia và số chia với cùng một số khác 0 thì thương không đổi, để đưa về
phép chia số tự nhiên hoặc chia số thập phân cho số tự nhiên, ta cần chú ý cho
học sinh về dấu phẩy ở thương.
1.2.1.5. Một số tính chất của các phép tính trên số thập phân
Mọi tính chất của phép toán trên số tự nhiên đều được áp dụng trên STP.
- Tính chất giao hoán của phép cộng, phép nhân.
- Tính chất kết hợp của phép cộng, phép nhân.
- Một tổng nhân với một số, một số nhân với một tổng.
Mối quan hệ giữa các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trên STP.
- Khi học về phép trừ STP có thể thử lại bằng phép cộng số thập phân, khi
học về phép chia STP có thể thử lại bằng phép nhân STP.
- Tạo thành nhóm các bài tập cộng, trừ, nhân, chia.
1.2.1.6. Ứng dụng số thập phân
STP được ứng dụng trong viết số đo đại lượng và giải các bài toán về tỉ số
phần trăm.
1.2.2. Một số phƣơng pháp thƣờng dùng khi giải Toán về số thập phân
* Phương pháp chung tìm lời giải bài toán
Để giải một bài toán ta thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích đề bài
Phát biểu đề bài dưới những dạng hình thức khác nhau để hiểu rõ nội dung
bài toán.
trong quá trình giải toán
+ Thông qua việc giải toán cụ thể, cần đặt ra cho học sinh những câu hỏi
gợi ý đúng tình huống để học sinh dần dần biết sử dụng những phương tiện này
như những phương tiện kích thích suy nghĩ tìm tòi, dự đoán, phát hiện để thực
hiện từng bước phương pháp chung giải toán
Những câu hỏi lúc đầu là do giáo viên đưa ra để hỗ trợ cho học sinh nhưng
dần biến thành vũ khí của bản thân học sinh, được học sinh nêu ra đúng lúc,
đúng chỗ để gợi ý từng bước đi của mình trong quá trình giải toán.
12
Như vậy, quá trình học sinh tìm tòi phương pháp chung giải toán là một quá
trình biến những tri thức phương pháp tổng quát thành kinh nghiệm giải toán
của bản thân mình thông qua việc giải hàng loạt các bài toán cụ thể. Từ phương
pháp chung giải bài toán đi tới cách giải cụ thể một bài toán còn là cả một chặng
đường đòi hỏi lao động tích cực của người học sinh, trong đó có nhiều yếu tố
sáng tạo: “Tìm được cách giải bài toán là một phát minh”
* Các yêu cầu đối với lời giải bài toán
Để phát huy tác dụng của bài tập toán học, trước hết cần nắm vững các yêu
cầu của lời giải bài toán. Nói một cách vắn tắt, lời giải phải đúng, ngắn gọn, dễ
hiểu cụ thể là:
i) Kết quả đúng, kể cả các bước trung gian
Kết quả cuối cùng phải là một đáp số đúng, một biểu thức, một hình vẽ,…
thỏa mãn các yêu cầu đề ra. Kết quả các bước trung gian cũng phải đúng. Như
vậy, lời giải không thể chứa những sai lầm tính toán, hình vẽ.
2i) Lập luận chặt chẽ
Phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Luận đề phải nhất quán
- Luận cứ phải đúng
- Luận chứng phải hợp lôgic
3i) Lời giải đầy đủ
Phương pháp chia tỷ lệ còn dùng để giải các bài toán về cấu tạo số tự nhiên,
cấu tạo phân số, cấu tạo số thập phân, các bài toán có nội dung hình học, các bài
toán chuyển động đều… .
Đối với các bài toán về tìm ba số khi biết tổng và tỷ số hoặc hiệu và tỷ số của
chúng, ta cũng dùng phương pháp chia tỷ lệ.
Khi giải bài toán bằng phương pháp chia tỷ lệ ta thường tiến hành theo bốn
bước:
Bước 1: Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng. Dùng các đoạn thẳng để
biểu thị các số cần tìm. Số phần bằng nhau của các đoạn thẳng đó tương ứng với
tỉ số của các số cần tìm.
Bước 2: Tìm tổng hoặc hiệu số phần bằng nhau.
14
Bước 3: Tìm giá trị của một phần.
Bước 4: Xác định mỗi số cần tìm.
Khi giải bài toán về cấu tạo số thập phân, ta thường sử dụng các tính chất
dưới đây của số thập phân:
Tính chất 1: Khi dời dấu phẩy của một số thập phân từ phải qua trái một,
hai, hoặc ba hàng thì số đó giảm đi 10, 100. 1000 lần.
Tính chất 2: Khi dời dấu phẩy của một số thập phân từ trái qua phải một,
hai, hoặc ba hàng thì số đó tăng lên gấp 10, 100, 1000 lần.
1.2.2.3. Phương pháp thử chọn
Phương pháp thử chọn dùng để giải các bài toán về tìm một số khi số đó
đồng thời thỏa mãn một số điều kiện cho trước.
Phương pháp thử chọn có thể dùng để giải các bài toán về cấu tạo số tự
nhiên, cấu tạo số thập phân, cấu tạo phân số và cả các bài toán có văn và hình
học, toán về chuyển động đều, toán tính tuổi…
Khi giải bài toán bằng phương pháp thử chọn ta thường tiến hành theo hai
bước:
Bước 1. Liệt kê: Trước hết ta xác định các số thỏa mãn một số trong các
cạnh chỉ các phép toán. Phép toán xuôi theo điều kiện của đề bài và phép toán
ngược cần thực hiện để đi đến số cần tìm.
1.2.2.6. Phương pháp dùng chữ thay số
Trong khi giải nhiều bài toán, số cần tìm được kí hiệu bởi một biểu tượng
nào đó ( có thể là ?, , * hoặc các chữ a, b, c,x, y,…). Từ cách chọn kí hiệu nói
trên, theo điều kiện của đề bài, người ta đưa về một phép tính hay dãy tính chứa
các biểu tượng này. Dựa vào quy tắc tìm thành phần chưa biết của phép tính, ta
tính được số cần tìm. Cách giải bài toán như trên ta gọi là phương pháp dùng
chữ thay số (hay còn gọi là phương pháp đại số)
Phương pháp dùng chữ thay số được dùng để giải nhiều dạng toán khác
nhau: Tìm số chưa biết trong dãy tính hoặc phép tính; tìm chữ số chưa biết của
một số tự nhiên; điền chữ số thay cho các số trong các phép tính,…. .
Cơ sở khoa học của phương pháp dùng chữ thay số là các quy tắc về tìm
thành phần chưa biết của phép tính.
16
1.2.3. Những điều cần lưu ý khi giảng dạy
Để dạy học giải bài tập ta cần chú ý những điểm sau:
Khi dạy học giải bài tập cần xây dựng, chọn lọc hệ thống bài tập bao gồm:
+ Bài tập tương tự với bài tập trong sách giáo khoa dành cho học sinh trung
bình.
+ Bài tập tổng hợp nhằm ôn lại, hệ thống hóa các kiến thức.
+ Bài tập mở có tính chất khái quát mà bài tập trong sách giáo khoa là một
trường hợp riêng dành cho học sinh khá giỏi.
+ Thực hiện các bước tìm tòi lời giải.
+ Tiến hành tổ chức, hướng dẫn học sinh giải bài tập.
1.2.4. Điều tra khảo sát thực trạng dạy và học về số thập phân
Để tìm hiểu thực trạng dạy và học phần số thập phân ở trường tiểu học, tôi
đã tiến hành điều tra trên hai đối tượng: học sinh khối 5 và giáo viên tại một số
trường tiểu học và thu được kết quả như sau:
9
0
Tân Dương
53
10
43
14
27
10
2 17
Bảng 2. Kết quả kiểm tra một số kỹ năng
STT
Một số kỹ năng cơ
bản về số thập
phân
Trường TH TT Thuận
Châu
Trường TH Tân Dương
Thành
thạo
Chưa
thành
thạo
Chưa
biết
Thành
Thạo
Phép nhân
59
8
1
42
9
2
5
Phép chia
54
12
2
39
10
4
Qua điều tra thực trạng dạy và học phần số thập phân ở một số trường tiểu
học tôi thấy học sinh thường mắc một số khó khăn sau:
+ Tách sai dấu phẩy ở tích trong phép nhân
+ Chuyển sai dấu phẩy ở số bị chia trong phép chia
+ Chưa có phương pháp giải bài tập về số thập phân một cách khoa học,
làm bài tập một cách máy móc
Ngoài ra một số học sinh còn thiếu tài liệu học tập liên quan và điều kiện
học tập chưa tốt.
1.2.4.2. Điều tra giáo viên
Bảng 3. Bảng điều tra giáo viên trường khảo sát
Trường
tiểu học
Số
lượng
0
Tân
Dương
28
6
13
9
13
15
0
18
10
0 18
Đây là hai trường tiểu học ở hai địa điểm hoàn toàn riêng biệt, thuận lợi cho
việc khảo sát và vận dụng phương pháp.
Thực trạng việc dạy học số thập phân và áp dụng các phương pháp giải vào
giải một số dạng toán về số thập phân được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 4. Bảng thực trạng việc áp dụng các phương pháp giải vào giải một số
dạng toán về số thập phân
Nội dung
Đối
tượng
Cần thiết phải áp
dụng các phương
pháp giải toán
Thường xuyên áp
10 GV
(35,7%)
12 GV
(42,8%)
16 GV
(57,2%)
15 GV
(53,6%)
13 GV
(46,4%)
Tìm hiểu những khó khăn của GV khi áp dụng các phương pháp giải toán
vào giải một số bài toán về số thập phân cho học sinh tiểu học, được thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 5: Khó khăn của GV trong áp dụng các phương pháp giải toán vào giải
một số bài toán về số thập phân cho HS tiểu học.
Nội dung
Đối
tượng
Không nắm
vững PP giải
toán
HS không hứng
thú với PP giải
toán
Tốn thời gian
áp dụng
Phạm vi sử
dụng hạn chế
TH TT
vào việc điều tra thực trạng dạy và học về số thập phân, tôi xin đề xuất giải pháp
sư phạm như sau:
Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên cần tìm hiểu những khó khăn,
những lỗi sai mà học sinh thường mắc phải, tìm hiểu rõ nguyên nhân để có biện
pháp khắc phục. Trong quá trình giảng dạy cần áp dụng các phương pháp giải
toán vào việc giải các bài tập liên quan tới số thập phân, hướng dẫn học sinh áp
dụng các phương pháp ấy để giải bài toán. Đồng thời, giáo viên cần tích cực
tham gia vào các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn, tự bồi dưỡng để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ và biết cách áp dụng các phương pháp giải toán
vào giải các bài tập.
Đối với các cấp quản lí cần tổ chức nhiều buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên
môn để giáo viên cùng trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau.
1.2.6. Kết luận chương
Qua việc nghiên cứu, phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của khóa luận
đã làm rõ hơn được quan niệm về bài toán, vai trò của bài tập toán trong quá
trình dạy học, tìm hiểu về vai trò của nội dung số thập phân trong dạy học và
thực tiễn; nghiên cứu nội dung dạy học số thập phân: mục đích- yêu cầu, khái
niệm số thập phân, so sánh số thập phân, bốn phép tính về số thập phân, một số
tính chất của các phép tính trên số thập phân, ứng dụng số thập phân; tìm hiểu
một số phương pháp thường được sử dụng khi giải các bài toán về số thập phân;
nghiên cứu những điều cần lưu ý khi giảng dạy; tìm hiểu thực trạng dạy và học
về số thập phân … Chính vì vậy đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ quan tâm tới
phương pháp giải một số dạng toán về số thập phân ở lớp 5 nhằm nâng cao hiệu
quả dạy và học môn Toán ở trường tiểu học.