Chuyên đề môn học
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao
cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế quốc dân bao gồm
nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề với quy mô và trình độ khác nhau, công nghệ
khác nhau. Phát triển nông - lâm -ngư - nghiệp gắn liền công nghệ chế biến và xây dựng
nông thôn mới. Để đưa nền kinh tế nông thôn phát triển ngang tầm nền kinh tế thành thị,
từng bước công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong nông nghiệp. Vì thế việc phát triển và
xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm quan trọng trong việc nâng cao
và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, không ngừng tăng cường và phát triển
đời sống mới ở nông thôn.
Muốn đạt được mục đích trên trước hết phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp
hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất trong
quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu, thông qua
việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn nuôi gia súc,
gắn liền với việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất hàng hoá xuất
khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh việc mở rộng và
phát triển ngành nghề truyền thống. Từng bước xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, xây
dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp.
Trước hết là các ngành dịch vụ cho việc phát triển trong sản xuất nông nghiệp,
thực hiện chuyên môn hoá, tự động hoá trong sản xuất chúng ta thấy nước ta sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu chiếm 70% trong nền sản xuất hàng hoá. Thu nhập chính trong
nền kinh tế quốc dân. Đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta qua các giai đoạn đều tập
trung quan tâm chú trọng tới nông nghiệp. Luôn có những chính sách mới về nông
nghiệp để phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế. Ban thư ký Trung ương Đảng và
Bộ chính trị đã ra chỉ thị 100 và quyết định đưa việc khoán 10 trong sản xuất nông
nghiệp. Đây là chính sách lớn làm thay đổi nền sản xuất nông nghiệp. Đổi mới về mô
hình cũng như tổ chức sản xuất trong nông nghiệp.
Chính vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện
Tĩnh Gia”.
luôn đổi mới và mở rộng, thay đổi hình thức đầu tư vốn, luôn cải thiện trang thiết bị mẫu
mã. Đổi mới cơ cấu đầu tư cây giống, con giống mặt hàng mới sản xuất luôn phải phù
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 2
Chuyên đề môn học
hợp với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng. Muốn đổi mới sản xuất kinh doanh cần phải
có vốn đầu tư. Nhu cầu vốn này bản thân người sản xuất không thể có đủ được mà cần
phải có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức tín dụng của ngân hàng.
Trước nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế. Thực hiện nghiêm chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ ngành ngân hàng cũng nhanh chóng đổi mới phương thức đầu tư thích hợp để
hoà nhập với cơ chế thị trường. Là đầu tư vốn mở rộng tới các thành phần kinh tế về với
thị trường nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Đổi mới công tác kế hoạch hoá tín dụng
gắn liền với quan hệ cung cầu trên thị trường vốn. Đầu tư vốn tới các hộ sản xuất ở nông
thôn nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển.
Nguồn vốn cho vay của ngân hàng là nguồn vốn bổ sung vốn thiếu cho hộ sản
xuất trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Vốn tín dụng tạo điều kiện cho các hộ
sản xuất phát triển các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi cải tạo cây con giống cho năng
suất cao giá trị lớn vốn tín dụng đầu tư mở rộng sản xuất các ngành nghề truyền thống
giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống dân sinh. Vốn tín dụng đã đến
với tất cả các loại hộ sản xuất.
- Hộ giàu có điều kiện mở rộng sản xuất cải tiến kỹ thuật thu hút lao động tổ chức
sản xuất lớn tạo ra nhiều sản phẩm có năng suất chất lượng tốt giá trị cao đáp ứng thị
hiếu tiêu dùng.
- Hộ trung bình vay thêm vốn tín dụng ngân hàng có điều kiện mở rộng sản xuất.
Từng bước đầu tư thiết bị tăng năng suất lao động sản phẩm sản xuất ra nhiều hơn đủ chi
dùng cho gia đình còn dôi thừa, dần dần có tích luỹ để tái tạo sản xuất.
- Hộ nghèo đói có vốn tín dụng dần từng bước tiếp thu khoa học kỹ thuật tự tổ chức
sản xuất làm ra sản phẩm dần cải thiện đời sống đủ bù đắp chi phí sinh hoạt cho gia đình
từ hộ nghèo đói phấn đấu trở thành hộ trung bình.
Việc thực hiện chủ trương chính sách cho vay đối với kinh tế hộ ở ngân hàng nông
nghiệp thực hiện theo văn bản 499A. Đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc tín dụng hộ sản
Để đạt được kết quả huy động vốn như trên,chi nhánh NHNo Tĩnh Gia đã không
ngừng huy động vốn dưới nhiều hình thức, coi việc huy động vốn là việc của mọi cán bộ
công nhân viên cơ quan, đồng thời chi nhánh cũng cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác
nhau đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của khách hàng : các loại tiền gửi với các kỳ
hạn khác nhau, đa dạng hoá các phương thức trả lãi: trả lãi trước, lãi sau, lãi bậc thang.
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 4
Chuyên đề môn học
Đồng thời chi nhánh đã mở rộng mạng lưới tới nhiều khu vực khác nhau trong huyện
nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động kinh doanh cũng như huy động vốn, thu hút thêm
khách hàng.
b). Hoạt động cho vay:
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ đạo và đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân
hàng. Mặt khác, hoạt động này còn thể hiện một phần sức cạnh tranh, thị phần của ngân
hàng so với các ngân hàng khác cùng địa bàn. Chi nhánh NHNo Tĩnh Gia đã cố gắng
không ngừng để việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất, an toàn. Trước hết, chi nhánh
luôn duy trì mối quan hệ tốt với các đơn vị sản xuất kinh doanh như các DNNN, các
Công ty đã có tín nhiệm với ngân hàng. Chi nhánh luôn tìm biện pháp để mở rộng và giữ
vững thị trường cho vay, tăng cường công tác tiếp thị, đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, đưa
ra các mức lãi suất linh hoạt, phù hợp với địa bàn hoạt động. Chi nhánh luôn bám sát
định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Huyện để đầu tư. Chi nhánh đã thực hiện việc
giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể tới từng cán bộ; quyết toán theo quý, có chế độ đãi ngộ thoả
đáng với cán bộ tín dụng, thưởng phạt rõ ràng nhằm hạn chế sai phạm xảy ra, thực hiện
khoán lương tới từng người để nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong
việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Việc mở rộng cho vay vẫn được tiến hành với mọi đối tượng khách hàng như cho
vay phục vụ nhu cầu đời sống với cán bộ công nhân viên trong các doanh nghiệp Nhà
nước có thu nhập từ lương ổn định, trú trọng mở rộng cho vay các đơn vị nhỏ.
Được sự quan tâm của cấp trên, chi nhánh NHNo Thanh Trì đã tham gia đầu tư
dài hạn các dự án lớn như dự án xi măng Bút Sơn, các dự án xây dựng cơ bản. Chi nhánh
đã có định hướng đúng trong hoạt động đầu tư, chỉ đạo uyển chuyển linh hoạt về mức lãi
với nước ngoài.
1.2.2 THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT CỦA CHI NHÁNH TĨNH GIA
Chủ trương của Đảng và Nhà nước về cho vay hộ sản xuất và hộ nghèo với lãi suất
ưu đãi là hợp với ý Đảng lòng dân. Thực trạng vốn cho vay hộ sản xuất và hộ nghèo ở
huyện Tĩnh Gia đã góp phần rất đáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo nhất, tăng trưởng
kinh tế trong huyện.
Số vốn cho vay thì số đông các hộ sử dụng vốn làm kinh tế tốt có hiệu quả, đã góp
phần tích cực vào việc xoá đói giảm nghèo. Có những hộ trước đây đói, nghèo nay đã và
đang thoát khói đói nghèo.
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 6
Chuyên đề môn học
- Ta thấy cho vay hộ sản xuất là một việc làm không mới song gặp rất nhiều khó
khăn phức tạp. Hoạt động tín dụng trong những năm bao cấp chỉ có một số khách hàng,
nay số khách hàng tăng lên đáng kể vì thế công việc của tín dụng cũng tăng lên và đa
dạng hoá dẫn đến chất lượng tín dụng càng gặp khó khăn, tỷ lệ quá hạn lớn dẫn đến rủi ro
*) Thực tế thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng.
- Cho vay ngắn hạn :
Bổ sung nhu cầu thiếu vốn tạm thời trong quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành
cho vay hộ có nhu cầu về vốn vay chăn nuôi gia súc (lợn,, thả cá )
+ Cho vay mua giống, phân bón thực hiện quá trình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
+ Cho vay sản xuất các mặt hàng truyền thống như mộc, nghề thủ công mỹ nghệ .
+ Cho vay tiêu dùng (mua xe gắn máy).
+ Cho vay phương tiện vận chuyển trên địa bàn (như ô tô, tàu thuyền và trâu bò kéo).
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất mà cán bộ tín dụng trực tiếp đến từng hộ
vay điều tra, thẩm định tài sản thế chấp, khi đủ điều kiện vay vốn thì tiến hành hướng dẫn
làm dự án, tiến hành phát tiền vay.
- Cho vay trung và dài hạn.
Nhằm mục đích bổ sung vốn để đầu tư mua sắm thêm công cụ, xây dựng nhà xưởng.
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển huyện Tĩnh Gia đã thực hiện đúng đắn
quy trình hướng dẫn cho vay vốn trực tiếp đến hộ sản xuất, tiến hành đầu tư vốn bằng các
thế ổn định vốn, giải quyết các chi phí sản xuất kinh doanh cần thiết, tối thiểu để hoàn
thành kế hoạch mục tiêu của Đảng bộ địa phương đã đề ra.
- Dư nợ đầu tư cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh được thông qua các tổ
tương trợ như hội nông dân, hội phụ nữ, cùng các tổ chức chính trị xã hội từ các cấp, cơ
sở, giúp ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tĩnh Gia giải ngân đúng
chính sách, đúng chế độ, các hộ nghèo được vay vốn với lãi xuất ưu đãi này đã sử dụng
vốn đúng mục đích sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi tạo lập được phong cách làm ăn có
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 8
Chuyên đề môn học
tính toán giải quyết khó khăn về đời sống người lao động đang từng bước xoá đói giảm
nghèo.
- Chất lượng tín dụng với sự chỉ đạo của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tĩnh Gia đã tiến hành rà soát lại 100% dư nợ
về các mặt như : Hồ sơ tín dụng, quy trình nghiệp vụ và thực hiện đối chiếu nợ công khai
thực chất là kiểm kê lại dư nợ trong các hộ sản xuất kinh doanh. Qua đó kết hợp với cơ
quan pháp luật và chính quyền các cấp xử lý một số hộ có dư nợ quá hạn. Giá trị tài sản
thế chấp cần xử lý để thu hồi nợ đọng ngày càng giảm. So với dư nợ nên giải quyết thu
hồi nợ chậm, nợ quá hạn còn tồn tại cuối năm 2010 là 702 triệu đồng chiếm tỷ trọng
0.22% trong tổng dự nợ.
1.3.1: Kết quả đầu tư vốn như sau :
Trong năm đã có hơn 4000 lượt hộ vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh dịch
vụ. Với số tiền 88.000 triệu đồng
- Về trồng trọt : Đã cho vay để mua giống mới lúa, ngô, khoai, cây ăn quả có năng
suất cao. Cải tạo diện tích canh tác thâm canh tăng vụ. Mua máy móc thiết bị như máy
cày, máy tuốt lúa thay thế, giảm nhẹ sức lao động
- Về chăn nuôi : Đầu tư mua con giống mới, sản xuất tạo ra các giá trị kinh tế cao.
- Đầu tư cho hộ sản xuất ngành nghề truyền thống :
+ Sản xuất hàng tiêu dùng nội thất : mộc, mây tre đan, trang trí nội thất .
+ Sản xuất vật liệu xây dựng : Khai thác chế biến gạch, đá xây dựng các loại
Sau nhiều năm đầu tư vốn cho hộ sản xuất ở Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát
+Sự biến động của giá cả thị trường, nhất là giá nông sản người nông dân bán sản phẩm
không bù đắp nổi chi phí , nên đợi giá chưa bán được dẫn đến không có tiền trả nợ.
+ Do địa bàn kinh doanh rộng, khách hàng chủ yếu là hộ sản xuất, ở vùng nông thôn cho
vay vốn món nhỏ, trong khi đó hình thức vay trực tiếp là chủ yếu, nên đã có biểu hiện
quá tảI về công việc đối với CBTD.
Nguyên nhân chủ quan:
+ Do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, dần tới chỗ khó khăn về tàI chính thậm chí
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 10
Chuyên đề môn học
còn chơi hụi, cờ bạc, đề đóm làm mất vốn không có tiền trả nợ.
+ Do khách hàng bị lừa đảo, chụp giật, năng lực kinh doanh kém hiệu quả, kỹ thuật tính
toán mức cho vay, xác định thời hạn trả nợ, nguồn trả nợ thiếu chính xác nên người vaytr
nợ không đúng thời hạn.
+ Do cán bộ ngân hàng thực hiện không nghiêm túc qui trình, nghiệp vụ thậm chí có cán
bộ thái hoá biến chất, lợi dụng nghề nghiệp tham ô, móc ngoặc trục lợi cá nhân, làm thất
thoát vốn.
+ Các phương tiện máy móc và thông tin ở nhiều ngân hàng cơ sở còn yếu kém, chất
lượng thông tin cung cấp chưa cao. Đây là một trong các nguyên nhân làm cho phân tích
nhận định khách hàng kém chính xác, các quyết định tín dụng kém hiệu lực.
Như vậy, nợ quá hạn không chỉ do ngân hàng gây nên mà do từ nhiều nguyên nhân,
từ cơ chế chính sách, đến những nguyên nhân bất khả kháng từ khách hàng. Do đó giả
quyết vấn đề này không chỉ mình ngân hàng mà phải có các giải pháp đồng bộ.
- Cơ chế chính sách về quản lý lưu thông tiền tệ chưa được điều chỉnh kịp thời phù hợp
với diễn biến tình hình của nền kinh tế. Ngân hàng hoạt động còn mang tính hành chính,
quan liêu, quản lý lỏng lẻo và còn tuỳ tiện trong việc thực hiện cơ chế tín dụng, dẫn đến
chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn và nợ khó đòi tăng, gây tổn thất về vốn.
- Một số hộ nghèo được vay vốn không làm kinh tế mà đem trả nợ, chi tiêu vặt. Một số
cơ sở khi bình xét lập sổ không đúng hướng dẫn, nhưng khi giải ngân song các hộ đó
phải chia nhỏ cho một số hộ khác (theo chỉ định của xã cho đỡ thắc mắc, phức tạp). Việc
thu lãi không nộp kịp thời vào ngân hàng mà sử dụng vào việc khác. Lãi đọng trong hộ
thế giới Hệ thống ngân hàng được cải cách theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo phân
bổ có hiệu quả và an toàn các nguồn lực tài chính. Tác động và kết quả trực tiếp của tiến
trình này là việc tiền tệ hoá sâu sắc các nguồn lực kinh tế và các quan hệ kinh tế. Điều
này có nghĩa là cải cách kinh tế đã và sẽ tiếp tục gắn chặt với tự do hoá tài chính trong
mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, mở ra tiềm năng, cơ hội phát triển cho hệ thống ngân hàng.
Cải cách ngân hàng ở Việt Nam theo định hướng thị trường và hội nhập tài chính
quốc tế đã đạt được một số thành tựu lớn, đó là sự thay đổi căn bản về cấu trúc thể chế
với việc hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp, sự đổi mới về hoạt động và điều hành thể
hiện qua việc NHNN chỉ can thiệp vào lãi suất và tỷ giá thông qua thị trường tiền tệ và
công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về hoạt
động NHTM dần được áp dụng
Tuy nhiên, việc gia nhập WTO đã và đang đặt ra cho hệ thống NHTM Việt Nam
những thách thức lớn. Trước mắt đó là gia tăng áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân
hàng, các NHTM to nước cạnh tranh với nhau và với các NHTM nước ngoài. Mặt khác
hiện nay các NHTM Việt Nam còn nhiều yếu kém: khả năng cạnh tranh thấp, năng lực
tài chính yếu, quy mô hoạt động nhỏ,chất lượng và hiệu quả kinh doanh thấp Hệ thống
thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều điểm chưa tương đồng với thông lệ quốc tế. Hệ
thống pháp luật và thể chế thị trường chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập.
Có thể nói rằng việc NHNN và các NHTM Việt Nam đang đứng trước những cơ
hội lớn cho sự phát triển đồng thời là những khó khăn thách thức do những yếu kém và
thách thức của điều kiện mới. Trước những cơ hội cũng như khó khăn, thách thức toàn hệ
thống ngân hàng phải thực hiện cải cách hơn nữa để hướng tới gia nhập WTO, cụ thể là:
- Hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 13
Chuyên đề môn học
- Chủ động xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng
Việt Nam, chiến lược hội nhập quốc tế của ngành ngân hàng, có kế hoạch hành động cụ
thể, rõ ràng.
- Cải cách tổ chức và hoạt động của NHNN phải phù hợp với cải cách hành chính nhằm
nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng - tiền tệ.
Do sự cạnh tranh nghiệt ngã trong cơ chế thị trường dẫn đến một số hộ kinh doanh
làm ăn thua lỗ, không trả được nợ, một số hộ cố tình chây ỳ.
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Tĩnh Gia đã tiến hành
phân tích nguyên nhân từng khoản nợ quá hạn để đề ra các biện pháp xử lý thích hợp.
Trong năm 2010 nhờ sự phối kết hợp với UBND các cấp và các cơ quan pháp luận nợ
quá hạn giảm so với năm 2009. Tuy nhiên, việc xửa lý thu hồi nợ quá hạn còn gặp nhiều
khó khăn. Các trường hợp người vay thế chấp tài sản hợp pháp nhưng không trả được nợ
bỏ trốn chưa được các ngành pháp luật quan tâm phối hợp xử lý.
Để thực hiện pháp lệnh ngân hàng, chuyển hoạt động tín dụng theo cơ chế thị
trường, đi vay để cho vay. Thực hiện pháp lệnh ngân hàng. Ngân Hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn huyện Tĩnh Gia đã có nhiều thành đạt phục vụ cho việc phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đã tạo lập và tăng trưởng nguồn vốn mở
rộng tín dụng, mở rộng mạng lưới huy động nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả.
Để thực hiện tốt thành quả trên, thông qua việc học tập ở trường và công tác thực
tế, Tôi xin đề xuất một số giải pháp mở rộng tín dụng như sau:
1. Phải làm tốt công tác huy động nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
bằng cách mở rộng mạng lưới huy động nguồn ở khu vực đông dân cư, khu vực có nền
kinh tế phát triển, có nhiều hình thức và biện pháp hữu hiệu khơi tăng nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong dân cư. Thực hiện tốt phương châm "đi vay để cho vay" đáp ứng mọi
nhu cầu của người vay.
2. Làm tốt công tác khách hàng, xây dựng và bảo vệ mối quan hệ với khách hàng.
Luôn chủ động tìm kiếm khách hàng trên từng thị trường thích hợp, nhằm mục đích tăng
uy tín của ngân hàng và thu hút khách hàng
3. Đưa công tác kiểm tra, kiểm soát đi vào chiều sâu và thường xuyên nhằm mục
đích giúp cho người vay sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, giúp cho ngân hàng thu hồi
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 15
Chuyên đề môn học
vốn đúng thời hạn và hạn chế được nợ quá hạn phát sinh. Ngăn chặn nợ quá hạn mới phát
sinh bằng cách :
- Xây dựng chiến lược kinh doanh của ngân hàng thực sự có sức sống thể hiện toàn
hình thức khoanh nợ, nhưng đây chỉ là biện pháp tạm thời, về lâu dầi ngân hàng cần có
cơ chế hình thành quĩ bù đắp rủi ro tín dụng để giải quyết các khoản nợ này.
5. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, cải tiến mẫu mã cho hấp dẫn, tăng
cường các công tác tuyên truyền cho các khách hàng đặc biệt là các khách hàng tiềm
năng của Ngân hàng.
6. Giao chỉ tiêu khách hàng cho các đơn vị, chi nhánh để thi đua phấn đấu trong
kinh doanh, thực hiện các chính sách khách hàng đầy đủ và linh hoạt trong việc sử lý lãi
xuất.
7. Chọn các khách hàng truyền thống có uy tín trong kinh doanh đồng thời tăng
cường công tác thẩm định, tăng cường công tác với địa phương.
8. Không thể hoàn thiện và mở rộng tín dụng nếu không có sự hợp tác và cam kết
đầy đủ của toàn bộ tập thể cán bọ, nhân viên có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp
vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết pháp lật tốt, đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của
ngân hàng trong tình hình mới, ngân hàng chỉ nên đưa những cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào
làm nghiệp vụ tín dụng. Do đó cần phải có định hướng tiêu chuẩn cán bộ tín dụng. Theo
tôi, ngoài vấn đề về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đòi hoải cán bộ tín dụng cần có
thêm kỹ năng bán hàng, kỹ năng điều tra, kỹ năng phân tích, kỹ năng viết, kỹ năng đàm
phán với khách hàng. Trên cơ sở đó đòi hoỉ ngân hàng cần rà soát lại đội ngũ cán bộ hiện
có, có kế hoặch đào tạo lại, bổ xung những mặt còn thiếu, còn yếu nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ các cán bộ tín
dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật thị trường, các lĩnh vực
khác về kinh tế – tài chính, tin học, ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng công tác giáo dục
chính trị tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm
lớn lao của mìnhtrong sự nghiệp kinh doanh của ngân hàng, đẻ ngày càng có sự nỗ lực
trong công tác.
9. Kết hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương và các đoàn thể .
cấp uỷ, chính quyền địa phương và các đoàn thể có vai trò hết sức quan trọng trong
việc cho vay của ngân hàng đối với việc phát triển kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp, nông
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 17
Chuyên đề môn học
- Cần phải tập trung thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 18
Chuyên đề môn học
đất lâu dài để chính thức hoá chuyển nhượng sử dụngquyền thế chấp đất đai… nhằm tạo
môi trường pháp lý, tạo điều kiện vay vốn ngân hàng được thuận lợi, tạo thế mạnh cho
quá trình phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
2.3.1.2: CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ.
Nông nghiệp là một nghành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân ở
mỗi nước, ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, nông nghiệp giữ vai trò đặc
biệt quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP. Vì vậy vấn đề đầu tư cho
nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế quốc dân nói chung, phát triển kinh tế
khu vực nông thôn nói riêng, được các nhà kinh tế rất quan tâm.
Mục đích của chính sách đầu tư nông nghiệp là cải tạo và nâng cao năng lực sản
xuất của tài sản cố định trong nông nghiệp, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và
tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và nông thôn. Chính sách đầu tư đúng sẽ tạo hành
lang pháp lý cho việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong sản xuất kinh doanh nông
nghiệpcũng như các ngành nghề khác ở nông thôn.
Đối tượng đầu tư là tất cả các thành phần kinh tế hoạt động tại địa bàn nông thônvà
vốn đầu tư là then chốt của vấn đề phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Vì vậy
tăng cường đầu tư cho nông nghiệp là một yêu cầu khách quan để xây dựng kết cấu hạ
tầng nông thôn, các cơ sở nghiên cứu và thực nghiệm khoa học, kỹ thuật đào tạo cán bộ
công nhân lành nghề, nâng cao dân trí…Nguồn đầu tư bao gồm ngân sách nhà nước, vốn
tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp và hộ nông dân.
Trong vấn đề đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông thôn, lý luận và
kinh nghiệm các nước đẫ chỉ ra rằng phải chú ý đầu tư cả công nghiệp và dịch vụ. Bởi
vậy khi nói đến đầu tư cho công nghiệp phải nói đến đầu tư cho nông thôn nối chung đó
là công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, xí nghiệp sữa chữa công cụ, các dịch
vụ cung ứng vật liệuvà tiêu thụ sản phẩm nông thôn, dịch vụ y tế bảo vệ sức khoẻ, đi lại học
hành, giải trí, thông tin liên lạc.
Để phát triển kinh tế hộ nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới đề nghị nhà
Chuyên đề môn học
2.3.1.4.CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN.
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và
kinh tế nông thôn nói riêng. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc
phát triển thị trường nông thôn là đòi hỏi hết sức cấp bách. Thị trường phát triển sẽ làm
cho lưu thông hàng hoá thông thoáng hơn, hoạt động nền kinh tế năng động hơn, nghành
nghề được mở mang, tạo ra sự cạnh tranh để phát triển sự bình đẳng trong hoạt động kinh
doanh. Thị trường nông thôn được hoàn chỉnh không những vừa tiêu htụ nhanh sản phẩm
mà còn là nơi cung cấp nguyên vật liệu tạo điều kiện phân công lao động xã hội, đổi mới
cơ cấu kinh tế nông thôn. Từ những vấn đề trên để hoàn thiện và phát triển thị trường
nông thôn.
- Thị trường nông thôn cần chú ý cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Thị
trường đầu vào bao gồm việc cung ứng vốn lao động, tư liệu sản suất…Đối với tư liệu
sản suất từ đất đai, tất cả đã trở thành hàng hoá đều được lưu thông bình thường, thị
trường đầu ra ở đây là tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề nan giải cần quan tâm.
- Phải nâng cao chất lượng hàng hoá, gắn liền sản suất với nơi tiêu thụ sản phẩm.
- Khai thác sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong thị trường nông
thôn, tạo hành lang pháp luật bình đẳng trong môi trường cạnh tranh.
- Các chính sách giá cả phải linh hoạt, phù hợp kích thích sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm tạo khả năng tích luỹ trong nông thôn.
- Cần có một cơ cấu xuất nhập khẩu hợp lý, khai thác triệt để lợi thế sẵn có của
nước ta để phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
2.3.2. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.
* Sự phối hợp của các trung gian tài chính trên địa bàn.
Ngân hàng Nhà nước nên tập hợp tất cả các tổ chức tín dụng trên địa bàn, nhằm
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của huyện, dùng đòn bẩy tín dụng làm động lực
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn, theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại
hoá trên cơ sở quan hệ giữa các tổ chức là bình đẳng, tự nguyện cùng có lợi chủ yếu
thông qua mối quan hệ tín dụng và giúp đỡ nhau cụ thể như: Thường xuyên cung cấp
thông tin kịp thời chính xác, xác nhận dư nợ về khách hàng của tổ chức mình cho trung
mạnh trong hoạt động kinh doanh tín dụng Ngân hàng, phải thực hiện đúng theo một cơ
chế tín dụng chung của ngân hàng Nhà nước không được hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng để
cạnh tranh giành giật khách hàng.
2.3.4: KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHNO & PTNT HUYỆN TĨNH GIA
Qua khảo sát thực tế tại ngân hàng cơ sở tôi mạnh dạn đề xuất những kiến nghị sau:
1. Trên một địa bàn có nhiều tổ chức tín dụng ra đời, do đó việc huy động vốn và
cho vay với lãi xuất khác nhau để tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại họat động tốt
thì ngân hàng Nhà nước khu vực phải là người trung gian quy định cho các ngân hàng
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 22
Chuyên đề môn học
thương mại áp dụng lãi xuất huy động và cho vay thống nhất. Có như thế mới tạo được
niềm tin cho khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng, không có sự cạnh tranh
khách hàng.
2. Do đặc điểm cho vay vốn hộ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Việc đầu tư vốn
theo thời vụ cây trồng vật nuôi, dẫn đến việc thu sản phẩm còn phụ thuộc vào thời tiết,
khí hậu. Trong quá trình đó không tránh khỏi có sự rủi ro trong việc sản xuất. Vì vậy đề
nghị Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại phải có quỹ đề phòng rủi ro. Có như
vậy mới tạo điều kiện cho hộ sản xuất yên tâm lao động.
3. Trong qúa trình đầu tư vốn của ngân hàng tới hộ sản xuất. Để đảm bảo cho việc
thu nợ tốt tỷ lệ nợ quá hạn thập thì phải có sự kết hợp chặt chẽ thống nhất giữa ngân hàng
với các chính quyền Nhà nước. Như chính quyền địa phương các cấp, với các ngành pháp
luật (công chứng, công an, viện kiểm sát). Có sự phối kết hợp này mới gắn trách nhiệm
giữa người vay vốn với ngân hàng thông qua việc xác nhận thế chấp tài sản, các đoàn thể
đứng lên tín chấp cho các hộ vay.
4. Do việc chuyển đổi cơ cấu đầu tư vốn sản xuất nông nghiệp tới từng vùng, từng
dự án theo từng địa phương để khuyến khích hộ sản xuất nông nghiệp phát huy được
kinh nghiệm trong sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm. Đưa mặt hàng truyền thống của địa
phương phát triển thì Nhà nước phải có kế hoạch giao cho từng địa phương sản xuất ra
hàng tiêu dùng xuất khẩu, có thị trường tiêu thụ. Vì vậy Nhà nước phải trợ giá cho người
sản xuất. Bên cạnh đó Nhà nước kết hợp với địa phương giao đất lâu dài cho nông dân
SVTH: Nguyễn Anh Năm Lớp: DHTN7LTTH MSSV: 11029413 24