Sinh thái học - Pdf 23

HỆ SINH THÁI BIỂN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Biển chiếm diện tích rất lớn, ngoài việc tạo cảnh quan đẹp biển còn có nhiều vai
trò quan trọng đối với đời sống con người; đặc biệt, sinh vật biển là nguồn thức ăn
phong phú cho con người. Ngày nay, con người đã và đang lam dụng quá mức gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, và chính vì lẽ đó mà chúng ta cần
phải tìm hiểu hệ sinh thái biển nhằm hiểu rõ hơn những lợi ích của biển và có
những biện pháp bảo vệ chúng tốt hơn.
II. NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM HỆ SINH THÁI BIỂN
Hệ sinh thái biển là tổ hợp các quần xã sinh vật biển, môi trường biển, các sinh
vật biển chúng tương tác với môi trường biển để tạo nên chu trình vật chất (chu
trình sinh, địa, hóa và sự chuyển hóa của năng lượng ở biển).
2. CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ SINH THÁI BIỂN
Sự phân chia các vùng biển và đại dương
Theo chiều ngang đại dương có thể phân chia thành 2 vùng lớn: vùng ven bờ
ứng với vùng triều và dưới triều ứng với độ sâu 500m và vùng khơi gồm những
vùng còn lại ứng với các độ sâu của đại dương.
Theo chiều sâu: tầng mặt có độ sâu 400m, tầng trung gian có độ sâu đến 1500m
và tầng đáy.
a) Môi trường
Áp suất nước tăng dần theo độ sâu (cứ xuống sâu 10m thì tăng 1atm)
Cường độ chiếu sáng giảm dần theo độ sâu. Chủ yếu gồm 2 tầng: Tầng sáng sâu
tới 50m (20-120m) đảm bảo sự quang hợp, tầng tối có chiều sâu từ 500m trở
xuống.
Có sự phân tầng về nhiệt độ theo chiều sâu: tầng mặt có nhiệt độ thay đổi theo
ngày và theo mùa. Tầng trung gian có nhiệt độ giảm từ 1-3
o
C. Tầng sâu có nhiệt
độ ổn định
Hàm lượng muối hòa tan, khí oxi và khí cacbonic thay đổi. Đây là những nhân

đại diện của Động vật giáp xác (Crustacea) (1200 loài) trước hết là giáp xác chân
chèo (Copepoda với 750 loài), tôm lân (Euphausidae- 80), Mysidae, giáp xác bơi
nghiêng (Amphipoda-300 loài). Thân mềm với những đại diện chủ yếu là Chân
cánh ( Pteropoda ) với 180 loài, ấu trùng các loài giáp xác, thân mềm, da gai, cá…
Thành phần loài động vật phù du (ĐVPD) vùng biển Bái Tử Long gồm 90 loài
thuộc 52 giống 43 họ và 10 bộ, 5 ngành (phụ lục 5, hình 9). Trong đó:
o Ngành Giun đốt (Annelida) gồm 1 loài chiếm 1%.
o Ngành Chân đốt (Arthropoda) gồm 76 loài chiếm 85%.
o Ngành Thân mềm (Mollusca) gồm 3 loài chiếm 3%.
o Ngành Hàm tơ (Chaetognatha) gồm 3 loài chiếm 3%.
o Ngành Có bao (Tunicata) gồm 2 loài chiếm 2%.
So sánh với các vùng khác thấy rằng thành phần loài ĐVPD vùng biển Bái Tử
Long bằng 86,4 % vùng biển Cát Bà - Hạ Long, chiếm 74,3% số loài thu được trên
toàn vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng. Như vậy có thể thấy quần xã ĐVPD
vùng biển Bái Tử Long khá phong phú.
* Động vật bơi (nekton) chủ yếu là cá với khoảng 8000 loài sống ở vùng nước
ấm thềm lục địa và khoảng 1130 loài sống ở các vùng biển lạnh, chiếm gần 60 %
tổng các loài cá thế giới, cùng với các loại chân đầu (Cephalopoda), rùa biển, rắn
biển (Reptilia) và các loài thú biển thuộc 3 bộ chân màng (Pennipedia), bò biển
(Sirenial) và cá voi (Cetacea).
* Động vật đáy (Zoopenthos) tập trung ở thềm lục địa và khá đa dạng về
thành phần loài, bao gồm thân lỗ (Porifera), giun đốt (Polychaeta), da gai
(Echinodermata), thân mềm (Gastropoda,bivalvia)…Trong đó san hô
(Cnidaria:anthrozoa) đóng vai trò rất quan trọng, tạo nên hê sinh thái giàu có nhất
trong đại dương.
Một số loài cá tầng đáy chủ yếu thuộc họ cá mối, loài cá phèn, cá trác (trao
tráo), cá hanh vàng, cá đù, cá liệt, cá bánh đường, cá đổng. Cá tầng đáy thường
phân bố tập trung ở độ sâu dưới 50m trong các tháng từ tháng 12 đến tháng 5 năm
sau, ngoài thời gian này cá sống phân tán và chuyển dần ra độ sâu lớn hơn. Nhiều
loài đặc sản biển có giá trị kinh tế như tôm hùm, cua huỳnh đế, các loại ốc biển...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status