1
Mục lục Trang
I. LÝ THUYẾT CHUNG 2
1.
Sổ kế toán chi tiết 2
2. Bảng cân đối tài khoản kế toán 2
3. Các báo cáo tài chính 4
3.1. Nguyên tắc lập các báo cáo tài chính 4
3.2. Bảng cân đối kế toán 5
3.3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 7
3.4. Bảng lưu chuyển tiền tệ 7
II. VAI TRÒ 8
2.1. Vai trò của sổ kế toán chi tiết 8
2.2. Vai trò của bảng cân đối tài khoản kế toán 11
2.3. Vai trò của các báo cáo tài chính 12
2.3.1. Vai trò chung 12
2.3.2. Vai trò bảng cân đối kế toán 15
2.3.3. Vai trò của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 15
2.3.4. Vai trò của báo cáo lưu chuyển tiền tệ 16
2
I. LÝ THUYẾT CHUNG
Kế toán ngân hàng (KTNH) nói chung bao gồm kế toán tại các tổ chức tín dụng
(TCTD) và tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên thông thường nói đến KTNH
người ta thường hay tập trung nói về kế toán tại các TCTD trong đó đặc biệt nhấn mạnh
đến kế toán tại các ngân hàng thương mại (NHTM). KTNH có vai trò quan trọng trong
việc cung cấp các số liệu, phản ánh toàn bộ diễn biến hoạt động kinh tế và nhờ vậy nó có
thể kiểm tra tình hình hoạt động và sử dụng vốn của Ngân hàng về việc sử dụng vốn của
Ngân hàng có hiệu quả hay không. Cho nên KTNH là công cụ để quản lý các nghiệp vụ
ngân hàng và hoạt động của nền kinh tế. Sổ kế toán chi tiết, bảng cân đối tài khoản kế
toán và các báo cáo tài chính đều là những vấn đề cơ bảng thuộc KTNH. Chúng cũng có
những vai trò hết sức quan trọng đối với các chủ thể trong nền kinh tế.
tiền tệ thì góc phải trên bảng phải ghi đơn vị tính.
Bảng cân đối tài khoản phần chính gồm các cột:
- Cột thứ 1: Số hiệu tài khoản
- Cột thứ 2:Tên tài khoản
- Cột thứ 3, 4: Số dư đầu kỳ: Nợ, Có
- Cột thứ 5,6: Số phát sinh trong kỳ: Nợ, Có
- Cột 7, 8: Số dư cuối kỳ
- Một số ngân hàng có thể lập thêm cột phát sinh lũy kế từ đầu năm Nợ, Có
Mẫu bảng cân đối tài khoản:
Ngân hàng XYZ
BẢNG CÂN ĐỐI TÀI KHOẢN
Ngày… tháng… năm
4
Số hiệu
tài
khoản
Tên tài
khoản
Số dư đầu kỳ Số phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ
Nợ Có Nợ Có Nợ Có
Cộng A A B B C C
Người lập bảng Kế toán trưởng Giám đốc
2.4. Các loại Bảng cân đối tài khoản
BCĐTK ngày: Là bảng cân đối có số phát sinh trong kỳ là phát sinh trong một
ngày. Số dư đầu kỳ là số dư của ngày hôm trước. Số dư phát sinh trong kỳ là số
phát sinh trong ngày. Số dư cuối kỳ là số dư cuối ngày.
BCĐTK tháng: Là Bảng cân đối có số phát sinh trong kỳ là trong tháng. Các yếu
tố khác tương tự.
BCĐTK quý: Là bảng cân đối có số phát sinh trong kỳ là trong quý
BCĐTK năm: Là bảng cân đối có số phát sinh trong kỳ là trong năm.
dụng vốn.
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
= Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Tổng hợp và phản ánh chính xác số liệu trên sổ sách kế toán và báo cáo kế toán,
tài chính kỳ trước.
Mẫu Bảng cân đối kế toán:
Đơn vị báo cáo:… Mẫu số 02
Địa chỉ:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Cho năm tài chính kết thúc ngày… tháng…năm
Đơn vị tính: đồng VND
6
STT Chỉ tiêu Thuyết minh Năm nay Năm trước Cách lấy số liệu
từ BCĐTKKT
(1) (2) (3) (4) (5)
A Tài sản
… …
Tổng Tài Sản Có
B NPT và VCSH
… …
Tổng NPT và VCSH
…, ngày…tháng…năm
Lập bảng Kế toán trưởng Tổng giám đốc
3.3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Khái niệm: BCKQHĐKD là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình
hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của đơn vị, chi tiết theo hoạt động kinh
doanh chính và hoạt động kinh doanh khác, là cơ sở để kiểm tra, theo giõi việc thực hiện
kế hoạch thu chi tài chính của ngân hàng.
3.4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Khái niệm: Là báo cáo cung cấp thông tin về các thay đổi từ trước tới nay về tiền
8
Hình thức nhật ký chứng từ
Việc áp dụng hình thức nào tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh
và trình độ quản lý của các doanh nghiệp. Vấn đề cần lưu ý là khi đã chọn hình thức nào
để áp dụng thi nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của hình thức đó, tuyệt
đối tránh thay đổi và tùy tiện làm theo ý riêng.
Hình thức kế toán áp dụng phổ biến tại các NHTM Việt Nam là chứng từ ghi sổ. Ở
hình thức này, kế toán dựa vào từng chứng từ kế toán Ngân hàng hoặc Bảng kê chứng từ
kế toán Ngân hàng để hạch toán vào sổ kế toán. Như vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về
vai trò của sổ kế toán chi tiết trong hính thức kế toán “chứng từ ghi sổ”.
Trình tự của hình thức kế toán “chứng từ ghi số” như sau:
Hàng ngày, nhân viên kế toán căn cứ vào chứng từ gốc đã được kiểm tra lập các
chứng từ ghi sổ. Đối với những nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều và thường xuyên,
chứng từ gốc sau khi được kiểm tra được ghi vào bảng tổng hợp chứng từ gốc, định kỳ
căn cứ vào bảng tổng hợp chứng từ gốc để lập các chứng từ ghi sổ.
Đối với các giao dịch liên quan nhiều đến tiền mặt, kế toán lập báo cáo quỹ hằng
ngày để sau đó hoàn thành chứng từ ghi sổ.
Chứng từ ghi sổ sau khi được lập xong chuyển đến kế toán trưởng ký duyệt rồi
chuyển cho bộ phận kế toán tổng hợp với đầy đủ chứng từ gốc kèm theo để bộ phận này
ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và ghi vào Sổ cái.
Cuối tháng khoá sổ tìm ra tổng số tiền phát sinh trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
và số tổng số phát sinh Nợ, số tổng số phát sinh Có, của từng tài khoản trên Sổ cái. Tiếp
đó căn cứ vào Sổ Cái lập bảng cân đối tài khoản của các tài khoản tổng hợp. Tổng số phát
sinh Nợ, tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản tổng hợp trên bảng cân đối số phát
sinh phải khớp đúng với nhau và số dư của từng tài khoản (Dư Nợ, Dư Có) trên bảng cân
đối phải khớp với số dư của tài khoản tương ứng trên bảng tổng hợp chi tiết của phần kế
9
toán chi tiết. Sau khi kiểm tra đối chiếu khớp với số liệu nói trên, bảng cân tài khoản
được sử dụng để lập bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán khác.
Đối với những tài khoản có mở các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết thì chứng từ gốc
thành tài sản Có, tình hình cho vay và kết quả hoạt động của ngân hàng trong kỳ báo cáo
và từ đầu kỳ đến cuối kỳ báo cáo.
Thứ hai, bảng CĐTK còn là phương tiện để đảm bảo rằng tổng số dư Nợ và Có
trên tất cả các tài khoản bằng nhau. Dựa vào Bảng CĐTK, có thể kiểm tra sự chính xác
11
của quá trình hạch toán thông qua việc cân đối Nợ và Có. Nếu Bảng CĐTK không cân,
kế toán có thể kiểm tra sai sót thông qua việc:
- Đảm bảo rằng các cột của Bảng CĐTK được cộng chính xác.
- Đảm bảo rằng số dư các tài khoản được ghi vào Bảng là khớp đúng với Sổ cái
(Sổ kế toán tổng hợp).
- Kiểm tra xem các số dư Nợ và Có đã được đặt đúng cột.
- Kiểm tra các số liệu trong Sổ cái được chuyển từ Nhật ký chứng từ có chính xác
hay không.
Thứ ba, căn cứ vào số liệu trên Bảng CĐTK, kế toán có thể lập Bảng cân đối kế
toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách chính xác.
Thứ tư, Bảng CĐTK cũng cung cấp tài liệu cho việc phân tích hoạt động kinh tế
thông qua các số liệu về số dư đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ và số dư cuối kỳ của tất cả
các tài khoản thuộc mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng; từ đó làm cơ sở cho việc quản
trị hoạt động kinh doanh Ngân hàng của NHNN để phục vụ công tác thanh tra giám sát
các NHTM cũng như việc xây dựng điều hành, đánh giá các chính sách kinh tế vĩ mô của
NHNN.
Tuy nhiên, Bảng CĐTK vẫn có một số hạn chế nhất định do tính tổng hợp và thời
kỳ của nó, vì vậy để việc kiểm tra được chính xác hơn, kế toán cần kết hợp kiểm tra với
Sổ kế toán chi tiết và các tài liệu khác.
2.3. Vai trò của các báo cáo tài chính
2.3.1. Vai trò chung
BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính kết quả kinh doanh
của một ngân hàng. Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình
hình kinh doanh và các luồng tiền của NHTM, đáp ứng yêu cầu hữu ích cho số đông
những người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế.
và kết quả kinh doanh mà NHTM đạt được, từ đó phân tích và dự đoán các tiềm năng của
NHTM để ra các quyết định như tiếp tục đầu tư hay rút vốn khỏi ngân hàng.
Biểu đồ sau đây đề cập đến những cổ đông lớn của VP Bank tại năm 2012
Như vậy, là những người trực tiếp đầu tư tiền vào ngân hàng này, nắm giữ số cổ
phiếu lên tới hàng triệu, họ luôn quan tâm tới tình hình tài chính và hoạt động của công
ty.
Các đối tác kinh doanh, khách hàng
Để lựa chọn dịch vụ của NHTM nào, hay chọn NHTM nào làm đối tác kinh
doanh, các đối tác của NHTM thường dựa trên các đánh giá về mọi mặt, đặc biệt là tình
hình tài chính, chất lượng tín dụng, khả năng thanh toán của NHTM… Những thông tin
này phần lớn được cung cấp bởi hệ thống báo cáo của NHTM.
Các đối tác kinh doanh có thể là các doanh nghiệp vay tiền, các công ty xuất nhập
khẩu với nhu cầu giao dịch ngoại hối lớn. Họ luôn muốn tìm kiếm những ngân hàng có
thể cho vay với lãi suất ưu đãi nhất, chế độ vay vốn tốt hoặc có quan hệ với nhiều tổ chức
khác trên thị trường quốc tế. Chính vì vậy, họ quan tâm tới không chỉ nguồn vốn mà còn
là khả năng thanh khoản, ngoại tệ của các ngân hàng. Bảng lưu chuyển tiền tệ, cân đối kế
toán sẽ rất có ích cho các đối tác khi phân tích về tình hình của các ngân hàng.
2.3.2. Vai trò của Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán có một vai trò quan trọng bởi nó là tài liệu để nghiên cứu,
đánh giá tổng quát tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
trình độ sử dụng vốn ở một thời điểm nhất định. Thời điểm quy định là ngày cuối cùng
của kỳ báo cáo. Đồng thời bảng cân đối kế toán còn thể hiện triển vọng kinh tế tài chính
của đơn vị
14
Thông qua bảng CĐKT, ta có thể xem xét mối quan hệ từng bộ phận vốn và nguồn
vốn, cũng như các mối quan hệ khác. Và thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đó
giúp cho người quản lý thấy rõ tình hình huy động nguồn vốn chủ sở hữu, và nguồn vay
nợ để mua sắm từng loại tài sản, hoặc quan hệ công nợ và khả năng thanh toán, kiểm tra
quá trình hoạt động, chấp hành kế hoạch đề ra. Từ đó phát hiện được tình trạng mất cân
đối, và có phương hướng biện pháp kịp thời để điều chỉnh.
dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với
lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả.
Có một dự báo dòng tiền mặt chính xác sẽ đảm bảo cho ngân hàng có được sự
tăng trưởng ổn định mà không phải kinh doanh vượt mức hay rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh khoản hay lãng phí cơ hội kiếm lời.
16
Nguồn tài liệu sử dụng
Giáo trình Kế toán Ngân hàng – Học viện Ngân hàng 2012
Giáo trình Kế toán Ngân hàng – Trường đại học Ngân hàng TP. HCM 2012
Website VP bank: http://www.vpbank.com.vn/
Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Chế độ báo
cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng