MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp gắn chặt
với sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng thương mại ( NHTM ), Ở Việt
Nam 4 NHTM quốc doanh giữ một vị trí quan trọng nhất là trong hoạt động tín
dụng, cung cấp tới 80% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Đối tượng khách hàng
chủ yếu là các Doanh nghiệp Nhà nước ( DNNN ), Doanh nghiệp lớn, trong khi
đó, các năm gần đây, khối Doanh nghiệp này bắt đầu bộc lộ những yếu kém, như
kinh doanh thua lỗ, mất cân dối về tài chính, ảnh hưởng không nhỏ tới các
NHTM.
Trong khi đối lập với các DNNN, các DNN&V ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trên 90% tổng số doanh nghiệp
hiện có trong cả nước. Nhiều doanh nghiệp đã chứng tỏ được vị trí của mình trên
thị trường trong nước và quốc tế. DNN&V đã góp phần quan trọng giải quyết
việc làm cho hàng vạn lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người
dân, thúc đẩy các lĩnh vực sản xuất, lưu thông phân phối, đáp ứng kịp thời mọi
mặt nhu cầu đời sống dân cư và xuất khẩu.
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ( DNN& V ) là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội nước ta.
Tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Nam Định, dư nợ cho vay đối với các
Doanh nghiệp lớn còn chiếm tỷ trọng cao, chất lượng tín dụng đang giảm sút
đáng kể. Dư nợ cho vay đối với DNN&V chiếm tỷ trọng chưa cao, hiệu quả còn
thấp và Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định ( NHCT )cũng trong hoàn cảnh
chung đó. Ngay từ năm 2003 Ngân hàng Công thương Việt Nam đã có những
quyết định tín dụng quan trọng chỉ đạo các chi nhánh tập chung mở rộng và cho
vay đối với DNN&V. Song qua một số năm thực hiện, hiệu quả cho vay đối với
1
1
DNN&V chưa được cải thiện đáng kể. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả
chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với các Doanh nghiệp
Chương 1: Doanh nghiệp nhỏ và vừa và tín dụng Ngân hàng đối với
Doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định.
Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định.
Chương 1
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1- Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp và một số tiêu chí nhằm phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
3
3
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, thực hiện
các hoạt động sản xuất, cung ứng trao đổi hàng hoá trên thị trường theo nguyên
tắc tối đa hoá lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp,
thông qua đó tối đa hoá lợi ích của đối tượng tiêu dùng và kết hợp một cách hợp
lý với những mục tiêu xã hội.
Như vậy, Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp thường rất đa
dạng, phong phú. Để phân loại doanh nghiệp thường dựa vào các tiêu chí sau:
Một là: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được
chia thành DNNN, DN tư nhân, DN sở hữu hỗn hợp
Doanh nghiệp hoạt động công ích ( thường là DNNN ): Là tổ chức kinh tế
thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công
cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện
nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Những doanh nghiệp này hoạt động không vì mục
đích lợi nhuận mà vì mục đích hiệu quả kinh tế xã hội là chính. Ví dụ như Công
ty vệ sinh môi trường, Công ty cây xanh
Phân loại theo tiêu chí này, có cơ sở để lựa chọn tiêu thức đánh giá lợi ích
xã hội của doanh nghiệp cho hợp lý và là căn cứ quan trọng để xác định chính
sách tài trợ của nhà nước.
5
5
Bốn là: Dựa vào cấp quản lý có DN trung ương, DN địa phương. Đây là
những DN do Nhà nước thành lập và quản lý , những doanh nghiệp do trung
ương quản lý và những doanh nghiệp do địa phương quản lý.
Năm là: Dựa vào quy mô doanh nghiệp để phân chia thành doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lơn, doanh
nghiệp nhỏ và vừa tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, tuỳ thuộc vào
từng giai đoạn cụ thể phát triển kinh tế của xã hội.
1.1.1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước
Thường thì các tiêu chí về vốn, lao động, doanh thu, lợi nhuận hay được
các nước sử dụng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.1.3. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Nghị định số 90/2001/NĐ ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa đã đưa ra tiêu chí cụ thể xác định DNN&V ở nước ta: vốn đăng
ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người.
Trước đó, nhằm xác định quy ước hành chính để xây dựng cơ chế chính
sách hỗ chợ DNN&V tại công văn số 681/CP-KTƯ ngày 20/06/1998 Thủ tướng
Chính phủ tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định DNN&V là những DN
có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng, có số lao động chung bình hàng năm dưới 200
tượng hỗ trợ khác nhau. Hơn nữa, ngay các tiêu chí xác định DNN&V qui định
trong Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ cũng
chỉ mang tính quy ước để vận dụng cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ
DNN&V.
Việc đưa ra tiêu chí xác định DNN&V như trên mới chỉ có tính ước lệ,
chưa đủ để định nghĩa thế nào là DNN&V do hệ thống pháp luật còn chưa hoàn
7
7
thiện, nhiều vấn đề chưa được qui định rõ ràng nhiều chủ thể có hoạt động sản
xuất kinh doanh nhưng không phải thực hiện việc đăng ký kinh doanh nên vẫn
chưa được coi là doanh nghiệp kinh doanh (chẳng hạn các hộ sản xuất nông
nghiệp mặc dù có sản lượng lúa hàng hoá hoặc các nông sản khác tạo thu nhập
rất lớn nhưng không phải đăng ký kinh doanh).
Nghị định số 90/2001/NĐ/CP ngày 23/11/2001 đã đưa ra khái niệm mới
về DNN&V:"Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người".
Theo khái niệm mới này, khu vực DNN&V ở Việt Nam hiện nay bao
gồm:
+ Các doanh nghiệp Nhà nước có qui mô nhỏ và vừa kinh doanh độc lập
(không phải là các Công ty trực thuộc của các Tổng Công ty 90, Tổng công ty 91).
+ Các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư
nhân có quy mô nhỏ và vừa kinh doanh độc lập, đăng ký hoạt động theo Luật
Công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
+ Các hợp tác xã có quy mô nhỏ và vừa đăng ký hoạt động theo luật hợp tác
xã.
+ Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động theo Nghị định số
02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của Chính phủ.
Như vậy, so với trước đây chỉ tiêu được nâng lên cho phù hợp với tình hình
thực tế nước ta hiện nay, qui mô của DN dân doanh đã lớn hơn trước: về vốn từ 5
Thứ tư: Có thể tận dụng phát huy được tiềm lực trong nước. Trong quá
trình CNH và HĐH đất nước, sự phát triển DNN&V là cách thức tốt nhất để sản
xuất thay thế hàng nhập khẩu vì các DNN&V sử dụng được nhiều nguyên vật
liệu tại chỗ, khai thác tối đa lợi thế tiềm năng từng vùng, từng địa phương. Là
9
9
môi trường rộng rãi có điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài cùng với doanh
nghiệp sở tại để hình thành nên các khu công nghiệp, thị trấn, thị tứ, khu công
nghiệp, làng nghề, trang trại nhưng với vốn liếng và trình độ tay nghề khéo léo
của mình, một số DNN&V có thể sản xuất một số mặt hàng thay thế hàng nhập
khẩu, phù hợp với sức mua của dân chúng.
Thứ năm: Dễ quản lý hơn so với DN lớn vì cơ cấu qui mô nhỏ, gọn nhẹ,
ít ảnh hưởng đến môi trường và môi sinh;
Thứ sáu: Những hạn chế của DNN&V
- Khả năng cạnh tranh thấp do tiềm lực tài chính nhỏ;
- Vị thế trên thị trường thấp;
- Ít có khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao;
- Khả năng hạn hẹp trong việc đào tạo công nhân, đầu tư cho nghiên cứu,
thiết kế cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm;
- Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát
triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của DN lớn;
1.1.2.2. Đặc trưng của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay
So với đặc điểm của các DNN&V trên thế giới thì DNN&V của Việt Nam
có những đặc thù riêng. Nó vừa là kết quả của chính sách phát triển vừa là thực
tế của quá trình hoạt động.
Một là hình thức sở hữu: Do đường lối phát triển kinh tế nhiều thành
phần của Đảng và Nhà nước nên các DNN&V cũng đa hình thức sở hữu. Một số
DNN&V thuộc sở hữu Nhà nước, một số thuộc sở hữu tập thể, một số thuộc sở
hữu tư nhân, một số Công ty cổ phần và một vài doanh nghiệp có vốn liên doanh
với nước ngoài.
các DN Nhà nước bị giải thể, thanh lý để đáp ứng nhu cầu trước mắt mà chưa có
chiến lược đầu tư trung và dài hạn. Gần đây trong quá trình chuyển đổi đã có
11
11
nhiều DN đổi mới thiết bị công nghệ. Mặc dù vậy, công nghệ và thiết bị ở nhiều
doanh nghiệp liên doanh có vốn nước ngoài cũng sử dụng thiết bị không phải
hoàn toàn mới. Chính vì vậy mà sản phẩm làm ra chưa đủ sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế Hiện nay, có một số mặt hàng như may mặc, đồ uống, thuỷ hải
sản đã có chỗ đứng trên thị trường nhưng số lượng còn rất nhỏ.
Năm là lao động: Trình độ cán bộ quản lý chưa đáp ứng được so với như
cầu hiện nay, thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề; đội ngũ lao động và cán bộ
quản lý của DNN&V còn rất hạn chế về trình độ hiểu biết, về tay nghề, về kỹ
năng quản lý. Tình trạng đó là do phần lớn đội ngũ lao động được đào tạo tốt ở
Việt Nam lại đang làm việc ở các DN Nhà nước có qui mô lớn. Chỉ có một bộ
phận nhỏ tổng số lao động được đào tạo đó làm việc ngoài khu vực Nhà nước.
Hiện nay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đang gấp rút cùng phối
hợp với các DNN&V đào tạo tay nghề cho công nhân và nâng cao trình độ cho
cán bộ quản lý. Nhưng một điều bất cập là hệ thống đào tạo hiện nay nặng về
đào tạo lý thuyết ( từ cao đằng trở lên ) trong khi nhu cầu của các doanh nghiệp
về công nhân kỹ thuật, lao động lành nghề lại rất lớn. Hệ thống đào tạo cán bộ
quản lý có từ thời bao cấp chưa thay đổi kịp theo đòi hỏi của kinh tế thị trường
Chương trình bổ túc cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý vừa thiếu, vừa không
phù hợp nên đã không đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cán bộ quản lý doanh
nghiệp những người còn thiếu thời gian để học.
Sáu là tài chính: Quá trình phát triển DNN&V đang trong giai đoạn khởi
đầu, khả năng tích luỹ vốn còn hạn chế, nên việc các DNN&V thiếu vốn tự có là
khó khăn tất yếu. Do nguồn vốn hạn hẹp nên các DNN&V không có điều kiện
đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở rộng nặng lực
sản xuất. Vì vậy, năng suất lao động nói chung còn thấp, chất lượng sản phẩm
chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Trên thực tế nhiều DN hiện đang sử
13
13
triển trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc với nhau, khắc phục những hạn
chế, phát huy tính tích cực của từng loại hình qui mô.
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao sẽ tạo điều kiện cho sự phát
triển của các DNN&V ổn định hơn, có phương pháp rõ ràng hơn, vững bền hơn.
1.1.3.2. Chính sách và cơ chế quản lý
So với các DN lớn, các DNN&V có những bất lợi trong kinh doanh trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Các DNN&V thường xuyên bị đe
doạ của các lực lượng cạnh tranh hùng hậu, to lớn trên thị trường. Nếu không có
sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ khó có khả năng tồn tại và phát triển vì khả năng
nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thấp, khả năng điều tra
nghiên cứu thị trường thấp và thường phải phụ thuộc rất lớn vào hoạt động,
chiến lược của các DN lớn. Nếu có một cơ chế chính sách đúng đắn sẽ tạo môi
trường pháp lý và những điều kiện một cách tự do, không bị chèn ép thiếu công
bằng của lực lượng lớn. Ngoài ra chính sách và cơ chế còn tạo ra sự kết hợp chặt
giữa các DN lớn, vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế của mỗi nước. Những chính
sách ưu tiên, những cơ chế hợp lý, kể cả qui định giới hạn xác định từng loại
hình doanh nghiệp sẽ là cơ sở để đánh giá. Những ưu tiên về vốn tín dụng, về
chế độ thuế, về sử dụng công nghệ hoặc những chính sách về đất đai, lãi suất,
đào tạo là những điều kiện cần thiết để hỗ trợ cho các DNN&V phát triển.
Một chính sách và cơ chế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của DNN&V. Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động của các DNN&V.
1.1.3.3. Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp
Do phải thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường kinh doanh, nên
việc giải thể, sát nhập, xuất hiện DNN&V mới là thường xuyên diễn ra trong mỗi giai
đoạn. Đó là một sức ép lớn, buộc các chủ DN phải là người có tính linh hoạt cao trong
quản lý điều hành, dám nghĩ, dám làm , chấp nhận mạo hiểm. Chính vì vậy, số lượng
14
Cạnh tranh trên thị trường sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của các
DNN&V. Một thị trường mà có cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp thì
DNN&V sẽ ở vào thế bất lợi, sẽ càng khó khăn hơn nếu các DN lớn liên kết với
nhau trong môi trường pháp luật không hoàn hảo có thể làm cho DNN&V không
thể tồn tại. Như vậy, cạnh tranh trên thị trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
tới hoạt độn của các DNN&V.
Tính chất qui mô, nhu cầu sẽ là yếu tố thứ hai trong thị trường ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động của DNN&V. Thị trường với nhu cầu đa dạng,
thay đổi nhanh, khối lượng nhu cầu lớn sẽ làm cho DNN&V hoạt động thuận
lợi. Ngược lại, thị trường dung lượng lớn, chủng loại ít, tương đối ổn định sẽ
là cơ sở cho DN lớn tăng cường tính cạnh tranh làm khó khăn cho hoạt động
của DNN&V. Với đặc điểm phát triển của nhu cầu hiện nay, ngày càng đa
dạng phong phú, nhiều chủng loại, khối lượng không nhiều nhưng thay đổi
nhanh là một thuận lợi cho các DNN&V hoạt động có hiệu quả.
1.1.4. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị trí vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế
của mỗi nước, kể cả nước có trình độ phát triển cao. Vị trí vai trò của DNN&V
đã được khẳng định thể hiện qua các điểm chủ yếu sau:
1.1.4.1. Về số lượng DNN&V chiếm ưu thế tuyệt đối
Ví dụ: 90% các doanh nghiệp Đức là DNN&V ; Trong những năm gần
đây DNN&V ở Nhật Bản chiếm 99,7% doanh nghiệp; Singapore có khoảng
90.000 DNN&V chiếm khoảng 92% tổng số DN
1.1.4.2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động sản xuất kinh doanh trong
nhiều ngành nghề lĩnh vực
Trong nhiều ngành nghề lĩnh vực, tồn tại như một bộ phận không thể thiếu
được của nền kinh tế mỗi nước. Nó là bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các
DN lớn, có tác dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy các DN lớn phát triển.
16
16
1.1.4.3. Sự phát triển của DNN&V góp phần quan trọng trong việc giải
tế này thu hút 50% tổng số lao động. Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm
việc trong các DNN&V khoảng gần 1 triệu đồng chỉ bằng 3% trong các doanh
nghiệp lớn. Nếu tính thêm cả số lao động ngoài doanh nghiệp do các DNN&V
tạo ra với hệ số mở rộng việc làm là 1,2 thì số lao động do các DN này thu hút có
thể lên tới 4 - 4,5 triệu người. Điều đó cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của
DNN&V trong việc tạo việc làm, thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ
yếu là bằng vốn của dân. Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu cho thấy vai trò
của các DNN&V trong việc tạo việc làm., tăn thu nhập được đánh giá cao nhất
tới 88,7%.
Thứ ba, thu hút vốn
Vốn có vai trò trong việc mở rộng qui mô sản xuất. Tuy nhiên, một
nghịch lý hiện nay là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng, trong khi đó,
vốn trong dân còn nhiều nhưng không thể huy động được. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tính trạng đó, nhưng nguyên nhân chủ yếu là môi trường đầu tư
thiếu và không ổn định. Trong tình hình đó, chính các DNN&V là người trực
tiếp tiếp xúc với người cho vay (thường là những người thân), gây được
niềm tin nên có thể huy động được vốn, hoặc chính người có tiền đứng ra
đầu tư kinh doanh. Thực tế cho thấy trong các lĩnh vực công nghiệp, thương
mại, vận tải, xây dựng các DNN&V đã đầu tư tới trên 50% tổng số vốn đầu
tư trong lĩnh vực này.
Thứ tư, làm cho nền kinh tế năng động hiệu quả hơn
Tăng tính cạnh tranh, giảm bớt tốc độ rủi ro trong nền kinh tế do số doanh
nghiệp tăng lên rất lớn kéo theo sự tăng nhanh chóng số lượng các mặt hàng.
Ngoài ra, các DNN &V có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và chuyển
hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn. Hơn nữa sự có mặt
18
18
của DNN&V trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn kinh
doanh có hiệu quả hơn: làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiẹp lớn, giúp tiêu
thụ hàng hoá, cung cấp các đầu vào như nguyên liệu thâm nhập vào ngõ ngách
+ Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi: Cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh
tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp và củng cố lại,
kinh doanh có hiệu quả, từ đó phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
+ Cơ cấu ngành: Phát triển nhiều ngành, nghề đa dạng, phong phú theo
hướng lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.
+ Cơ cấu lãnh thổ: Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn về lãnh thổ,
cả nông thôn và thành thị, miền núi, đồng bằng. Tuy nhiên, hiện nay, các doanh
nghiệp vẫn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn. Đây là vấn đề ngành Ngân hàng
cần lưu tâm khi có kế hoạch đầu tư vốn.
Thứ tám, góp phần đào tạo đội ngũ doanh nhân Việt Nam:
Trong nhiều năm qua, do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho
đội ngũ doanh nhân Việt Nam không phát triển, không có kinh nghiệm với cơ
chế thị trường. Phát triển các DNN&V có tác dụng đào tạo, chọn lọc, thử thách
đội ngũ doanh nhân Việt Nam trên thương trường trong nước và quốc tế.
1.2. Tính dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa
Hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNN&V thể hiện các đặc điểm
Thứ nhất: Hầu hết các DNN&V kinh doanh đều thiếu vốn để kinh doanh
và mở rộng kinh doanh nên đều có nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng.
Thứ hai: Món vay nhiều nhưng giá trị của mỗi món vay lại thấp, đối
tượng cho vay đa dạng phong phú, nhiều chủng loại.
20
20
Do DNN&V chiếm ưu thế về mặt số lượng nên có nhiều món vay của
nhiều DNN&V. Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm kinh doanh của các
DNN&V, đó là, kinh doanh đa dạng nhiều mặt hàng. Giá trị của mỗi món vay
phụ thuộc vào tình hình tiêu thụ sản phẩm đó trên thị trường, nếu sản phẩm
tiêu thụ được nhiều phải mở rộng sản xuất thì các DN cần nhiều vốn sẽ vay
nhiều hoặc ngược lại.
Bảo lãnh Ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả
cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung dài hạn, trên cơ sở hợp
đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê và TCTD với khách hàng thuê. Khi kết
thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các
điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê, các bên không được đơn phương
huỷ bỏ hợp đồng.
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNN&V
1.2.3.1. Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò trung gian để giải quyết vốn
tạm thời nhàn rỗi ở DNN&V này với DNN&V khác đang có nhu cầu về vốn để
sản xuất kinh doanh
Trong thực tế các DNN&V đều thiếu vốn để sản xuất kinh doanh nhưng
lại có lúc tạm thời thừa vốn khi sản xuất kinh doanh chưa đến chu kỳ lúc này tín
dụng Ngân hàng sẽ chuyển từ doanh nghiệp thừa cho doanh nghiệp thiếu vay.
1.2.3.2. Tín dụng NH giúp cho DNN&V mở rộng sản xuất
Với nguồn vốn hạn chế DNN&V không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn
mua nguyên nhiên vật liệu, trả tiền lương công nhân hay trả các loại chi phí đầu
22
22
vào tăng thêm, thêm vốn để mở rộng sản xuất các DNN&V sẽ cần nguồn vốn
TDNH để mở rộng sản xuất.
1.2.3.3. Tín dụng NH giúp cho DNN&V mở rộng quan hệ thương mại giao
lưu quốc tế, giúp cho DNN&V có điều kiện quảng bá sản phẩm của mình trên
trường quốc tế, có điều kiện để xuất khẩu phát triển.
1.2.3.4. Tín dụng NH tạo điều kiện cho DNN&V thay đổi trang thiết bị áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đổi mới công nghệ, hoàn thiện kỹ thuật
quản trị kinh doanh,tìm kiếm thị trường mới để đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh.
1.2.3.5.Tín dụng NH giúp cho DNN&V sử dụng vốn có hiệu quả, tăng
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của họ lại là khả năng quản lý và cân đối
nguồn tiền. Cơ cấu vốn đầu tư không hợp lý là một tình trạng điển hình. Do sự
hạn hẹp về vốn, các DNN&V thường đầu tư tập trung vào tài sản cố định, dẫn
đến tình trạng thường xuyên thiếu vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh.
Thậm chí một vài doanh nghiệp còn sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư
các tài sản có tính chất dài hạn làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán.
Hay một ví dụ mà chúng ta vẫn hay nghe nói tới là một doanh nghiệp có thể làm
ăn có lãi nhưng vẫn phá sản do không đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn.
1.3.1.2. Tính minh bạch của DNN&V và thiện chí trả nợ
Để có thể đầu tư vốn, điều quan trọng là ngân hàng phải có thông tin đầy
đủ về khách hàng và thông tin đó phản ánh đúng thực tế. Tuy nhiên, thực trạng
doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 2 - 3 hệ thống sổ sách
kế toán, chủ doanh nghiệp che dấu thông tin rất phổ biến đã làm mất lòng tin của
các nhà đầu tư.
Còn tại các doanh nghiệp Nhà nước tình trạng hạch toán dấu lỗ, nâng giá
tài sản để vay vốn ngân hàng, kinh doanh không vì lợi nhuận mà hầu như không
24
24
có biện pháp kiểm soát không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp mà còn
ảnh hưởng không nhỏ đến ngân hàng cho vay.
Thiện chí trả nợ của Chủ doanh nghiệp cũng là một trong các yếu tố quan
trọng. Trong điều kiện hệ thống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, doanh nghiệp lại
được tự do kinh doanh và giao dịch với các NHTM thì ngân hàng cho vay thực
sự khó khăn trong việc quản lý nguồn thu nợ. Nếu chủ doanh nghiệp thiếu thiện
chí thì mặc dù hợp đồng tín dụng có qui định chặt chẽ thế nào cũng chưa phải là
giải pháp chắc chắn nhất.
1.3.1.3. Khả năng quản trị điều hành, lập kế hoạch
Người điều hành có một vai trò quyết định trong sự thành bại của doanh
nghiệp. So với các doanh nghiệp lớn có mô hình quản lý chuyên biệt, các
DNN&V tỏ ra thua kém hơn trong tính chuyên nghiệp của hoạt động quản lý.