Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều
Gioi thieu ve tac gia Nguyen Du va Truyen Kieu – Đề bài: Em hãy trình bày hiểu biết của minh
Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều.
Nguyễn Du (1765 I 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiền; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền
thông về vàn chương. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ Tiến sĩ, từng giữ chức tể tướng. Anh cùng cha khác mẹ
là Nguyễn Khản cũng làm quan to dưới triều Lê-Trịnh.
Nguyễn Du lớn lên trong hoàn cảnh thuận lợi và đầy đủ như thế không được bao lâu. Năm 9 tuổi, ông rnồ
cổi cha, năm 12 tuổi lại mồ cồi mẹ. Cùng với sự sụp đổ của chế độ Lê-Trịnh, dòng họ Nguyễn lừng lầy
hiển vinh cũng dần dần xiêu tán. Cho nên, tuy sinh trưởng trong gia đình quý tộc nhưtig từ nhỏ, Nguyễn
Đu đả phải trải qua cuộc sống nhiều nỗi khổ sở, cơ cực-như dân thường. Nhiều lúc ông lâm vào cảnh đói
không cơm, rét không áo, ốm không thuốc, thậm chí không chốn nương thân.Cuộc đời Nguyền Du gắn liền với những biến cô" lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kĩ
XIX. Đây là một thời đại đầy biến động với hai đặc điếm nồi bật: chế độ phong kiến Việt Nam khủng
hoảng trầm trọng, phong trào nông dân nồi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn như cơn
bão lớn quét sạch các tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh thối nát và đánh tan hai mươi vạn quân Thanh xâm
lược.
Cuộ.c khởi .nghĩa Tây Sơn đã một phen thay đổi sơn hà, làm lung lay ý thức hệ tư tưởng của nhiều người,
trong đó có Nguyễn Du. Phong trào Tây Sơn thất bại, triều Nguyễn được thiết lập; nhà thơ đã hướng ngòi
bút vào hiện thực vừa Trải qua một cuộc bể dâu để ghi lại Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Trong suốt quãng đời lênh đênh lưu lạc, nhà thơ đã tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người và số
phận khác nhau. Khi ra làm quan với nhà Nguyễn, ông được vua cử đi sứ Trung Quốc. Ông đã đi qua
nhiều vùng đất rộng lớn, tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ. Những biến động lớn lao của gia
đình và xã hội đã tác động sâu sắc tới con người cùng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du.
Trong khi Kim Trọng về quê ở tận Liêu Dương để chịu tang người chú, gia đình Thúy Kiều bị tên bán tơ
vu oan dẫn đên cảnh tội tù, tan nát. Thúy Kiều nhờ Thúy Vân trả món nợ tình cho Kim Trọng, còn nàng
thì quyết định bán mình để lấy tiền chuộc cha.
Thúy Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt đẩy vào lầu xanh. Mến mộ tài sắc
của nàng, Thúc Sinh đã chuộc nàng rá, cưới làm vợ lẽ. Nhưng rồi Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn
Thư ghen tuông, đày đọa, làm cho khốn khổ. Nàng phải trôn đến nương nhờ cửa Phật. Giác Duyên vô
tình gửi nàng cho Bạc Bà – một kẻ buôn người như Tú Bà nên lần thứ hai, Kiều lại rơi vào lầu xanh, ơ
đây, Thúy Kiều gặp người anh hùng Từ Hải. Từ Hải cưới Kiều làm vợ và giúp nàng báo ân báo oán. Do
mắc lừa tên quan tổng đốc Hồ Tôn Hiến nên Từ Hải bị giết chết. Thúy Kiều phải hầu đàn, hầu rượu cho
Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đường.
Nàng được Giác Duyên cứu và lần thứ hai, nàng lại nương nhờ cửa Phật
PHẨN THỨ BA: Đoàn tụ.
Sau nửa năm, Kim Trọng trở lại vườn Thuý để tìm Thuý Kiều. Hay tin gia đình nàng gặp cơn hoạn nạn và
Kiều phải bán mình chuộc cha, chàng đau đớn vô cùng. Tuy kết duyên với Thuý Vân theo nguyện vọng
của Thuý Kiều nhưng Kim Trọng chẳng thể nào nguôi được mối tinh đầu say đắm. Chàng quyết cất công
đi tìm Thuý Kiều. Tình cờ gặp dược Giác Đuyên mà Kim, Kiều gặp nhau, gia đình đoàn tụ. Chiều ý mọi
người, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước Duyên đôi lứa cũng là
duyên bạn bầy.
Về nội dung, Truyện Kiều có hai giá trị lớn là hiện thực và nhân đạo.
Tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xả hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thông trị và
sô" phận đau khổ của những con người bị áp bức, đặc biệt là bi kịch của người phụ nữ.
Trước hết, tác giả tô" cáo tội ác của giai cấp phong kiến thống trị, trong xã hội người bóc lột người.
Thường thường, chúng vẫn dùng chiêu bài đạo lí, nhân nghĩa đế che lấp tội ác. Với Truyện Kiều, Nguyền
Du đã bóc trần bản chất xấu xa của chúng trước dư luận ngàn đời.
Nàng mong thiên hạ thái bình để được trở về với cha mẹ, với quê hương.
Ác thay! Cái chế độ thôi nát thể hiện ở tên Tổng đốc trọng thần vừa bất tài, vừa đê tiện kia không thể
dung nạp nổi một nguyện vọng bình thường, nhỏ nhoi như thế. Để trả lời cho ước mong bình dị của ngườỉ
đàn bà khổ sở, tên Hồ Tôn Hiến phản phúc đã nhẫn tâm lừa giết chồng nàng và trơ tráo kiếm chác trên
nhan sắc cùng tài hoa của nàng. Lúc tỉnh rượu, sợ mang tai tiếng, hắn lại ép nàng lấy một viên thổ quan
cho êm chuyện.
Hành động quyên sinh của Thuý Kiều ở sông Tiền Đường không chĩ chấm đứt một đoạn độri mười lăm
năm lưu lạc của nàng mà còn là một cách kết luận đầy nghệ thuật của Nguyễn Du về cái xã hội đả đày
đoạ nàng. Đó là Iĩiột xã hội vô nhân đạo, không tôn trọng tài hoa, đức hạnh, chà đạp lên nhân phẩm và
không để cho con người được sống yên ổn, bình thường.
Nhưng khồng dừng lại ở đó, Nguyễn Du đã đề Kiều đoàn tụ vớị chàng Kim: Với kiểu kết thúc tưởng như
có hậu ấy, tác giả đã kết án chế độ đương thời một cách đanh thép. Bởi vì, một người con gái đa tài, đa
sắc như Thuý Kiều lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc lứa đồi, hạnh phúc gia đình trọn vẹn nhưng lại phải
sống cô đem, mòn mỏi trong quãng đời còn lại. Kh.ông nỗi bất hạnh nào lớn hơn đối’với người phụ nữ
như điều đáng sợ ấy.
Qua đó, nhà thơ khẳng định nguyện vọng được sông bình thường của con người là điều quan trọng và chế
độ nào quan tâm làm cho con người đạt được nguyện vọng ấm no, hạnh phúc thì chế độ đó mới có lí do
tồn tại.
Trong Truyện Kiềuy bao nhiêu nỗi đau khổ trên đời trút xuống đầu người phụ nữ yếu đuôi đều được
Nguyễn Du miêu tả cặn kẽ, khiến cho tiếng khóc đoạn trườĩig muôn năm vẫn còn làm thổn thức nhân
gian. Nỗi khổ của người thiếu nữ phải tự nguyện cắt đứt mối duyên đầu để đáp đền chữ hiếu. Nỗi khổ của
người con gái thông minh, tài sắc phải đem tâm thân ngà ngọc bán cho kẻ xa lạ. Nỗi khổ của người vợ lẽ
phải chấp nhận kiếp con hầu, đầy tớ mà vẩn bị vợ cả đánh ghen, đày đoạ đến mức cất đầu chẳng lẽn. Nỗi
khổ của người kĩ nữ bất đắc dĩ phài lăn lóc chôn lầu xanh, bị giày vò đau đớn cả tâm hồn lẫn thế xác
trong những Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm; để rồi Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình
thứ mà giai cấp thống trị không bao giờ cho phép.
Trước hết, nhà thơ đã xây dựng thành công một tình yêu trong sáng và lãng mạn tuyệt vời. Mối tình giữa
Thuý Kiều và Kim Trọng là mốt tình đẹp đẽ giữa trai tài gái sắc, phù hợp với quy luật tự nhiên.
Thường thì nam nữ đến với nhau vì yêu mến, hpà hợp nhưng nhiều khi cũng chưa kịp hiểu vì lẽ gì thì tình
yêu đã chiếm trọn cả tâm hồn. Đó là trường hợp của Thuý Kiều và Kim Trọng. Hai người vừa gặp nhau
lần đầu thì Tình tronq như đã, mặt ngoài còn e. Tình yêu của họ không hề bị một tính toán nào về địa vị,
tiền tài làm vấn đục. Một mốì tình như thế trong xã hội phong kiến là một hiện tượng đặc biệt.
Đặc biệt hơn nữa vì^ó là mối tình chân thật và táo bạo hiếm có xưa nay. Kiều không cần che giấu cảm
xúc tự nhiên đang trào dâng sối nổi trong lòng mình, không cần kiềm chế trái tim mình một cách giả tạo
để giữ cho đúng nền nếp gia phong.
Tình yêu đến với nàng vì cỏ pha màu áo nhuộm non da trời hav vì Tuyết in sắc ngựa câu giòn? Hay vì
Phong tư tài mạo tuyệt vời, Vàcr trong phong nhã ra ngoài hào hoa của Kim Trọng? Chỉ biết rằng có một
điềụ gì đó lạ lắm đang xảy ra trong tâm tư người thiếu nữ khi giáp mặt chàng Kim. Nó vừa thoáng qua
thôi đã làm cho nàng rơi vào trạng thái Chập chờn nửa tỉnh nửa mèy buộc nàng phải ghè mắt nhìn theo
bóng chàng. Nó khiến cho cảnh vật nhuốm màu bâng khuâng, man mác, vấn vương, quyến luyến. Bóng
chiều dường như không muốn đi và tơ liễu càng thêm thướt tha.
Đêm trăng trong vườn Thuý lúc hai người gặp gỡ ăm ắp khí xuân. Từ bóng trăng đến giọt sương, cành
cây, ngọn cỏ… cái gì cũng rạo rực nỗi niềm. Hình ảnh chàng trai ban chiều hiển hiện rõ ràng trong tâm
tương người thiếu nữ và trái tim nàng đã bắt đầu thổn thức bởi ước mơ đồi lứa. Đến hôm Thuý Kiều đánh
rơi chiếc thoa trên cành rồi nghe người bên kia tường đánh tiếng: Tlioa này bắt được hư không, Biết đâu
Hợp Phố mà mong châu uề? thì nàng đáp lại một cácíutự nhiên như đối với người quen biết từ lâu. Khi
Kim Trọng ngỏ lời cầu hôn, nàng đã mau chóng nhận lời.
gắn bó trăm năm. Nàng chớp lấy cơ hội cha mẹ dí văng để sang trò chuyện với người yêu: Nỉia lan tlianh
vắng một mình, Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay và sau đó: Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
bằng, nhân đạo, tự do, hạnh phúc. Trong Truyện Kiềuy Nguyễn Du đã dùng hết nhiệt huyết và thiên tài
nghệ thuật của mình để thể hiện giấc mơ tháo cũi sổ lồng của con người bị áp bức đã hàng nghìn năm.
Thuý Kiều trôn khỏi nhà Hoạn Thư, tưởng đã yên thân khi được nương nhờ cửa Phật nhưng cửa Phật từ
bi cũng kinh sợ uy quyền của giai cấp thông trị nên đành khuyên người hoạn nạn chấp nhận kiếp sông
Chân trời gốc biển bơ vơ. Thuý Kiều túng thế phải nghe lời Bạc Bà, gửi thân cho một kẻ mà nàng chưa hề
quen biết là Bạc Ilậnh. Chẳng may Bạc Hạnh Cũng phường bán thịt buôn người. Hắn liền đẩy nàng vào
lầu xanh lần thứ hai. Đến đây, oan khốc chồng châ’t lên cuộc đời cửa Kiều đến mức nàng không sao chịu
nổi. Phật cũng bó tay, thánh thần thành vô dụng. Con người lương thiện còn biết dựa vào đâu ?! Mâu
thuẫn đă đến điềm đỉnh, cần phải giải quyết. Người đọc cững nóng lòng chờ đợi một cánh cửa mở ra, một
lưỡi gươm vung lên. Đúng lúc đó, người anh hùng Từ Hải xuât hiện.
Từ Hải là hình ảnh lí tưởng của công lí nhân dân. Công lí trong quan niệm của Từ Hải giản dị mà dứt
khoát, giông như cuộc sông tự nhiên hằng ngày của chàng. Từ Hải không thể nào thấy sự bất bằng mà bỏ
qua được. Phản ứng của chàng trước những chuyện bất bình vừa đột ngột, vừa mãnh liệt như sấm vang
sét nổ. Cơn giận của Từ Hải chứa chất mành lực ghê gởm của thiên nhiên, trời đất, kỏ có tội đừng inong
trốn thoát. Lười gươm của Từ I lải vừa vung len thì công lí đã được đem lại cho người ợon gái họ Vương
tội nghiệp. Xã hội vuá quan phong kiên của cái triều Minh tự hào là Bốn phương phăng lặng, hai kinh
vừng vàng đã biến Kiều từ một thiếu nữ trong trắng thành gái thanh lâu. Từ Hải đã đưa nàng từ thân phận
hèn kém của một gái thanh lâu lên địa vị của một phu ríhân quyền quý. Luật pháp, đạo đức của xã hội
triều Minh cho phép bọn sâu mọt, côn đồ hùa nhau tàn hại cuộc đời Kiều, Từ Hải thét lên một tiếng là lũ
mặt người dạ thú kia máu chảy đầu rơi.
Loại công lí tương tự như vậy đã ximt hiện trong các phong trào khởi nghĩa của nông dân, mà tiêu biếu
nhất là phong trào Tây Sơn. Liên hệ thái, độ của Từ Hải trước việc báo ân báo oán của Thuý Kiều với ước
mơ công lí của nhân dân, ta sè thấy có những nét tương đồng. Nói bắt là bát, nổi giết là giết, ân thì trả ân,
oán thì trả oán, rõ ràng như ban ngày. Giữa chôn trướng hùm uy nghiệm, Thuý Kiều sánh vai với Từ Hải
báo ân báo oán. Cảnh ấy có ý nghĩa như một sự thay bậc dổi ngôi, một sự vùng lên của con người bị chà
đạp, khinh bỉ. Con người thấp cồ, bé miệng, con người bị áp bức đày đoạ, giờ đây đường đường làm quan
toà xử tội những kẻ áp bức. Cho nên công lí trong Truyện Kiều có tính chất là công lí nhân dân, phù hợp
Từ như một cây trụ kình thiên sừng sững, hiên ngang. Con người như thế tất phải lấy giang hồ làm nhà
cửa, lấy việc chèo chông non sông làm thủ vẫy vùng. Chơ nên cuộc sông yên ổn, mặn nồng bôn cạnh mĩ
nhân đâu có thề giam hãm cánh chim bằng. Khi tiếng gọi của bốn phương vang lên thì Từ Hải dứt áo ra đi
như có sức mạnh ghê gớm của tiềm thức thúc đẩy. Con người ấy hình bóng sừng sững như che lấp cả đất
trời. Thanh gươm, yên ngựa của chàng không hề bé nhỏ trước trời biển mênh mang. Một mình chàng mà
có thể chọc trời khuấy nước. Một mình chàng mà có thể Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. Một
minh chàng mà có thế làm nên những việc Động dịa kinh thiẽti đừng đùng. Dường như Từ Hải có thể
sánh ngang với núi sông, trời đất. Chàng
đâu thèm đếm xỉa đến cái triều đình thổi nát đương thời nên mới có thái độ của một bậc anh hùng Dọc
ngang nào biết trên đẩu có ai.
Cho nên không có gì là lạ khi ta thấy Từ Hải khinh bỉ bbn người ưào luồn ra củi, cam tâm sông cuộc đời
giá áo túi cơm. Trong khuôn khổ chật hẹp của chế độ phong kiến, Từ Hải hiẽn ngang đứng lên phủ định
cái triều đình tiêu biểu cho mọi sự áp bức, đè nén, bất công. Đó là biêu hiện của một ý chí, một lí tưởng tự
do đáng khâm phục.
Xã hội phong kiến suy đồi làm sao dung nạp được lí tưởng tự do ây. Iĩồ Tôn Hiến đã giết chết Từ Hải
nhưng khát vọng tự do của Từ Hải vẫn sông mãi trong lòng quần chúng bị áp bức. Hình ảnh kì vĩ của Từ
Hải vẫn đem lại sự thoả mãiì cho ước mơ tự do, ước mơ giải phóng của con người.
Về gỉá trị nghệ thuật, Truyện Kiều là kết tinh thành tựu nghệ thuật của văn học dân tộc trên mọi phương
diện, trong đó nổi bật là ngôn ngừ. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ thơ ca và thể thơ lục bát ,đã đạt tới đỉnh
cao rực rỡ và nghệ thuật tự sự đã phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả
thiên nhiên, con người.
Khi miêu tả nhân vật Thuý Kiều, Thuý Vân, tác giả sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ mà vẫn gợi tả
được .vẻ đẹp ngoại hình, vẫn khắc hoạ được những nét riêng về tính cách, sô" phận của hai nhân vật.
Người đọc thấy rất rõ cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Đó là sự trân trọng, ca ngợi
sắc đẹp, tài năng, phẩm cách con người.