Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Hà nội, năm 2014
Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Chu thị bích ngọc
HOàN THIệN PHƯƠNG PHáP TíNH Và PHÂN TíCH
GIá TRị GIA TĂNG NGàNH VậN TảI VIệT NAM CHUYấN NGNH: KINH T HC (THNG Kấ KINH T)
Mó s: 62.31.01.01
Chu Thị Bích Ngọc
ii
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.3.1 Một số nguyên tắc thống kê đối tượng vận tải 25
1.3.2 Nguyên tắc tính giá trị gia tăng ngành vận tải 27
1.3.3. Phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải theo SNA 28
1.3.4. Nguồn thông tin phục vụ tính VA ngành Vận tải theo SNA 32
Tóm tắt chương 1 33
iii
CHƯƠNG 2 HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ PHÂN TÍCH GIÁ
TRỊ GIA TĂNG NGÀNH VẬN TẢI VIỆT NAM HIỆN NAY 35
2.1 Khái quát chung thống kê SNA ở Việt Nam 35
2.1.1 Sơ lược về tổ chức thống kê của Việt Nam 35
2.1.2 Cơ quan biên soạn số liệu thống kê SNA của Việt Nam 36
2.1.3 So sánh mức độ thực hiện thống kê SNA của Việt Nam với qui định của IMF 37
2.2 Hoàn thiện phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam
trên phạm vi cả nước hiện nay 39
2.2.1 Thực trạng phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải cho phạm vi cả
nước ở Việt Nam hiện nay 39
3.1.4 Tổng quan Đường sắt Việt Nam 74
3.2 Tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt 80
iv
3.2.1 Tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt theo cách tính của Vụ Hệ thống
Tài khoản quốc gia Tổng cục Thống kê 80
3.2.2 Tính VA ngành Vận tải Đường sắt theo hướng hoàn thiện 85
3.2.3 So sánh kết quả tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt của tác giả và Vụ
Hệ thống Tài khoản quốc gia Tổng cục Thống kê 89
3.3 Phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt 91
3.3.1 Phân tích biến động VA ngành Vận tải Đường sắt theo thời gian 91
3.3.2 Phân tích cơ cấu VA ngành Vận tải Đường sắt theo các yếu tố 92
3.3.3 Phân tích thị phần vận tải Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2008-2012 93
3.3.4 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt 100
Tóm tắt chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 115
Bảng 2.1: Nhóm chỉ tiêu sử dụng trong phân tích VA ngành Vận tải do ảnh hưởng
bởi các nhân tố 51
Bảng 2.2: Hoàn thiện các chỉ tiêu trong biểu số 01-CS/VTKB 64
Bảng 3.1: Khối lượng luân chuyển hàng hóa, hành khách vận tải Đường sắt giai
đoạn 2008-2012 81
Bảng 3.2: Kết quả tính VA ngành Vận tải Đường sắt giai đoạn 2008-2012 theo
cách tính của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia 84
Bảng 3.3: Nhóm chỉ tiêu cơ bản để tính VA vận tải Đường sắt giai đoạn 2008-
2012
85
Bảng 3.4: Kết quả tính VA ngành Vận tải Đường sắt giai đoạn 2008-2012 86
Bảng 3.5: Kết quả tính VA ngành Vận tải Đường sắt giai đoạn 2008-2012 88
Bảng 3.6: Kết quả tính VA – 1 và VA - 2 89
Bảng 3.7: Biến động VA vận tải Đường sắt theo giá hiện hành giai đoạn 2008-2012 91
Bảng 3.8: Cơ cấu VA ngành Vận tải Đường sắt theo các yếu tố giai đoạn 2008-2012 92
Bảng 3.9: Tỷ trọng VA vận tải Đường sắt theo giá hiện hành giai đoạn 2008-201294
Bảng 3.10: Thị phần vận tải hàng hóa theo ngành đường giai đoạn 2008-2012 94
biến động 106
Bảng 3.21 : Bảng tính phân tích biến động VA vận tải Đường sắt do ảnh hưởng bởi
3 nhân tố 107Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1: Kết quả tính VA – 1 và VA – 2 90
Biểu đồ 3.2: Biến động của GO, IC, VA theo giá hiện hành ngành Vận tải Đường
sắt giai đoạn 2008-2012 92
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu VA vận tải đường sắt theo các yếu tố 93
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Quy trình tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam hiện nay 39
Trong sơ đồ trên: 40
Sơ đồ 2.2: Quy trình tính giá trị gia tăng ngành Vận tải đối với các doanh nghiệp
vận tải Nhà nước 43
Sơ đồ 2.3: Quy trình tính giá trị gia tăng ngành Vận tải đối với các doanh nghiệp
vận tải ngoài nhà nước và các cơ sở kinh tế vận tải cá thể 45
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
phân tích, đánh giá hoạt động kinh tế, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch.
Để thống nhất phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, thống nhất
việc lập các tài khoản cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể phù hợp với điều kiện
Việt Nam và thông lệ quốc tế, trong các năm 1998, 2003 ngành Thống kê nước ta
đã biên soạn và xuất bản tài liệu “Phương pháp biên soạn hệ thống tài khoản quốc
gia ở Việt Nam”.
Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng SNA ở Việt Nam đến nay đã bộc lộ một số
điểm bất cập như: (1) Một số chỉ tiêu tính toán ở phạm vi các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương chưa thực sự ăn khớp với cả nước [Ví như chỉ tiêu GDP của các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (còn gọi là GRP (Gross Regional Products)
/GRDP(Gross Regional Domestic Products) /GDPR(Gross Domestic Products of
Region)) chưa ăn khớp với GDP cả nước]; (2) Nguồn thông tin và phương pháp
biên soạn các biểu mẫu báo cáo thống kê chưa thực sự đáp ứng yêu cầu quản lý,
điều hành nền kinh tế. Trong bối cảnh chung đó, ngành Vận tải cũng không phải là
một ngoại lệ.
Theo SNA, ngành Vận tải là ngành kinh tế cấp I trong hệ thống ngành kinh
tế. Đối với nền kinh tế, ngành Vận tải là một trong những ngành trọng yếu, không
thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế mỗi quốc gia. Sự phát triển mạng lưới vận tải
góp phần và thúc đẩy hình thành và phát triển của các vùng - miền, đưa đến những
thay đổi cơ bản trên bản đồ địa lý kinh tế mỗi quốc gia - dân tộc. Tùy theo điều kiện
tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể mỗi nước, đóng góp của ngành Vận tải trong GDP
của mỗi nước mỗi khác nhưng đều chiếm một tỉ lệ đáng kể. Việc xác định chính xác
giá trị gia tăng ngành Vận tải sẽ góp phần đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của
chỉ tiêu GDP của cả nước, từ đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các quyết
sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Tính chính xác của chỉ tiêu
giá trị gia tăng ngành Vận tải hoàn toàn phụ thuộc vào phương pháp tính giá trị gia
tăng ngành Vận tải. 3
4
của việc xác định cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế bằngchỉ tiêu giá
trị sản xuất tính theo giá cơ bản là phản ánh chính xác hơn, sát thực hơn kết quả sản
xuất kinh doanh, loại trừ được ảnh hưởng của nhân tố ngoài quá trình sản xuất
(chính sách thuế). Tuy nhiên, ở bài viết này, tác giả chưa đề cập đến phương pháp
tính toán cụ thể cho từng ngành trong nền kinh tế nói chung và cho ngành Vận tải
nói riêng.
(3) Bài “Phương pháp tính giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm về giá so sánh
năm 2005 theo hệ thống chỉ số giá” của tác giả Nguyễn Văn Minh đăng trên Thông
tin khoa học thống kê các số số 5 và 6 năm 2007.
Trong bài này, tác giả nêu ra nguyên tắc, phương pháp chung để tính giá trị
sản xuất, giá trị tăng thêm năm hiện hành theo giá so sánh năm 2005 theo hệ thống
chỉ số giá để từ đó nghiên cứu, đánh giá tăng trưởng kinh tế trên phạm vi cả nước
cũng như trong phạm vi mỗi tỉnh, thành phố; dùng phương pháp chỉ số giá [chỉ số
giá bán của người sản xuất (PPI) hoặc chỉ số giá tiêu dùng (CPI)] để tính giá trị sản
xuất theo giá so sánh. Mặt khác, bài viết này cũng đã làm rõ đơn vị thường trú của
một số lĩnh vực, một số ngành cụ thể, đồng thời qui ước dùng tỷ lệ chi phí trung
gian theo giá thực tế để tính chỉ tiêu giá trị tăng thêm theo giá so sánh.
Như vậy, trong bài viết này, tác giả chưa làm rõ cách tính giá trị tăng thêm
cho từng ngành theo giá so sánh năm 2005; chưa chỉ ra, chưa khắc phục được
những vướng mắc cụ thể về nguồn thông tin để tính các chỉ số PPI và CPI.
(4) Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tính giá
trị sản xuất ngành Vận tải theo giá hiện hành ở Việt Nam”, mã số 14CS2002 của
Vụ Xây dựng - Giao thông - Bưu điện (Tổng cục Thống kê), chủ nhiệm đề tài: CN
Dương Tiến Bích.
Qua việc nghiên cứu phương pháp chuẩn quốc tế tính giá trị sản xuất ngành
Vận tải; Qua nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác thu thập số liệu để tính giá trị
sản xuất ngành Vận tải, đề tài đã đề xuất phương pháp tính giá trị sản xuất và
phương hướng hoàn thiện việc thu thập số liệu làm cơ sở tính giá trị sản xuất ngành
6
cáo của Cục Thống kê các tỉnh, thành phố vv Do giới hạn bởi mục tiêu nghiên cứu,
đề tài mới dừng lại ở chỗ giới thiệu nguồn thu tập thông tin một số chỉ tiêu mà chưa
đưa ra được qui trình thu thập thông tin thống kê ngành Vận tải. Mặt khác, đề tài
cũng chưa chỉ ra được phương pháp thống kê vận tải đường bộ một cách cụ thể, chi
tiết và thực sự khoa học.
(7) Đề tài khoa học “Nghiên cứu cải tiến chế độ báo cáo thống kê tổng hợp
áp dụng đối với tỉnh, thành phố”, mã số 2.1.13-TC7 của Tổng cục Thống kê (đề tài
cấp Tổng cục, chủ nhiệm đề tài: CN.Đào Thị Kim Dung).
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối
với các Cục Thống kê tỉnh, thành phố (chế độ báo cáo thống kê cấp Tỉnh) các
chuyên ngành (Công nghiệp - Xây dựng; Thương mại, Dịch vụ và Giá cả; Lao động
- Dân số; Xã hội - Môi trường; Tài khoản quốc gia; Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ
sản); Trên cơ sở phân tích nội dung thông tin thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc
gia đối với cấp tỉnh, thành phố, đề tài đã đề xuất các nguyên tắc hoàn thiện và đã
tiến hành hoàn thiện chế độ báo cáo thống kê cấp Tỉnh. Tuy nhiên ở đề tài này, tác
giả chưa nghiên cứu, đề xuất các biểu mẫu báo cáo áp dụng cho từng ngành, nhóm
ngành, chưa hệ thống hóa quá trình thu thập thông tin của các cục Thống kê tỉnh/
thành phố cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể.
(8) Đề tài khoa học “Xác định các chỉ tiêu cần tính theo giá so sánh và
những thông tin cần cài đặt trong điều tra và chế độ báo cáo của Vụ Thống kê
Thương mại, Dịch vụ Giá cả để sử dụng năm 2010 làm năm gốc so sánh”, mã số
2.1.1-BO9 của Tổng cục Thống kê, người thực hiện Nguyễn Thị Xuân Mai, Phó vụ
trưởng Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (nay là Vụ Thống kê Thương
mại và Dịch vụ).
Mục tiêu của đề tài là xác định rõ những chỉ tiêu cần tính theo giá so sánh
của các chuyên ngành thuộc lĩnh vực Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả,
cũng nhưnhững thông tin cần cài đặt trong chế độ báo cáo thống kê của Vụ để sử
báo cáo tài khoản quốc gia; Khả năng áp dụng giá cơ bản trong tính toán chỉ tiêu giá
trị sản xuất; Phương pháp tính giá trị sản xuất ngành Vận tải theo giá hiện hành ở
Việt Nam; Khả năng tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng của các ngành kinh
tế theo giá cơ bản; Hệ thống thông tin thống kê vận tải đường bộ nước ta; Phương 8
pháp thu thập và tổng hợp số liệu thống kê vận tải hàng tháng ở Việt Nam vv Mặt
khác, qua các nghiên cứu này, có thể thấy, cho đến nay ở Việt nam chưa có đề
tài/công trình nghiên cứu chuyên sâu nào tạo cơ sở cho việc đánh giá chính xác sự
đóng góp của hoạt động vận tải qua việc nghiên cứu và đề xuất phương pháp tính và
phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt nam.
Với mong muốn thiết thực góp phần nâng cao tính chính xác, độ tin cậy của
chỉ tiêu giá trị gia tăng ngành Vận tải, từ đó góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao về thông tin thống kê ngành Vận tải nói riêng và thông tin thống kê kinh tế nói
chung, tác giả luận án chọn vấn đề“Hoàn thiện phương pháp tính và phân tích giá
trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hoàn thiện phương pháp tính và phân tích
giá trị gia tăng ngành vận tải Việt Nam, cụ thể gồm:
(1) Làm rõ phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải theo hệ thống tài
khoản quốc gia (SNA) .
(2) Đánh giá phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải hiện đang áp
dụng tại Việt Nam.
(3) Hoàn thiện phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam
(4) Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện phân tích giá trị gia tăng
ngành Vận tải Việt Nam.
(5) Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê
phục vụ tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam.
(6) Thử nghiệm tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực Thống kê nói chung và
Thống kê ngành Vận tải nói riêng; các tài liệu (bao gồm: sách, báo, tạp chí, công
trình nghiên cứu) về phương pháp tính và phân tích VA ngành Vận tải; các số liệu
có liên quan từ các báo cáo thống kê, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và của
ngành Vận tải từ các cuộc điều tra chuyên đề, điều tra mẫu. Bên cạnh đó nghiên cứu 10
sinh có tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia đang công tác tại Tổng cục
Thống kê, cục Thống kê có liên quan đến vận tải, cũng như các cán bộ trực tiếp làm
công tác thống kê tại Bộ Giao thông vận tải, tại các doanh nghiệp vận tải để thấy
được thực trạng công tác thông tin thống kê, thực trạng việc tính toán các chỉ tiêu
chủ yếu của ngành Vận tải nói chung và của ngành Vận tải Đường sắt nói riêng,
cũng như những bất cập trong tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải trên
phạm vi cả nước hiện nay mà Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc gia Tổng cục Thống kê
đang gặp phải.
(3) Các phương pháp thông kê mô tả, phân tích thống kê: kỹ thuật bảng, đồ
thị thống kê, phân tổ thống kê, phân tích cơ cấu, phân tích nhân tố, phân tích biến
động theo thời gian, phương pháp mô hình hóa- sơ đồ được sử dụng trong Luận án
để tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải.
5. Những đóng góp của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận như sau:
(1) Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận có liên quan đến
phương pháp luận tính VA ngành Vận tải theo SNA.
(2) Phân tích thực trạng phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt
Nam hiện nay cho phạm vi cả nước theo ngành đường của Vụ Hệ thống Tài khoản
quốc gia Tổng cục Thống kê.
(3) Làm rõ thực trạng phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam hiện
nay của Tổng cục Thống kê.
(4) Phân tích thực trạng hệ thống thông tin phục vụ việc tính và phân tích giá
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ GIA TĂNG
NGÀNH VẬN TẢI THEO HỆ THỐNG TÀI KHOẢN QUỐC GIA
Ngành Vận tải có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân. Để đánh giá vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân chúng ta
cần tính toán chỉ tiêu giá trị gia tăng ngành vận tải. Chỉ tiêu gía trị gia tăng ngành
Vận tải là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới sáng tạo ra trong một thời
kỳ nhất định của ngành Vận tải. Phương pháp tính chỉ tiêu giá trị gia tăng ngành
Vận tải theo chuẩn của hệ thống Tài khoản quốc gia được thể hiện chi tiết qua
chương 1: “Tổng quan về phương pháp tính giá trị gia tăng ngành vận tải theo hệ
thống tài khoản quốc gia”. Nội dung chi tiết của chương 1 bao gồm các phần chính:
(1).Tổng quan hệ thống tài khoản quốc gia; (2).Những vấn đề chung về ngành Vận
tải; (3). Phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải theo SNA.
1.1.Tổng quan Hệ thống Tài khoản quốc gia
Hệ thống Tài khoản quốc gia là một hệ thống chỉ tiêu kinh tế được trình bày
dưới dạng các tài khoản kế toán kép hoặc các bảng biểu thống kê, được xây dựng
theo một chuẩn mực chung của quốc tế, nhằm phản ánh các điều kiện sản xuất , kết
quả sản xuất, quá trình tạo và hình thành thu nhập, quá trình phân phối, phân phối
lại thu nhập và sử dụng thu nhập cuối cùng của nền kinh tế, của các khu vực thể
chế. Tài khoản quốc gia là một dụng cụ dùng để đo lường kết quả sản xuất xã hội,
một mô hình phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản ở tầm vĩ mô.
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển SNA
- Lý do hình thành SNA: Xuất phát từ ý tưởng về đo lường, định lượng tổng
quát toàn bộ nền kinh tế quốc dân và nhu cầu so sánh quốc tế về những chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp
- Quá trình hình thành và phát triển SNA 13
Đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển SNA là W.Petty nhà kinh tế học
14
Vai trò của SNA như sau:[12, tr101]
(1) SNA cung cấp hệ thống khái niệm, qui tắc hạch toán chung để xây dựng
hệ thống thông tin kinh tế vĩ mô nhằm mục đích đánh giá và phân tích kết quả hoạt
động của nền kinh tế,
(2) SNA mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản, từ sản xuất, tiêu
dùng đến tích lũy của cải trong nền kinh tế,
(3) SNA cho phép xây dựng và phân tích các mô hình kinh tế,
(4) SNA đáp ứng nhu cầu so sánh quốc tế.
1.1.3 Các khái nệm cơ bản của SNA
(1) Khái niệm sản xuất: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc
thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành
sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra
phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một
đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”.[12, tr 103]
Theo khái niệm sản xuất thì sản xuất sẽ không bao gồm các quá trình tự
nhiên không có con người tham gia và chịu trách nhiệm dưới khía cạnh kinh tế như:
sự phát triển tự nhiên của cây rừng, cá biển, cá sông v.v Không bao gồm các hoạt
động tự phục vụ trong nội bộ gia đình như: các thành viên trong hộ gia đình tự nấu
nướng, tự nuôi dạy con cái v.v Tuy nhiên các hoạt động của hộ gia đình như: tự
sản xuất các sản phẩm nông, lâm, thủy sản để tiêu dùng, tự làm ra các hàng hóa
khác để tiêu dùng như: tự xây dựng, tự chế biến lương thực, thực phẩm, tự may vá
quần áo…đều được coi là sản xuất.
Cũng theo khái niệm sản xuất thì các hoạt động bất hợp pháp tạo ra sản phẩm
mang lại thu nhập cho người sản xuất bất hợp pháp đó như: buôn bán ma túy, mại
dâm, đánh bạc…đều được coi là sản xuất. Ở Việt Nam các hoạt động bất hợp pháp
nêu trên không được coi là sản xuất. Việt Nam qui định tính vào kết quả hoạt động
sản xuất là kết quả lao động của những hoạt động trong các lĩnh vực được luật pháp
gia dưới một năm vẫn coi là cư dân thường trú của quốc gia đó. Chẳng hạn thành
viên của một gia đình thường trú của Việt Nam ra nước ngoài công tác, đi du lịch,
chữa bệnh… dưới một năm vẫn là cư dân thường trú của Việt Nam; Các đại sứ
quán, lãnh sự quán, căn cứ quân sự của nước ngoài đóng trên lãnh thổ (của Việt
Nam) thuộc lãnh thổ kinh tế của nước ngoài; Những nhân viên người Việt Nam làm
việc cho các đại sứ quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam là cư dân 16
thường trú của Việt Nam. Những quy định này ảnh hưởng tới tính chính xác khi đánh
giá chỉ tiêu xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ và Tiêu dùng cuối cùng cùng như
chỉ tiêu Thu nhập quốc gia và các chỉ tiêu khác của Hệ thống Tài khoản quốc gia.
1.1.4 Các phân tổ chủ yếu của SNA
(1) Phân ngành kinh tế [12, tr107]
Phân ngành kinh tế là phân chia nền kinh tế quốc dân thành các tổ khác nhau
dựa theo đặc điểm về hoạt động sản xuất của các đơn vị cơ sở tham gia phân ngành.
Kết quả của phân ngành ta có các ngành kinh tế: Ngành kinh tế bao gồm
tất cả các đơn vị cơ sở có cùng loại hoạt động sản xuất giống nhau hoặc tương
tự nhau.
[12]
Khái niệm: Đơn vị cơ sở là một đơn vị kinh tế đóng tại một địa điểm, sản
xuất ra một loại sản phẩm và chịu sự quản lý của một đơn vị thể chế. [12, tr 110]
Bảng phân ngành kinh tế lần bốn vào năm 2006 ISIC-4 (International
Standard Industrial Classification of all Economic Activities) chia nền kinh tế thành
5 cấp ngành và được phân vào ba nhóm ngành. Nhóm 1 bao gồm các ngành hoạt
động khai thac sản phẩm có sẵn từ tự nhiên như: nông, lâm nghiệp, thủy sản…
Nhóm 2 bao gồm các ngành hoạt động chế biến sản phẩm có sẵn từ tự nhiên: chế
biến, sản xuất phân phối điện, nước, ga và xây dựng. Nhóm 3 bao gồm các ngành