LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Các
kết quả, kết luận nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố
trong bất cứ công trình khoa học nào. Các số liệu, tài liệu tham khảo được
trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Thủy
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng
dẫn thầy giáo GS.TS Phạm Quang Trung và các thầy cô, các cán bộ của trường Đại
học Kinh tế quốc dân, Viện đào tạo sau Đại học và khoa Ngân hàng Tài chính đã
giúp tác giả hoàn thành luận văn này. Cám ơn Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu và tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài.
Tôi rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo
để luận văn hoàn chỉnh về mặt lý luận và có tính khả thi cao trong thực tiễn góp
phần xây dựng Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam ngày càng phát triển.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
1.1.1. Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 3
1.1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán 3
1.1.2. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 10
1.2.1. Quan điểm phát triển hoạt động môi giới chứng khoán 19
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động môi giới chứng khoán 19
1.3.1. Nhân tố chủ quan 22
1.3.2. Nhân tố khách quan 26
2.1.1. Giới thiệu chung 30
SGDCK TPHCM Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh chính Error: Reference
source not found
Bảng 2.2: Cơ cấu doanh thu từ năm 2008 đến 30/06/2011 Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động tại thời điểm 29/04/2011.Error: Reference source
not found
Bảng 2.4: Cơ cấu Doanh thu hoạt động môi giới trong Tổng doanh thu các
CTCK đến hết quý III/2011 Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của BSC Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: Cơ cấu tài khoản khách hàng tại BSC tính đến tháng 5/2011 Error:
Reference source not found
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Error: Reference
source not found
Sơ đồ 2.2: Quy trình hoạt động môi giới tại công ty BSC Error: Reference
source not found
BIỂU ĐỒ
1.1.1. Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 3
1.1.1. Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 3
1.1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán 3
1.1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán 3
1.1.2. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 10
1.1.2. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 10
1.2.1. Quan điểm phát triển hoạt động môi giới chứng khoán 19
3.1.1. Định hướng phát triển chung của BSC 59
3.1.2. Định hướng và mục tiêu riêng cho hoạt động môi giới 61
3.1.2. Định hướng và mục tiêu riêng cho hoạt động môi giới 61
3.2.1. Giải pháp thu hút khách hàng 63
3.2.1. Giải pháp thu hút khách hàng 63
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện và phát triển các dịch vụ cung cấp 66
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện và phát triển các dịch vụ cung cấp 66
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho BSC 67
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho BSC 67
3.2.4. Tạo sự gắn kết liên hoàn giữa các bộ phận tác nghiệp 71
3.2.4. Tạo sự gắn kết liên hoàn giữa các bộ phận tác nghiệp 71
3.3.1. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước 71
3.3.1. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước 71
3.3.2. Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ liên quan 73
3.3.2. Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ liên quan 73
3.3.3. Kiến nghị với cơ quan chủ quản Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) 75
3.3.3. Kiến nghị với cơ quan chủ quản Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) 75
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chặng đường 12 năm tiến bước của Công ty cổ phần chứng khoán Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cũng là chặng đường lịch sử đánh dấu
sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam với biết bao thăng
trầm, cơ hội và thách thức. Chỉ số Vn-Index đã từng tăng lên tới đỉnh 1.140 điểm
vào quý I/2007 và chạm đáy 234 điểm vào quý I/2009 và hiện tại đang đi ngang ở
vùng 420 điểm.
Khi TTGDCK TP.HCM mới bắt đầu hoạt động thì chỉ có 2 công ty niêm yết
đến nay thị trường đã có 691 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai SGDCK
và 5 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết. Cùng với sự gia tăng hàng hóa trên thị
gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về phát triển hoạt động môi giới của công ty
chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại
Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại Công
ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.1.1. Hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán
Trải qua hàng trăm năm lịch sử hình thành, thị trường chứng khoán đến nay
vẫn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định là một kênh huy động vốn
hữu hiệu của nền kinh tế. Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu
về sự đa dạng trong các hoạt động đầu tư, nhiều loại thị trường đã ra đời với các
hình thức tổ chức thị trường từ đơn giản (thị trường chứng khoán phi tập trung) đến
hiện đại và hết sức chặt chẽ (thị trường chứng khoán tập trung). Để tạo thuận lợi
cho việc huy động vốn và việc mua bán của các chủ thể trên thị trường cần thiết
phải có sự tham gia của các trung gian tài chính. Khi thị trường chứng khoán còn sơ
khai, số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường còn ít, các nhà môi giới độc lập có
thể đảm nhận việc trung gian giữa người mua và người bán. Thị trường chứng
khoán ngày càng phát triển, số lượng nhà đầu tư ngày càng nhiều, chức năng và
hoạt động giao dịch của nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của công ty chứng
khoán, là sự tập hợp của các nhà môi giới riêng lẻ. Đây là một tổ chức chuyên
nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, họ sẽ giúp đỡ các chủ thể khác thực hiện công
việc mà không tốn kém nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì “công ty chứng khoán là một tổ chức
+ Trung gian rủi ro
Trên TTCK luôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy tất cả các thành viên tham
gia thị trường đều có thể gặp nhiều rủi ro. CTCK trong phạm vi hoạt động của mình
cũng sẽ gặp nhiều rủi ro. Khi gặp rủi ro nhiều các NĐT sẽ đầu tư ít đi hoặc có thể sẽ
không tham gia nữa mà chuyển sang hình thức đầu tư khác. Điều này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả kinh doanh của CTCK. Trung gian rủi ro thể hiện ở việc công
4
ty là người trung gian và thực hiện các giao dịch cho khách hàng, trong giao dịch đó
sẽ có người được lợi và người gặp rủi ro.
♦ Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Để được cấp phép thành lập CTCK, các tổ chức phải đáp ứng các điều
kiện sau:
+ Điều kiện về vốn
CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định, vốn pháp định
thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
Theo điều 18, Nghị định 14/2007/NĐ – CP, quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật chứng khoán năm 2006: vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh
của công ty chứng khoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi
nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam là:
- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng
- Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng
Trường hợp CTCK muốn thực hiện cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinh
doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụ xin
cấp phép.
+ Điều kiện về nhân sự
Những người quản lý hay nhân viên giao dịch của công ty phải đáp ứng các
yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, cũng như mức độ tín
nhiệm, tính trung thực. Hầu hết các nước đều yêu cầu nhân viên của CTCK phải có
khoản rất cao.
1.1.1.3. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
1.1.1.3.1. Hoạt động môi giới
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện bên mua hoặc
bên bán thực hiện giao dịch để hưởng hoa hồng. Các công ty chứng khoán đại diện
cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị
trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với các kết quả giao
dịch mà mình đã quyết định.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư
mua chứng khoán. Do đó nhà môi giới chứng khoán cần có nhiều phẩm chất đạo
đức, kỹ năng nghề nghiệp trong công việc và thái độ quan tâm tới khách hàng mới
có thể đạt được thành công.
1.1.1.3.2. Hoạt động tự doanh
6
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho
mình. Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch
trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế
khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua
hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường,
nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực
hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Các giao
dịch chủ yếu mà công ty chứng khoán thực hiện bao gồm:
- Giao dịch gián tiếp: công ty chứng khoán đặt các lệnh mua hoặc bán các
chứng khoán trên các sở giao dịch. Công ty đóng vai trò như một khách hàng bình
thường và hoàn toàn không biết đến các đối tác.
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch dựa trên mức giá thoả thuận giữa công
ty chứng khoán và các khách hàng. Hình thức giao dịch chủ yếu là qua phương tiện
thông tin hay gặp gỡ trực tiếp với khách hàng. Giao dịch gián tiếp thường được thực
hiện với các chứng khoán OTC.
trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Bảo lãnh phát hành bao gồm cả việc tư vấn
đầu tư tài chính và phân phối chứng khoán.
Tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất
định trên số tiền thu được. Do vậy, hoạt động này chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao
trong tổng doanh thu của các công ty chứng khoán.
Việc bảo lãnh phát hành thường thực hiện theo một trong các phương thức
sau: bảo lãnh với cam kết chắc chắn, bảo lãnh với cố gắng cao nhất, bảo lãnh theo
phương thức tất cả hoặc không, bảo lãnh theo phương thức tối thiểu hoặc tối đa, bảo
lãnh theo phương thức dự phòng.
1.1.1.3.4. Hoạt động tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là quá trình phân tích các cổ phiếu và đưa ra các
lời khuyên liên quan đến chứng khoán, phân tích các tình huống và có thể thực hiện
một số công việc liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu lại nguồn tài chính cho
khách hàng.
Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán được coi là một kênh huy động
vốn quan trọng nhất với thời gian nhanh nhất và chi phí huy động rẻ nhất. Có thể
nói thị trường chứng khoán đang là một mối quan tâm của các doanh nghiệp khi
muốn huy động vốn cho quá trình sản xuất của mình. Nhưng sự hiểu biết về các thủ
tục liên quan, các lợi ích thu được, chi phí bỏ ra như thế nào thì không phải là bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể biết được. Và đó là công việc của hoạt động tư
8
vấn đầu tư chứng khoán. Với hoạt động tư vấn, CTCK cung cấp thông tin, cách
thức đầu tư, thời điểm đầu tư và quan trọng nhất là loại chứng khoán đầu tư phù
hợp với khách hàng. Thông thường hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán luôn gắn
liền với các hoạt động khác như môi giới, bảo lãnh phát hành.
1.1.1.3.5. Hoạt động phụ trợ
* Lưu ký chứng khoán
Là việc bảo quản, lưu trữ các chứng khoán của khách hàng thông qua các tài
khoản lưu ký chứng khoán tại công ty. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch
chứng khoán bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức
còn cho phép công ty chứng khoán được thực hiện quản lý quỹ đầu tư. Theo đó,
công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn, tài sản
của quỹ đầu tư để đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán được phép thu phí
quản lý quỹ đầu tư.
1.1.2. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.1.2.1. Khái niệm môi giới chứng khoán
Khi thị trường chứng khoán phát triển đến một mức độ nhất định, các nhu
cầu giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trở nên phức tạp và đòi hỏi được chăm
sóc kỹ lưỡng hơn; lượng người tham gia thị trường lại rất đông. Với số lượng lớn,
trong đó sự hiểu biết về thị trường là rất khác nhau, có những người là chuyên gia,
ngược lại cũng có rất nhiều người sự hiểu biết tối thiểu để lựa chọn chứng khoán và
thời cơ đầu tư cũng không có. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có trung gian nhằm
đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa mọi người, đảm bảo lợi thế ngang bằng
trong giao dịch.
Với những thế mạnh về nghiệp vụ chuyên môn, về cách thức tiếp cận các
nguồn thông tin… thông qua hoạt động môi giới công ty chứng khoán có thể cung
cấp cho các nhà đầu tư những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu tư và giúp cho
người đầu tư thực hiện các giao dịch của mình theo cách có lợi nhất. Trong nhiều
trường hợp, hoạt động môi giới sẽ trở thành những người bạn, người chia sẻ những
lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà
đầu tư có những quyết định tỉnh táo. Và đôi khi nhân viên môi giới còn là những
người bạn của khách hàng không chỉ trong đầu tư chứng khoán mà còn trong các
lĩnh vực khác.
10
Môi giới chứng khoán được hiểu là hoạt động của công ty chứng khoán
và của nhân viên môi giới trong sự tương quan chặt chẽ với nhau và với một
đối tác chung là khách hàng – nhà đầu tư, để tác động vào sự vận hành và
phát triển của thị trường chứng khoán. Có thể nói rằng: “môi giới chứng
khoán là hoạt động trung gian đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng
để hưởng hoa hồng. Theo đó, CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao
1.1.2.3.1. Đối với nhà đầu tư
Góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế của chuyên môn hóa hoạt động trong ngành chứng khoán nên các
công ty chứng khoán và nghề môi giới giúp giảm thiểu chi phí giao dịch. Cũng như
bất kỳ một thị trường nào khi có một giao dịch được diễn ra giữa người mua và
người bán thì điều trước tiên là họ phải gặp được nhau. Tiếp đến là các chi phí phát
12
sinh, bởi khi muốn mua một loại hàng hóa nào đó thì người mua cũng cần phải xác
định xem mình mua cái gì, mua như thế nào và mua lúc nào? Đó là những chi phí
nảy sinh ra và có nhiều khi nó cản trở các giao dịch được thực hiện. Còn ở trên thị
trường chứng khoán khi nhà đầu tư muốn giao dịch thì họ cũng cần phải có những
hiểu biết như thế về loại hàng hóa mà mình định mua. Nhưng TTCK là một thị
trường bậc cao và hàng hóa ở đây cũng đặc biệt, nó là hàng hóa tài chính. Và do
vậy mà việc thẩm định về chất lượng và giá cả của hàng hóa, người ta cần đến một
khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập, xử lý thông tin, đào tạo kỹ
năng phân tích. Những chi phí này không phải bất cứ một nhà đầu tư nào cũng có
thể có được. Và ở đây chỉ có những công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp
trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải do được hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy
mô lớn. Quá trình tìm kiếm đối tác giữa người mua và người bán cũng được tỏ ra dễ
dàng hơn khi có hoạt động môi giới. Nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng
khoán rất cần giảm thiểu những chi phí về tìm kiếm thông tin sản phẩm và họ đã
được giúp đỡ từ những sản phẩm của hoạt động môi giới. Có thể nói hoạt động môi
giới là người bạn không thể thiếu được của các nhà đầu tư.
Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng
Trên thị trường chứng khoán, thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng,
nó góp phần ảnh hưởng tới giá cả chứng khoán. Các nhân viên môi giới thay mặt
CTCK cung cấp cho khách hàng các thông tin liên quan đến tình hình thị trường,
các chứng khoán niêm yết và các thông tin khác có liên quan đến chứng khoán.
Dựa trên các thông tin này, nhà đầu tư tiến hành phân tích và đưa ra các quyết
định về việc mua bán chứng khoán cũng như giá cả sao cho hợp lý. Người môi
khách hàng của mình. Một nhà môi giới được xem là môi giới giỏi khi người đó có
khả năng biến các thông tin thành các khuyến nghị đầu tư một cách hợp lý cho từng
mục tiêu cụ thể của các khách hàng của mình. Mặt khác, người môi giới không chỉ
là người đưa ra các lời khuyên về cách thức phân bổ tài sản để đáp ứng mục tiêu tài
chính; hơn nữa tuỳ từng lúc nhà môi giới có thể là người bạn tin cậy, nhà tâm lý
lắng nghe những câu hỏi liên quan đến tình trạng tài chính của khách hàng, trong
một chừng mực có thể đưa ra các lời khuyên chính đáng. Đối với khách hàng ngoài
nhu cầu được tư vấn về tài chính, những nhu cầu tâm lý liên quan đến vấn đề tài
14
chính cũng quan trọng không kém, đôi khi họ gọi điện cho nhà môi giới chỉ là để
chia sẻ, giải toả những căng thẳng về tâm lý.
Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực
hiện được những giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ
Nhà môi giới nhận lệnh từ khách hàng và thực hiện giao dịch của họ. Quá
trình này gồm hàng loạt các công việc: nhận lệnh từ khách hàng, thực hiện lệnh giao
dịch của họ, xác định giao dịch và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không
những vậy khi giao dịch được hoàn tất nhà môi giới phải tiếp tục theo dõi tài khoản
khách hàng để nắm bắt những thay đổi từ đó kịp thời thông báo cho khách hàng mà
có thể dẫn đến tình trạng thay đổi tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của khách
hàng để từ đó đưa ra những khuyến cáo hay những chiến lược phù hợp.
1.1.2.3.2. Đối với công ty chứng khoán
Bất kỳ công ty chứng khoán nào cũng có đội ngũ nhân viên đông đảo. Hoạt
động của các nhân viên môi giới đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các công ty
chứng khoán. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở những thị trường phát triển, 20%
trong tổng số những nhà môi giới đã tạo ra 80% nguồn thu từ hoa hồng cho ngành.
Nguồn thu của người bán hàng gồm: hoa hồng, các khoản tín dụng bán hàng, các
khoản chênh lệch giá mua bán, các khoản chi phí cho các dịch vụ hoặc sản phẩm
đặc biệt, các khoản thu do nỗ lực bán hàng của họ.
Chính đội ngũ nhân viên này đã nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty,
thu hút khách hàng và đa dạng hoá sản phẩm của công ty với sự lao động nghiêm
có bảo đảm hoặc không có bảo đảm… tùy theo nhu cầu cụ thể của các bên tham gia
vào từng giao dịch.
Những sự thay đổi hay gọi là những sản phẩm mới đó được hình thành và
được công chúng nhà đầu tư chấp nhận thì phải kể đến đó là do hoạt động môi giới
đem lại. Bởi nhờ có hoạt động môi giới mà công ty và doanh nghiệp mới có thể
hiểu nhà đầu tư đang muốn gì và đưa ra những sản phẩm phù hợp. Có thể nói sự
phát triển đa dạng hóa sản phẩm nhằm đưa thị trường phát triển đã có một sự đóng
góp vô cùng to lớn của hoạt động môi giới. Đối với những thị trường mới nổi, hàng
hóa và dịch vụ còn nghèo nàn đơn điệu, nếu được tổ chức phát triển tốt, nghề môi
giới chứng khoán có thể góp phần cải thiện được môi trường này. Môi trường đầu
tư đa dạng về sản phẩm, với chi phí dịch vụ thấp và có lợi nhuận thỏa đáng sẽ thu
hút được nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trưởng.
16
Cải thiện môi trường kinh doanh
+ Góp phần hình thành nền văn hoá đầu tư: trong những nền kinh tế mà môi
trường đầu tư còn thô sơ thì người dân chưa có thói quen sử dụng số tiền nhàn rỗi
của mình để đầu tư vào các tài sản tài chính trong khi đó nguồn vốn cần cho phát
triển kinh tế lại thiếu trầm trọng. Để thu hút được đông đảo công chúng đầu tư, nhà
môi giới tiếp cận với những khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu của họ bằng
các tài sản tài chính phù hợp, cung cấp cho họ những kiến thức thông tin cập nhật
để thuyết phục khách hàng mở tài khoản. Khi đó người có tiền nhàn rỗi sẽ thấy
được lợi ích từ sản phẩm đem lại, họ sẽ tham gia đầu tư. Hoạt động môi giới chứng
khoán đã thâm nhập sâu vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ là một
yếu tố quan trọng góp phần tạo nên văn hoá đầu tư:
1) Ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng vào các tài sản tài chính.
2) Thói quen và kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư phổ biến là các dịch vụ
môi giới chứng khoán.
3) Môi trường pháp luật, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
+ Tăng chất lượng và hiệu quả dịch vụ nhờ cạnh tranh: để thành công trong
nghề môi giới chứng khoán, điều quan trọng là phải ngày càng thu hút được nhiều