Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế đang ngày càng đi lên của Việt Nam thì nhu cầu được sống hạnh
phúc, an toàn trở thành mong ước, mục đích của mọi người và toàn xã hội. Hoạt động
con người dù dưới bất kỳ phương tiện, cách thức nào đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ
môi trường tự nhiên như lũ lụt, động đất, dịch bệnh…Ngoài những thiệt hại do thiên
nhiên gây ra thì chính chúng ta còn phải đối đầu với những tổn thất do hành vi chúng ta
gây ra như các cuộc nội chiến, xung đột sắc tộc, chiến tranh, khủng bố, khủng hoảng
kinh tế…Hậu quả gây ra là hàng triệu gia đình phải sống trong nghèo đói, hàng nghìn
doanh nghiệp bị phá sản, tài sản nền kinh tế xã hội bị hư hỏng, gây ra nhiều thiệt hại mất
mát. Đối phó với những thiệt hại trên là bài toán nan giải cho từng cá nhân, hộ gia đình,
doanh nghiệp và với nền kinh tế của nước ta. Chính vì thế mà nhóm em xin chọn đề tài
“Doanh nghiệp bảo hiểm”. Đây là giải pháp được xem là hiệu quả và an toàn nhất.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài liên quan đến hoạt động bảo hiểm, vai trò của nó và
những rủi ro thường gặp trong hoạt động bảo hiểm.
Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận:
- Làm sáng tỏ thêm vấn đề sự thành công của các doanh nghiệp bảo hiểm.
- Phân loại, làm rõ vai trò bảo hiểm.
- Khái quát những vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp bảo hiểm mang lại cho khách
hàng. Đưa ra một số phương hướng giải pháp để doanh nghiệp không ngừng phát triển
toàn diện.
Trong đề tài tiểu luận có sử dụng một số phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê… và
những tài liệu tham khảo, quan điểm của các nhà nghiên cứu có liên quan.
Bố cục cụ thể của tiểu luận gồm ba phần như sau:
Nhóm SVTH: Nhóm 9 1
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
Phần A: LỜI MỞ ĐẦU
Phần B: NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng doanh nghiệp bảo hiểm
Chương III: Giải pháp, định hướng nhằm giải quyết những vấn đề hạn chế trong
2. Vai trò của bảo hiểm
2.1. Bảo hiểm là công cụ kinh tế mang đến sự an toàn, ổn định mọi hoạt động kinh tế
xã hội và đời sống của ngưới tham gia.
Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì
người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh
cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro do thiên
nhiên như bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên... đang trở nên hết sức phức tạp,
khó dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu. Chiến tranh,
xung đột, khủng bố, đình công... không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn
Nhóm SVTH: Nhóm 9 3
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một
giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc
sống cho con người.
2.2. Bảo hiểm góp phần tích cực trong việc hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tổn thất.
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát
chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi
thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại
dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro,
hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Khi có tổn
thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc
phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất - kinh doanh.
Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công ty
bảo hiểm. Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống
hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất - kinh doanh
không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề. Chi phí bồi thường
của các công ty bảo hiểm thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí hoạt động kinh
doanh, khoảng 60 - 80%. Thậm chí, chi phí bồi thường còn có thể lớn hơn, nhất là với
những rủi ro do thiên tai có sức tàn phá lớn trên diện rộng. Ở Mỹ, từ năm 1949 đến năm
1994, trung bình mỗi năm có tới 25 vụ thảm họa thiên nhiên, gây tổn thất 1,6 tỉ USD/năm
hiểm đã khuyến khích các tầng lớp nhân dân tăng cường tiết kiệm và qua đó đã thu hút
được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi để đầu tư. Tổng giá trị đầu tư của các công ty bảo
hiểm của Pháp năm 1998 lên đến 4.267,5 tỷ FFR, chiếm trên 20% tổng giá trị đầu tư
trong nước. Ở Đài Loan năm 1995, riêng các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đầu tư vào
nền kinh tế 39 tỷ USD, chiếm 15% tổng thu nhập quốc dân. Trong các tổ chức tài chính
trung gian, các công ty bảo hiểm nhân thọ có tổng giá trị tài sản lên tới hàng nghìn tỷ
USD, chỉ đứng sau các ngân hàng thương mại. Ở những nước có thị trường bảo hiểm
phát triển, nhìn chung, các công ty bảo hiểm là những chủ thể tham gia tích cực vào hoạt
động đầu tư trên thị trường tài chính. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 2/2001).
3. Phân loại bảo hiểm
3.1 Căn cứ vào tình hình pháp lý
- Bảo hiểm bắt buộc: : là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm,
số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm
nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.
Các nước có những quy định khác nhau về các loại hình bảo hiểm bắt buộc. Theo Luật
kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam được ban hành ngày 09/12/2000, các loại hình bảo hiểm
sau là bắt buộc:
Nhóm SVTH: Nhóm 9 6
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
người bảo hiểm hàng không đối với hành khách
-Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật
-Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
-Bảo hiểm cháy, nổ
Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ
trình Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.
-Bảo hiểm tự nguyện: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc bảo hiểm bắt buộc.
3.2. Phương diện kỹ thuật bảo hiểm
-Nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống
không
- Bảo hiểm hàng không
- Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm cháy, nổ
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm chung
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
- Bảo hiểm nông nghiệp
...........
Ngoài ra, bảo hiểm phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: bảo hiểm
xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm của
người sử dụng lao động...
4. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
4.1. Nguyên tắc lấy số đông bù đắp số ít.
Nhóm SVTH: Nhóm 9 8
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh của bảo hiểm kể cả hoạt động
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nguyên tắc này được xây dựng theo luật số đông. Mọi
hoạt đông bảo hiểm chỉ được an toàn nếu tập hợp số đông đối tượng tham gia có rủi ro
cùng tính chất, số đông càng lớn, xác suất rủi ro có độ chính xác càng cao, qua đó tạo
điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm chủ động cân bằng tài chính mang lại sự an toàn
trong kinh doanh và thực hiện các cam kết cho khách hàng đầy đủ.
Nguyên tắc này cũng tác động đến những người tham gia, nếu nhu cầu bảo hiểm phát
sinh chỉ liên quan một số ít tham gia, những người tham gia buộc phải trả một mức phí
rất cao, nhưng nếu phát sinh nhu cầu bảo hiểm và nhu cầu này được số đông cùng tham
gia, mỗi ngưới tham gia chỉ phải trả mức phí trung bình hợp lý, phí thu được của số đông
tham gia được dùng bù đắp cho số ít người tham gia gặp nhiều rủi ro tổn thất do đó tạo
sự cân bằng tài chính cho các công ty bảo hiểm cũng như mang lại sự đảm bảo về tài
chính cho những người tham gia. Như vậy chỉ phải chi trả một khoản phí thấp cho những
Bảo hiểm được dùng làm một công cụ trong quản trị rủi ro. Song, bảo hiểm cũng
được một số người xem như một trò cá cược. Tuy các loại hình thức bảo hiểm trên có
khác nhau nhưng chúng có đặc điểm chung: người được bảo hiểm sẽ đưa tiền cho công
ty bảo hiểm, và khi sự cố xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo
hiểm. Bằng cách này, rủi ro đã được chuyển sang cho công ty bảo hiểm dù không hoàn
toàn (vì cty bảo hiểm sẽ loại trừ một số trường hợp không được bảo hiểm). Tuy nhiên
công ty bảo hiểm sẽ có 2 loại rủi ro:
5.1. Rủi ro chuyển từ người được bảo hiểm
Nếu coi bảo hiểm là trò chơi các cược, thì dường như công ty bảo hiểm nắm phần
chuôi. Ngoài việc, công ty bảo hiểm sẽ loại bỏ những trường hợp không thể không được
bảo hiểm, thì xác suất để các rủi ro này xảy ra thường thấp. Nhưng công ty bảo hiểm sẽ
gặp khó khăn lớn khi gặp phải các rủi ro lớn như thiên tai, lũ bão, động đất, chiến tranh,
hay khủng bố. Ví dụ điển hình là vụ khủng bố 11/9/2001 và cơn bão Katrina ở New
Orleans (2005). Theo một số liệu thì các ty bảo hiểm lỗ $39.5 tỉ vì sự kiện 11-9, bồi
thường $40.6 tỉ vì bão Katrina.
5.2. Rủi ro trong quản lí tiền.
Nhóm SVTH: Nhóm 9 10
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
Khi thu phí bảo hiểm từ khách hàng, các công ty bảo hiểm sẽ có lượng tiền mặt. Và để
tiền không bị mất giá, các công ty thường đem chúng đầu tư. Mọi chuyện sẽ không có gì
nghiêm trọng, nhưng nếu công ty bảo hiểm đầu tư vào các loại hình chứng khoán phái
sinh có tính chất như trái phiếu không lãi tức(zero-coupon bonds) thì rủi ro sẽ cao hơn.
Điền hình nhất là việc AIG đầu tư 3/4 vốn của mình vào các chứng khoán có đảm bảo
bằng tài sản thế chấp. Thật ra, các chứng chỉ là một sản phẩm tài chính, bản thân nó vẫn
mang tính chất rủi ro của việc thế chấp vì đằng sau nó là rủi ro vỡ nợ của người đi vay.
Một chỉ tiêu quan trọng đo lường vấn đề này là hệ số vốn vay trên giá thị trường của tài
sản bất động sản. Nếu hệ số này cao thì rủi ro vỡ nợ càng cao. Ví dụ, nếu hợp đồng cho
vay chưa đáo hạn mà giá nhà đất sụt giảm mạnh thì rủi ro vỡ nợ càng dễ trở thành hiện
thực. Trong trường hợp vỡ nợ xảy ra, bên cho vay không nhận được bất kỳ khoản tiền lãi
nào mà còn mất chi phí, cơ hội đầu tư và các tài sản khác cũng như các chi phí liên quan
hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Sự tham gia của
các tổ chức, cá nhân vào hoạt động bảo hiểm cũng ngày một tích cực. Các doanh nghiệp
bảo hiểm còn đã lập được nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội,
trong đó, sự đóng góp của các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm tỷ lệ lớn. Hoạt động bảo
hiểm thời gian qua đã thực sự đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định nền kinh tế -
xã hội, cũng như ổn định đời sống người dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà
nước.
Nhóm SVTH: Nhóm 9 12
Đề tài: Bảo hiểm Việt Nam- Thực trạng, giải pháp phát triển GVHD: Đặng Công Triết
1. Thực trạng các mặt hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua.
Sau gần 20 năm mở cửa nền kinh tế và hơn 10 năm ngành bảo hiểm có những bước
đổi mới và phát triển, ngành bảo hiểm Việt Nam đã thu được những thành tựu không nhỏ
trên nhiều mặt, bên cạnh đó, cũng có những hạn chế cần được khắc phục. Để có được cái
nhìn toàn diện, chi tiết hơn, chũng ta sẽ xem xét cụ thể các mặt của hoạt động kinh doanh
bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua.
1.1. Số lượng, loại hình sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm
Kể từ sau khi Nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra đời, ngành bảo
hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các công ty bảo hiểm ra
đời thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đã tạo một diện mạo mới cho ngành bảo hiểm
Việt Nam. Luật KDBH Việt Nam ra đời càng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh
của các công ty được diễn ra lành mạnh và đúng hướng.
Nếu như trước năm 1993, ở nước ta chỉ có Bảo Việt độc quyền kinh doanh, hoạt động
dưới hình thức bao cấp thì đến hết năm 2002 đã có tới 23 doanh nghiệp thuộc nhiều loại
hình sở hữu tham gia kinh doanh: các doanh nghiệp nhà nước là Bảo Việt, Bảo Minh,
PVI và VINARE; các công ty cổ phần PJICO, PTI, Bảo Long; các doanh nghiệp liên
doanh Bảo Minh - CMG, VIA, UIC, IAI, BIDV-QBE, Samsung - Vina và 5 doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài gồm: Prudential, AIA, Manulife, Alianz, Groupama cùng với 5
công ty môi giới bảo hiểm: AIB, Đại Việt, Gras Savoye... Bên cạnh đó, sự hiện diện của
hơn 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài có uy tín càng đẩy mạnh
sự phát triển của ngành bảo hiểm (Nguồn: Báo Đầu tư số tháng 11/2003).
các sản phẩm bảo hiểm thích hợp nhất, với biểu phí và điều kiện bảo hiểm tối ưu.
Để thu hút thêm khách hàng, việc đẩy mạnh chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Các
công ty bảo hiểm càng hiểu rõ hơn điều này, đặc biệt là trong môi trường đầy tính cạnh
tranh như hiện nay. Sản phẩm có thể được cung cấp tới tận nơi cho khách hàng theo yêu
cầu, cùng với đầy đủ dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ. Các kênh tiếp thị và phân phối đang
ngày càng hoàn thiện. Công tác giám định tổn thất và bồi thường cũng dần trở nên nhanh
chóng, chính xác và thuận tiện. Các kênh thông tin hai chiều cũng được tạo lập để có thể
Nhóm SVTH: Nhóm 9 14