khóa luận tốt nghiệp xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài chiến thắng lịch sử điện biên phủ - Pdf 22



TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON

ĐOÀN THỊ HIỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN KHI DẠY BÀI 17:
“CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ”
SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5
Sơn La, tháng 05 năm 2014



Hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo
của TS. Phạm Văn Lực. Em cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Tiểu học – Mầm non và các bạn sinh viên lớp K51A Đại học giáo dục Tiểu học
đã ủng hộ và động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Thư viện trường Đại
học Tây Bắc cùng toàn thể các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học
Quyết Tâm và Trường Tiểu học Quyết Thắng - thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La
đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và
các bạn sinh viên để khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Ngƣời thực hiện

Đoàn Thị Hiền
DANH MỤC VIẾT TẮT
3. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài 3
4. Đối tượng, phạm vi đề tài, cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
4.1. Khách thể nghiên cứu 4
4.2. Đối tượng nghiên cứu 4
4.3. Giả thuyết khoa học 4
4.4. Phạm vi nghiên cứu 4
4.5. Cơ sở tài liệu 4
4.6. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Cấu trúc của khóa luận 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU 6
1. Cơ sở lí luận 6
1.1. Mục tiêu và những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường
Tểu học hiện nay 6
1.2. Khái quát về phân môn Lịch sử ở tiểu học 7
1.3. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học ảnh hưởng đến việc học tập
môn Lịch sử 12
1.4. Hứng thú học tập của học sinh tiểu học 13
2. Cơ sở thực tiễn 16
2.1. Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở tiểu học hiện nay 16
2.2. Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở trường tiểu học ở tỉnh Sơn La 18
2.3. Thực tiễn về tình hình học tập phân môn Lịch sử của học sinh tiểu học hiện
nay 19
2.4. Thực tiễn về việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học phân môn Lịch sử
cho HSTH 20
CHƢƠNG 2. XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN TRONG DẠY HỌC BÀI
17 “CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ” 23
2.1. Quan niệm về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử 23
2.2. Xây dựng và sử dụng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17:“Chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ" 27

người Việt Nam, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Lịch Sử là một trong những lĩnh vực kiến thức quan trọng cần phải trang bị
cho học sinh tiểu học. Tuy nhiên trong xã hội hiện nay, môn Lịch sử vẫn chưa
thực sự được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức. Môn Lịch sử vẫn bị coi là
một môn học phụ, đứng sau hai môn học chính là Toán và Tiếng Việt.
Mặt khác, đối với học sinh tiểu học, việc học môn Lịch sử gây cho HS rất
nhiều khó khăn và đối tượng HS là lứa tuổi có nhiều đặc điểm đặc biệt về tâm –
sinh lí và nhận thức.
Có thể nói, một trong những nguyên nhân sâu xa khiến thế hệ trẻ ngày nay
không hứng thú với môn Lịch sử cũng có một phần trách nhiệm của các nhà
giáo dục nói riêng và của cả xã hội nói chung. Chúng ta dạy cho HS biết về lịch
sử nhưng việc dạy học môn Lịch sử chưa thực sự có hiệu quả. Một phần là do
các nhà giáo dục chưa có giải pháp để giúp các em ghi nhớ về các sự kiện lịch
sử, các nhân vật lịch sử tiêu biểu, HS chỉ đọc và học thuộc lòng một cách sáo

2
rỗng những bài học lịch sử. Chính vì vậy, các em HS không nắm chắc kiến thức
lịch sử nền tảng ngay từ đầu nên càng lên những lớp cao, kiến thức lịch sử cứ
thế trống rỗng dần. Vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay là phải khắc phục lối dạy
học lạc hậu, một chiều, áp đặt, phải kết hợp một cách linh hoạt PPDH truyền
thống và hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ và
sáng tạo cho HS.
Đa số HS tiểu học chưa thực sự hứng thú và đam mê với môn Lịch sử vì
các em cho rằng môn Lịch sử vừa khô khan, khó học lại khó nhớ rõ và chính xác
từng sự kiện, từng mốc son lịch sử. Mặt khác, GV chưa thực sự biết cách đặt câu
hỏi gợi mở để HS trả lời, giúp HS nắm vững và khắc sâu nội dung của từng bài
học một cách nhẹ nhàng.
Xuất phát từ tình hình thực tế của việc dạy và học môn Lịch sử nói trên, tôi
đã mạnh dạn lựa chọn khoá luận: “Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nhằm góp phần giúp cho HS ghi nhớ và

chuẩn trong chương trình và sách giáo khoa [II, trang 107].
Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề
này một cách hoàn chỉnh, hệ thống; nhiều vấn đề về đổi mới phương pháp,
tăng cường thông tin cho HS, nhất là xây dựng câu hỏi phát vấn cho HS tiểu
học vẫn chưa được làm rõ.
3. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài
- Xuất phát từ tình hình thực tế của việc dạy và học lịch sử ở trường Tiểu
học nói chung, ở chương trình lịch sử lớp 5 nói riêng. Tôi thấy việc sử dụng câu
hỏi phát vấn trong dạy học Lịch Sử ở lớp 5 nói chung, trong bài “Chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ” nói riêng chưa thực sự đầy đủ và hiệu quả. Vì vậy, tôi
mạnh dạn nghiên cứu khóa luận này nhằm: Xây dựng hệ thống câu hỏi phát vấn
khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”.
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận này cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Sưu tầm và tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến khóa luận để xây dựng
cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu.
- Khảo sát tình hình thực tế, điều tra thực trạng việc sử dụng câu hỏi phát vấn
trong dạy học môn Lịch Sử ở lớp 5 nói chung và trong bài “Chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ” nói riêng nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu.

4
- Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”.
- Thiết kế giáo án, thực nghiệm sư phạm.
- Đóng góp của đề tài:
+ Cụ thể và làm phong phú thêm hệ thống các PPDH lịch sử ở trường Tiểu học.
+ Thiết thực đổi mới phương pháp, tạo sự sinh động cho bài giảng, gây
hứng thú học tập cho học sinh.
+ Nâng cao chất lượng bài học lịch sử, đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo
dục, khắc phục tình trạng chán học môn Lịch sử.
4. Đối tƣợng, phạm vi đề tài, cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy của GV và hoạt động học
của HS để thu thập các thông tin thiết thực nhất phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra: Tiến hành điều tra bằng cách trực tiếp nói chuyện
với GV và HS ở trường Tiểu học nhằm nắm được thực trạng việc sử dụng câu hỏi
phát vấn trong dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” của GV và hiệu quả
của việc nắm vững nội dung bài học “Chiến Thắng lịch sử Điện Biên Phủ” của HS.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm xây dựng câu
hỏi phát vấn thông qua việc soạn giáo án và dạy – học bài “Chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ”
 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm thu thập và xử lý số liệu, rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
5. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17: “Chiến thắng lịch
sử Điện Biên Phủ”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


- Trân trọng các nền văn hoá của dân tộc, có tinh thần quốc tế chân chính vì
hoà bình, và tiến bộ xã hội.
- Có những phẩm chất cần thiết của người công dân: thái độ tích cực trong
việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước - cộng đồng; yêu lao
động; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo pháp luật, đoàn kết dân tộc.
1.1.2. Những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ
thông hiện nay
Bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp
dạy học lịch sử nói riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm
trung tâm” sang mô hình “lấy học sinh làm trung tâm”. Lấy học sinh làm
trung tâm trong dạy học lịch sử thực chất là phát huy tính tích cực, độc lập
nhận thức của người học, trong đó chủ yếu là tư duy.
Như vậy yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là vấn đề đang đặt
ra cấp thiết. Khắc phục lối dạy học cũ truyền thụ một chiều áp đặt, thầy đọc trò
chép sang lối dạy học tăng cường thông tin, phát huy tính tích cực, chủ động
của người học.
1.2. Khái quát về phân môn Lịch sử ở tiểu học
1.2.1. Mục tiêu của phân môn Lịch sử
Phân môn Lịch sử ở nhà trường Tiểu học có một vị trí cực kì quan trọng
trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện. Việc dạy học phân môn Lịch
sử nhằm đạt được các mục tiêu sau:
a. Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu ở các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam
từ buổi đầu dựng nước tới nay.
b. Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS các kĩ năng:
- Quan sát sự vật, hiện tượng
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để
giải đáp.
- Phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử.


+ Sự chia cắt đất nước.

9
+ Bến Tre đồng khởi.
+ Miền Bắc xây dựng: nhà máy cơ khí Hà Nội.
+ Hậu phương và tiền tuyến: đường Trường Sơn.
+ Chiến dịch Hồ Chí Minh.
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (1975 đến nay)
+ Hoàn thành thống nhất đất nước.
+ Xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình.
1.2.3. Đặc trưng bộ môn Lịch sử; các định hướng và giải pháp đổi mới
PPDH lịch sử
Đổi mới PPDH ở trường phổ thông là quá trình áp dụng các PPDH hiện đại
vào nhà trường trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của PPDH truyền thống
nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của HS; chuyển từ học tập thụ
động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo; chú
trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn. Để đổi mới phương pháp học tập của HS tất nhiên phải đổi mới phương
pháp giáo dục của GV và đổi mới môi trường diễn ra các hoạt động giáo dục.
Đổi mới phương pháp giáo dục là quá trình:
- Chuyển từ giáo dục truyền thống một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là
ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng
tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức
của GV. Những gì mà HS nghĩ được, nói được, làm được, GV không làm thay,
nói thay.
Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của HS trở nên
lí thú, gắn với thực tiễn, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học
theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa HS trong quá
trình giáo dục.
Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường Tiểu học là làm cho HS học tập

đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc lòng theo thầy, theo SGK mà là:
HS thông qua quá trình làm việc với sử liệu, tự tạo cho mình các hình ảnh lịch
sử, tự hình dung về lịch sử đó diễn ra trong quá khứ. “Ngay ở Tiểu học, HS cũng
phải được làm quen và học tập các thao tác trí tuệ trong hoạt động khoa học của

11
các nhà sử học, dù mức độ của nó chỉ dừng lại ở các hình thức sơ đẳng nhất.
Điều đó cũng có nghĩa là, ngay ở Tiểu học, quan niệm học tập lịch sử đồng
nghĩa với kể chuyện lịch sử cần được bỏ đi, phải được thay thế bằng quan niệm
mới: học tập lịch sử là làm việc với các nguồn tư liệu lịch sử theo nghĩa rộng của
nó” (Nhiều tác giả. Sách tra cứu về lí luận dạy học Lịch sử Duesseldorf, 1992
(tiếng Đức), [4, Tr. 544].
Dạy học lịch sử ở Tiểu học nước ta cần tạo điều kiện cho HS làm việc độc
lập, tích cực, tự lực nhiều hơn nữa. Hãy để cho HS suy nghĩ nhiều hơn, trình bày
ý kiến của mình nhiều hơn. Trên cơ sở các thông tin từ sử liệu, cần nêu lên
những câu hỏi, những vấn đề vừa sức để các em tự giải quyết vấn đề. Ở đây,
việc sử dụng câu hỏi phát vấn để giúp HS khai thác thiệt để nội dung bài học, dễ
dàng nắm bắt và ghi nhớ sâu sắc nội dung bài học có vai trò rất quan trọng.
Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học lịch sử. Chú ý phối hợp với
các hình thức dạy học chung cả lớp, theo nhóm, học cá nhân, đối thoại thầy trò,
trò chơi đóng vai…quan tâm tổ chức các cuộc thảo luận ở nhóm học tập hoặc
chung cả lớp để HS trình bày kết quả làm việc của mình với các tư liệu lịch sử,
phát huy tinh thần độc lập, suy nghĩ, sáng tạo, mạnh dạn trình bày ý kiến riêng,
hăng hái và biết cách bảo vệ ý kiến của mình, đồng thời biết lắng nghe ý kiến của
người khác, chia sẻ kết luận và cơ sở lập luận của bạn, hợp tác công việc với bạn.
Điều quan trọng đối với HS tiểu học là gợi cho các em về các sự kiện, nhân
vật lịch sử có liên quan, gần gũi với cuộc sống của các em. Vì vậy, cần thường
xuyên gắn nội dung dạy học lịch sử với tên đường phố, tên trường, tên quê
hương, tên các danh nhân lịch sử…
Đối mới PPDH Lịch sử ở Tiểu học theo sự trình bày ở trên đòi hỏi cần phải

vào đặc điểm bên ngoài. Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát.
Khi khái quát, HS tiểu học thường dựa vào chức năng và công cụ của sự vật
hiện tượng, trên cơ sở này chúng tiến hành phân loại, phân hạng.
Ở giai đoạn lớp 4, lớp 5 HS phát triển khả năng tư duy trừu tượng, khả năng
phân tích tổng hợp ở mức độ cao. Đây là một thuận lợi để GV truyền đạt kiến
thức lịch sử cho HS được tốt hơn.

13
Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định cũng yếu và thiếu
bền vững. Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động học tập.
HS tiểu học thường bị lôi cuốn với những gì mới mẻ, sinh động, màu sắc bắt
mắt. Chính vì vậy, GV có thể giúp HS chú ý và bị lôi cuốn vào bài học bằng
việc sử dụng các đồ dùng trực quan như: tranh ảnh, tranh vẽ, lược đồ…
Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic. Nhiều HS
tiểu học cũng chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng
phát triển trí nhớ máy móc. Ghi nhớ gắn với mục đích nào đó giúp trẻ nhớ nhanh
hơn, lâu hơn và chính xác hơn. Đặc biệt, HS tiểu học nghe giảng hiểu nhanh
nhưng rất mau quên. Vì vậy, người GV phải biết tạo sự hứng thú, lôi cuốn cho
HS. Đặc biệt môn học Lịch sử đòi hỏi sự ghi nhớ chính xác. Đây là vấn đề khó
đối với các em. Vì vậy, có một số HS có tâm lí lo sợ, không thích học Lịch sử.
Từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập phân môn Lịch sử của HS.
Việc hiểu đặc điểm tâm lí HS giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy
học. Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí chúng thì cũng
như chúng ta đập búa trên một thanh sắt nguội. Chính vì vậy trong quá trình dạy
học, GV cần phải lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, phải biết khai
thác ở HS, giúp các em chủ động nắm bắt kiến thức bài học, giúp các em hào
hứng, sôi nổi trong giờ học Lịch sử và chất lượng học tập môn Lịch sử sẽ được
tăng cao.
1.4. Hứng thú học tập của học sinh tiểu học
1.4.1. Một số đặc điểm của hứng thú học tập

- Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú, chia thành 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: thường thể hiện thái độ thận trọng, có trách nhiệm với
công việc, với hoạt động, mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức để nắm
vững được đối tượng đó.
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: thể hiện sự qua loa đại khái trong quá trình
nhận thức.
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú, chia làm 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập: là hứng thú đối với nội dung
tri thức, quá trình học tập và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri

15
thức đó. Hay nói cách khác, hứng thú trực tiếp là sự say mê hướng vào đối
tượng và cách thức chiếm lĩnh đối tượng.
+ Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập: là hứng thú với kết quả của
hoạt động.
1.4.3. Biểu hiện của hứng thú học tập
- Hứng thú học tập biểu hiện ở 2 mức độ:
+ Mức độ 1: HS chỉ dừng lại ở việc nhận thức về vấn đề học tập. Chưa có cảm
xúc, tình cảm với vấn đề đó, chưa có những hoạt động để chiếm lĩnh vấn đề đó.
+ Mức độ 2: HS tiến hành các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức.
Hứng thú học tập biểu hiện ở nội dung của nó như: sự thích thú và tính tích
cực trong hoạt động học tập với môn học. Hứng thú học tập bao gồm ba mặt
biểu hiện: nhận thức, thái độ, hành vi đối với môn học:
+ Nhận thức: tức là HS phải nhận thức được ý nghĩa của môn học, hiểu
được nội dung môn học, lĩnh hội được những kiến thức của môn học.
+ Thái độ: bao gồm những xúc cảm tích cực của HS đối với môn học và
hoạt động học bộ môn. Cụ thể là:
Tâm trạng háo hức chờ đến giờ học.
Có niềm vui nhận thức cùng sự thích thú khi tiếp nhận bài học.
Thích thú thực hiện các nhiệm vụ học tập.

của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập của HS. Với mỗi HS, hứng thú
nhận thức với mỗi môn học là khác nhau. Vì vậy, kết quả học tập ở mỗi môn
học là không giống nhau. Khi có hứng thú với môn học nào thì các em sẽ học
môn đó một cách thích thú và đạt kết quả cao hơn.
- Mặt khác, hứng thú học tập còn góp phần hình thành nhân cách và những
thuộc tính bền vững của cá nhân HS, đặc biệt còn là một trong những yếu tố
quyết định việc hình thành và phát triển năng lực của HS.
Như vậy, hứng thú có một vai trò đặc biệt quan trọng và quyết định tới hiệu
quả dạy học môn Lịch sử. Do vậy để kết quả học tập môn Lịch sử được nâng
cao, cần chú trọng bồi dưỡng hứng thú cho HS.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở tiểu học hiện nay
2.1.1. Vài nét về thực tiễn dạy học phần lịch sử ở trường tiểu học hiện nay

17
Bên cạnh những mặt đã đạt được, nằm trong thực trạng chung của nền
giáo dục, chất lượng dạy học lịch sử hiện nay đang tồn tại rất nhiều vấn đề
cần khắc phục. Có thể nói bộ môn chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi
của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.
Qua thực tiễn dạy học bộ môn cho thấy, một bộ phận không nhỏ HS xa rời,
coi thường bộ môn là do việc giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá mang tính
chất hình thức, đối phó. Điều này nghiêm trọng hơn ở những vùng miền còn
nhiều khó khăn. Hiện tượng HS nhớ nhầm, hiểu sai kiến thức hoặc “mù” về lịch
sử là khá phổ biến.
Theo phân tích của các nhà giáo dục lịch sử, nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên có nhiều. Do thái độ đối với bộ môn Lịch sử nói chung là chưa coi
trọng đúng mức, do quan niệm thực dụng trong học tập và thi cử của hầu hết phụ
huynh và HS, do chương trình, sách giáo khoa còn nặng nề và mang tính hàn
lâm, giáo điều, thiếu hấp dẫn… Nhưng những nguyên nhân căn bản thể hiện ở
mấy điểm sau:

2
, mật độ dân số trung bình chỉ vào khoảng 73 người/km
2
, hơn
90% diện tích là đồi núi. Đây là địa bàn sinh sống của 12 dân tộc anh em: Thái,
Mông, Lự, Hoa, Kinh, Tày, Nùng, La Ha, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ, Lào,
Mường, Dao… Trong đó, người Thái là thành phần dân tộc chủ yếu (54%,
Hmông là 13%). Nằm trong tình hình chung của khu vực, Sơn La là một trong
những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giáo dục còn nhiều yếu
kém. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 359 USD/người/năm, so
với bình quân cả nước là 833 USD/người/năm. Tỉ lệ HS đỗ tốt nghiệp trung học
phổ thông chỉ đạt 24,33%. Năm 2009, Sơn La là tỉnh có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp thấp
nhất cả nước. Duy nhất là tỉnh có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp dưới 50% (chỉ đạt 40%),
trong khi bình quân cả nước đạt trên 84%. Thực trạng trên càng đặt ra nhiều
thách thức to lớn cho giáo dục Sơn La trong đó có giáo dục lịch sử.
Qua thực tiễn dạy học lịch sử cho thấy hầu hết các HS gặp rất nhiều khó
khăn khi tiếp thu các sự kiện lịch sử thế giới và trong những điều kiện tự nhiên
khác biệt với môi trường sống của các em, đặc biệt là việc tiếp thu những kiến
thức mang tính chất trừu tượng, khái quát cao. Ngoài ra, do ảnh hưởng của tập
quán, lối sống, phần lớn các em không có hứng thú với việc đi học, nếu có thì

19
cũng thường xuyên bị chi phối bởi những yếu tố gia đình và xã hội nên thiếu sự
tập trung, quyết tâm trong học tập.
- Thực tiễn dạy học lịch sử ở Sơn La:
Từ những kết quả điều tra cho thấy rằng, nằm trong tình trạng chung của cả
nước và có phần trầm trọng hơn trong thái độ đối với bộ môn Lịch sử của thầy
và trò ở Sơn La là rất coi thường. Cách nhìn nhận lịch sử là môn phụ, môn học
thuộc còn phổ biến. Do đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học chưa được quan
tâm đúng mức. Phương pháp truyền thống “đọc - chép” vẫn ngự trị trong giảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status