CHƯƠNG 1: CƠ BẢN VỀ E-LEARNING 2
1. eLearning là gì 2
2. Ảnh hưởng của eLearning đối việc dạy và học 4
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP 36
3.1 Chuyển file power point thành static-html 74
3.2 Tạo file schema theo chuẩn ADL SCORM 1.2 75
3.3 Tạo file manifest 75
3.4 Cắt file video theo chỉ thị thành các đoạn video nhỏ 76
3.5 Đưa các đoạn video nhỏ vào gói scorm 77
Đầu vào công cụ: tệp tin slide bài giảng và video quay bài giảng 78
CHƯƠNG 6: MÔ HÌNH TRIỂN KHAI HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN 78
CHƯƠNG 7: NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LMS Learning Management System
LCMS Learning Content Management System
CNTT Công nghệ thông tin
WBT Web-based Training
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
1
CHƯƠNG 1: CƠ BẢN VỀ E-LEARNING
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về eLearning. Trong chương này, chúng tôi
giới thiệu một số định nghĩa cũng như làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến
eLearning, đồng thời cũng phân tích các ảnh hưởng của eLearning đối với việc dạy
và học.
1. eLearning là gì
Từ thủa sơ khai, con người đã có các hoạt động học và đào tạo. Hình thức đào
tạo phổ biến nhất từ trước tới nay (hay gọi là đào tạo truyền thống) là hình thức mà
giáo viên và học sinh cùng tập hợp tại lớp học, giáo viên truyền đạt kiến thức còn
học sinh tiếp thu.
Theo thời gian, các cách học và đào tạo cũng dần thay đổi. Sự phát triển của
khoa học và công nghệ có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của cuộc sống con người
mạng dưới các hình thức như: email, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum),
hội thảo video (video conferencing) ….Việc giao tiếp ở đây có hai hình thức là giao
tiếp đồng bộ (synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (asynchronous). Giao tiếp
đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó những người sử dụng truy cập mạng tại cùng
một thời điểm và giao tiếp với nhau, ví dụ như thảo luận trực tuyến, hội thảo video là
các hình thức giao tiếp đồng bộ. Ngược lại giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà
những người giao tiếp không nhất thiết truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ
email, diễn đàn là các hình thức giao tiếp không đồng bộ.
Một số hình thức eLearning:
- TBT - Technology-Based Training (đào tạo dựa trên công nghệ): là hình
thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ đặc biệt là dựa trên CNTT. Thuật ngữ
này có thể hiểu một cách tương đương như thuật ngữ eLearning.
- CBT - Computer-Based Training (đào tạo dựa trên máy tính): Hiểu theo
nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử
3
dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp
để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài
trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới
bên ngoài. Thuật ngữ này thường được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-
ROM Based Training.
- Web-Based Training (đào tạo dựa trên Web): là hình thức đào tạo sử dụng
công nghệ Web. Nội dung học, các thông tin quản lý khóa học, thông tin về
người học được để trên các Website và người dùng có thể dễ dàng truy nhập
qua trình duyệt. Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử
dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, email…, thậm chí có thể
nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình.
- Online Learning/Training (đào tạo trực tuyến): Hình thức đào tạo có sử
dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa
người học với nhau và với giáo viên…
- Distance Learning (đào tạo từ xa): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo
thống sẽ biến mất.
Đối với người dạy học, thay vì phải mất thời gian đến các lớp học khác nhau để
giảng bài, có nhiều thời gian hơn để chuyên tâm soạn thảo nội dung các bài giảng có
chất lượng cao và giải đáp các thắc mắc của người học. Do đặc điểm của các bài
giảng trong eLearning khác rất nhiều so với các bài giảng truyền thống, nên đòi hỏi
người giáo viên cũng phải có những hiểu biết nhất định về CNTT và phải cộng tác
với đội ngũ chuyên môn về CNTT để có thể thiết kế, chuyển đổi các nội dung giảng
dạy sang eLearning sao cho có hiệu quả.
Nhưng mô hình học trực tuyến không phải phù hợp với tất cả mọi người, nó chỉ
phù hợp với những người học trưởng thành, thực sự có nhu cầu và tự giác học. Thêm
nữa, không phải bất kỳ nội dung học nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang eLearning.
Những môn học mà nội dung có tính quy trình, thay đổi nhanh, yêu cầu cập nhật kịp
thời sẽ là những nội dung thích hợp của eLearning.
Không phải trong mọi trường hợp các bài giảng truyền thống được cho là tốt sẽ
tự động có chất lượng tốt khi chuyển sang mô hình eLearning. Câu hỏi đặt ra là: liệu
5
các trường có thể làm được sự chuyển từ các lớp học truyền thống sang eLearning ?
Nhiều trường đại học đã hợp tác với các các công ty bán hàng có uy tín để phân phối
các nội dung học của họ. Một vài trong số các công ty này sẽ trở nên rất vững vàng
trong tương lai – theo ông Mark Van Buren, Giám đốc Nghiên cứu thuộc Hội Phát
triển và Đào tạo Mỹ (ASTD).
Các trường đại học rõ ràng đang có các lợi thế hơn các nhà cung cấp dịch vụ
eLearning khác, đó chính là danh tiếng – ông Van Buren nói. Bởi vì các trường đều
được thành lập với mục đích chuyên cho công tác đào tạo nên so với các đơn vị
khác chúng có danh tiếng hơn nhiều về lĩnh vực đào tạo. Một cách tương phản, với
một khối lượng lớn giáo trình từ ban đầu, rất khó kiểm soát được chất lượng của dịch
vụ eLearning – ông nói.
Các trường đại học quan tâm đến eLearning vì một số lý do: nhằm cung cấp mô
hình học suốt đời, tăng các khả năng lựa chọn mô hình học cho sinh viên, đồng thời
khai thác khả năng của công nghệ để thoả mãn nhu cầu học cho những người đang đi
một người sẽ làm nhiệm vụ soạn thảo khoá học, người khác sẽ làm nhiệm vụ phân
phối nó tới người học, người thì làm nhiệm vụ điều phối, người thì làm nhiệm vụ
kèm cặp, phụ đạo – theo lời ông DiPaolo.
3. Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning trên thế giới
eLearning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. eLearning
phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu eLearning cũng rất có triển
vọng, trái lại ở châu Á là khu vực chậm tiến đối với công nghệ này. Để có cái nhìn
tổng quan về eLearning trên thế giới, chương này lần lượt điểm qua sự phát triển và
ứng dụng eLearning ở các châu lục chính như Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á với các
dẫn chứng minh hoạ về sự quan tâm hỗ trợ, các biện pháp, chính sách của nhà nước
và chính quyền tại các khu vực trên đối với eLearning, sự ứng dụng eLearning trong
các cơ sở giáo dục, các công ty, giới thiệu một số đại học ảo …
Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for
Training and Development - ASTD) gần 47% các trường đại học và cao đẳng Mỹ đã
đưa ra các dạng khác nhau của mô hình học từ xa (distance learning) tại thời điểm
năm 2000, tạo nên 54000 khoá học trực tuyến.
7
Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu Quốc tế (International Data
Corporation - IDC), vào cuối năm 2004 gần 90% các trường đại học và cao đẳng Mỹ
sẽ đưa ra mô hình eLearning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong
khoảng từ năm 1999 đến 2004.
IDC dự đoán rằng, chi phí của các trường đại học và cao đẳng cho công nghệ
học từ xa (distance learning technology) sẽ tăng 20% mỗi năm, cụ thể là từ gần 300
triệu USD năm 1999 sẽ tăng lên đến 744 triệu USD năm 2004. Thêm vào đó, vốn
đầu tư vào việc đào tạo từ xa sẽ đạt đến con số khổng lồ 2,2 tỷ USD vào năm 2004
(trong khi con số này vào năm 1999 là 900 triệu USD).
Tại trường Đại học Standford chẳng hạn, eLearning được xem như là “một sự nỗ
lực để mở rộng kinh nghiệm của Standford tới mọi người từng ngày” – theo lời ông
Andy DiPaolo, Giám đốc Điều hành Trung tâm Phát triển Nghề nghiệp Đại học
Standford.
đến 2/2001, trường này đã thu về 70,2 triệu USD, tăng 65% trong đó tiền lãi là 11,6
triệu USD tăng 72%. Với 23000 USD, sinh viên có thể đạt được trình độ MBA tại
Phoenix, một món khá hời nếu so sánh với gần 80000 USD phải trả tại Trường Kinh
doanh Fuqua - Đại học Tổng hợp Duke (Duke University’s Fuqua School of
Business) – nơi mà một chương trình học trực tuyến cũng được đưa ra. Số người
đăng ký học tại Phoenix nhiều gấp hai lần của trường Đại học Quốc tế Jones (Jones
International University) – là trường đại học hoàn toàn trực tuyến đầu tiên ở Mỹ -
đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Phoenix. Với một mảng rất lớn các khoá học được
công nhận giành cho đối tượng vừa học vừa làm, Phoenix đang xông xáo nhắm tới
thị trường đại học giành cho các công ty với các chương trình học giá vừa phải, và
các tuỳ chọn học mềm dẻo. Trường cũng làm việc với các công ty khách hàng để tuỳ
biến các khoá học cho phù hợp với nhu cầu khách hàng. Phoenix đã xác nhận là gần
một nửa số sinh viên của trường được cơ quan trả học phí.
Sau đây là một số đại học trực tuyến:
- Đại học Tổng hợp Maryland www.umuc.edu
Đây là đại học công lập lớn nhất tại Mỹ có các khoá đào tạo trực tuyến. Bắt
đầu cung cấp dịch vụ từ 1990. Năm 2001 số người đăng ký học trực tuyến
9
lên đến 63000 người, tăng gấp đôi so với năm trước đó. Học viên có thể được
cấp 70 văn bằng các loại qua mạng. Học phí: tương tự như các khoá học trên
lớp của trường – 197$ cho một giờ học với sinh viên đại học, 301$ với sinh
viên sau đại học. Sinh viên nước ngoài phải trả gấp đôi.
- Đại học Trực tuyến Phoenix online.uophx.edu
Đại học trực tuyến lớn nhất nước Mỹ. Các lĩnh vực đào tạo bao gồm: cử nhân
tài chính kế toán, quản trị và marketing, thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA),
tiến sỹ về quản lý. Việc học và thi cử hoàn toàn qua mạng. Học phí: 400$ đến
500$ cho mỗi môn học. Để lấy được văn bằng MBA học phí khoảng 23000$.
- Đại học Quân sự Trực tuyến eArmyU www.earmyu.com
Từ 1/2001, eArmyU cho phép các binh lính Mỹ đăng ký học và lấy văn bằng
của 24 trường đại học trên khắp nước Mỹ. Mỗi người học được cấp một máy
cho một khoá học. Để lấy bằng thạc sỹ, học phí là 20000$, bằng tiến sỹ
khoảng 34000$.
Các trường đại học đi theo nhiều hướng khác nhau trong lĩnh vực eLearning.
Trường Đại học Tổng hợp New York và Trường Đại học Tổng hợp Mariland nằm
trong số các trường thiết lập các bộ phận chuyên trách để kinh doanh eLearning.
Trong khi đó, các trường như Williams, Amherst, Brown và Cornell thì tham dự vào
Nghiệp đoàn Mạng Giáo dục Toàn thể (General Education Network consortium).
Những hội liên hiệp học từ xa khác cũng đang được thiết lập giữa các trường đại học
với các ràng buộc về địa lý, tôn giáo …
Còn tại Châu Âu, Công ty IDC ước đoán rằng thị trường eLearning của châu Âu
sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Vào cuối năm
2004, 50% tổng số trên đạt được từ mảng đào tạo trực tuyến với nội dung đào tạo
liên quan tới CNTT, số còn lại sẽ là các mảng đào tạo liên quan đến các nội dung
như bán hàng, tiếp thị kỹ năng của người lãnh đạo …
Trong những năm gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát
triển CNTT cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội đặc biệt là ứng
11
dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng Châu Âu đều nhận thức
được tìêm năng to lớn mà CNTT mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong
phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục.
Tháng 3/2001, một kế hoạch trị giá 13,3 tỷ USD mang tên “Kế hoạch Hành động
eLearning” (eLearning Action Plan) đưa ra bởi Uỷ ban Châu Âu (European
Commision) được trông đợi sẽ thúc đẩy sự phát triển của đào tạo trực tuyến trong
các trường đại học ở Châu Âu. Bản kế hoạch 3 năm này có mục tiêu mở rộng tiềm
năng số hoá ở châu Âu và giảm sự thiếu hụt nhân lực CNTT. Chính phủ các quốc gia
châu Âu sẽ cùng nhau cộng tác để thực hiện kế hoạch này. Khoản đầu tư trải rộng
trong lĩnh vực giáo dục tất cả các cấp, tập trung vào ngôn ngữ; nghệ thuật - văn hoá -
nghĩa vụ công dân; khoa học - công nghệ - xã hội.
Trong 2 năm tới, Uỷ ban Châu Âu đang đặt ra một mục đích lâu dài liên quan
đến việc sử dụng công nghệ giáo dục mới, chẳng hạn như việc xây dựng và phát
công ty lớn của Anh đó là hãng hàng không British Airway và hãng tin Anh Reuter.
Hãng tin Reuter hy vọng sẽ tiết kiệm được 1 triệu Pound mỗi năm trong chi phí đào
tạo sau khi thay thế đào tạo truyền thống bằng eLearning. Anh cũng là nước có nhiều
dự án eLearning trong môi trường đại học so với các nước ở châu Âu. Trường Đại
học Tổng hợp Manchester (Manchester Metropolitan University) đã có dự án xây
dựng hệ thống eLearning cung cấp các nội dung học về CNTT, còn trường Đại học
Tổng hợp Liverpool (Liverpool University) có các khoá học trực tuyến trình độ
Master về CNTT cho những người học đã có 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Có thể tìm thấy rất nhiều Website hỗ trợ học trực tuyến của các trường đại học tại
Anh như: www.hvmba.edu của đại học Heriot-Watt University,
www.nottingham.ac.uk của đại học University of Nottingham, www.lon.ac.uk của
đại học University of London External Programme…. Nước Anh còn trở thành bãi
đổ bộ cho các nhà bán sản phẩm eLearning của Mỹ trong một tham vọng hướng tới
thị trường châu Âu. Ví dụ công ty eLearning của Mỹ, SkillShoft đã xây dựng cơ sở
của công ty tại Anh, hợp tác với các nhà thiết kế bài học châu Âu để đưa ra các sản
phẩm học phù hợp cho châu Âu.
Thuỵ Sỹ cũng đang đứng trước các thử thách của một xã hội thông tin. Nước này
đóng vai trò rất tích cực trong lĩnh vực xúc tiến eLearning nhất là trong việc nghiên
13
cứu và chuẩn hoá. Hơn nữa Thuỵ Sỹ cũng đầu tư rất nhiều để phát triển eLearning
trong các trường đại học. Ví dụ như chương trình dạy học trực tuyến Swiss Virtual
Campus ( với các môn học hấp dẫn nhiều sinh viên.
Hay chương trình Eduswiss ( là một đại học ảo với hơn 100
khoá học về các nội dung như khoa học máy tính, truyền thông và đa phương tiện,
quản lý môi trường , tự động hóa với sự tham gia của hơn 40 trường đại học và tổ
chức doanh nghiệp.
Theo nghiên cứu của Trường Quản lý, Đại học Tổng hợp Muynich - Đức
(University of Munich’s School of Management), khoảng 1/3 các công ty tham gia
thị trường chứng khoán C-Dax (Đức) đào tạo nhân viên theo mô hình eLearning.
Khoảng một nửa các công ty ở Đức hiện chưa dùng eLearning đang có kế hoạch sử
Các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực eLearning.
Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng
eLearning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan
Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty eLearning của Mỹ Docent
nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người
phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn
ở châu Âu.
Tại châu Á, eLearning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành
công vì một số lý do như: các quy tắc luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào
tạo truyền thống của văn hoá châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ
tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á… Tuy vậy đó chỉ là
những rào cản tạm thời, do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày
càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia
châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi được mà
eLearning mang lại. Một số các quốc gia đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát
triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực thể hiện sự nhận thức đối với
eLearning.
Theo nghiên cứu của công ty IDP Education Australia, số sinh viên đại học ở các
nước châu Á sẽ đạt 45 triệu vào 2010. Các công ty châu Á cũng nhận ra rằng để có
thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các nhân viên của họ
15
phải có các kỹ năng và tri thức đầy đủ, được cập nhật thường xuyên. Nhu cầu học
tập tăng nhanh ở châu Á đã được các nhà bán sản phẩm eLearning và các đại học
phương Tây chú ý đến. Châu Á rõ ràng đang là thị trường đào tạo rất lớn chưa được
khai phá đối với các cơ sở đào tạo phương Tây.
Quốc gia được các nhà cung cấp sản phẩm eLearning phương Tây quan tâm
hàng đầu tại châu Á là Trung Quốc - nước rất thành công trong việc xây dựng cơ sở
hạ tầng truyền thông với lượng người truy cập Internet tính đến cuối năm 2000 là 6,7
triệu người. Các công ty eLearning hàng đầu phương Tây như SmartForce, Saba,
Skillsoft, IBM Mindspan, NETg đã mở các văn phòng đại diện tại Trung Quốc hoặc
Princeton (Mỹ) đã đặt chân đến Thailand. Công ty gần đây đã đạt được một
thoả thuận với nhà cung cấp dịch vụ Internet Thailand có tên Loxley
Information Services để cung cấp sản phẩm mang tên Vlearn. Công ty tập
trung vào lĩnh vực đào tạo Anh ngữ trực tuyến cho các cơ quan chính phủ và
doanh nghiệp châu Á trong đó có công ty Merica Chain- một công ty chuyên
đào tạo về ngôn ngữ của Đài Loan. Merica đã sử dụng Vlearn để dạy tiếng
Anh qua Internet cho các sinh viên Đài Loan, Trung quốc, và các nước khác
vùng viễn Đông.
- 20/3/2001, công ty Hewlett-Packard cũng đưa ra đưa ra đề xướng về việc học
tích hợp (integrated learning initiative) cho các nước châu Á – Thái Bình
Dương. Công ty con mang tên HP Education có văn phòng tại nhiều nơi của
châu Á sẽ đưa ra các khoá học trực tuyến về các nội dung liên quan đến
CNTT như: Unix, Java, Networking và Microsoft Application.
Chính phủ một số nước châu Á cũng đang có các nỗ lực nhất định. Tháng
3/2001 chính phủ Thái Lan đã tán thành một văn bằng nước ngoài đầu tiên được cấp
qua đào tạo từ xa. Điều này xảy ra sau khi đại học mang tên Chiang Mai University
ở phía Bắc Thái Lan muốn thuê một giáo viên có tên là Taweechai. Ông này đã lấy
bằng Master về Công nghệ Truyền thông sau khi tham dự khoá học từ xa qua vệ tinh
của trường đại học National Technological University tại Fort Collins Mỹ. Pakistan
cũng thông báo sẽ mở đại học trực tuyến quốc gia.
17
Tại Nhật Bản, mức độ ứng dụng và phát triển eLearning còn quá ít so với tầm
vóc kinh tế của đất nước này. Một số chuyên gia vẫn tin tưởng vào tiềm năng của
eLearning tại Nhật Bản với lý do: hệ thống giáo dục hiện nay rất chặt chẽ và nghiêm
ngặt với những kì thi quốc gia để lấy chứng chỉ, để vượt qua những kỳ thi này người
học phải tham dự các khoá huấn luyện rất đắt tiền và đó chính là mảng thị trường lớn
cho eLearning nhằm đưa đến cho người dự thi các nội dung đào tạo tập huấn với giá
rẻ hơn. Một số công ty eLearning của Mỹ đã bước đầu thâm nhập vào thị trường này.
Năm 2000, công ty eLearning hàng đầu của Mỹ click2learn đã hợp tác với tổ chức
Tokyo’s Softbank Corp. - một tổ chức có quan hệ với hơn 300 công ty Internet tại
truyền thống và mô hình trực tuyến. Hơn 2000 sinh viên đã được cấp chứng chỉ sau
khi tham dự các khoá học như vậy.
Tại Singapore, ngày 22/10/2001, Đại học Tổng hợp Quốc gia Singapore (NUS)
đang mở rộng phạm vi toàn cầu của nó bằng việc tham gia đại học trực tuyến hàng
đầu thế giới có tên U21global. Đây là một dự án liên doanh giữa hãng Thomson
Learning và 15 trường đại học trên thế giới, trị giá 90 triệu đô la Singapore. Đại học
ảo này sẽ cung cấp các khoá học cho khoảng 32 triệu sinh viên trên toàn thế giới, tập
trung vào nhu cầu học chưa được thoả mãn của sinh viên khu vực châu Á. Giám đốc
NUS, giáo sư Shih Choon Fong nói rằng: U21global cho phép NUS đẩy mạnh các
chương trình đào tạo của nó cũng như chiêu sinh hiệu quả hơn trong kỷ nguyên của
công nghệ và toàn cầu hoá. Ông này cũng thấy rằng U21global là một nền tảng để
kết nối giữa sinh viên ở các đại học nước ngoài với các sinh viên và giáo sư tại
Singapore.
4. Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning ở Việt Nam
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về e-
Learning ở Viet Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu e-
Learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây hội nghị, hội
thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập đến nhiều vấn đề e-Learning
và khả năng áp dụng vào môi trường Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng
đào tạo tạo ĐHQGHN năm 2000, hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là
hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu
phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội
19
thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai e-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin
(ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ
chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về e-Learningđầu tiên được tổ chức tại
Việt Nam.
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai e-Learning.
Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho kết quả
căn bản”, “Tiếng Anh dành cho nông nghiệp”, “Thuỷ sản”. Một số tài liệu
thể hiện dưới dạng sách điện tử tham khảo (dạng trang Web, đểu là tài liệu
tiếng Anh), một số tài liệu nâng cao có các bài tự kiểm tra kiến thức đã học
(như Tin học căn bản, Tiếng Anh chuyên nghành nông nghiệp) Sau khi kiểm
tra có đánh giá kết quả và hướng dẫn người học bổ sung kiến thức còn khiếm
khuyết (các giáo trình Tin học căn bản).
- Công ty Phát triển Phần mềm – VASC (Bộ Bưu chính Viễn thông) đã mở
một Website cho dịch vụ luyện thi trực tuyến tại địa chỉ
www.truongthi.com.vn. Tại Website này người dùng có thể tham gia các
chuyên mục như: Lớp luyện thi trực tuyến, với nội dung bài học dưới dạng
văn bản và dưới dạng âm thanh; Thư viện kiến thức, phục vụ việc tra cứu
kiến thức liên quan đến việc luyện thi như các bộ đề thi; Tư vấn hướng
nghiệp, cung cấp các thông tin tư vấn của các chuyên gia về các vấn đề như
phương pháp học tập, hướng nghiệp, thông tin về các suất học bổng, các
trường đại học trên thế giới; Thông tin – Tin tức cung cấp các thông tin mới
nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tuyển sinh, các trường đại học, quy chế
tuyển sinh của các trường… Ngoài ra học sinh có thể tham gia mục Câu lạc
bộ để trao đổi thảo luận với những người dùng khác dưới hai hình thức là
Diễn đàn (forum) và Trao đổi trực tuyến (chat). Các ý kiến góp ý hoặc thắc
mắc được gửi tới người chịu trách nhiệm thông qua chức năng Hỗ trợ trực
tuyến – Góp ý. Đây không phải là dịch vụ hoàn toàn miễn phí, để sử dụng
các chức năng nâng cao như bài giảng trực tuyến, thư viện kiến thức …
người dùng phải mua thẻ truy cập dịch vụ của công ty.
21
- Trung tâm công nghệ thông tin - Học viện Bưu chính Viễn thông (CDIT)
cũng có một Web site tương tự www.truongthi.com.vn đặt tại địa chỉ
/>- Trung tâm Công nghệ Kỹ nghệ Sài gòn (SaigonCTT): Kết hợp với công ty
Cisco thực hiện các khoá đào tạo dài hạn (8 học kỳ tương đương 560 giờ
học) về các công nghệ mạng của Cisco. Học viên được học về cách thiết kế,
xây dựng và bảo trì hệ thống mạng máy tính và sẽ được cấp chứng chỉ quốc
chuẩn Nhật Bản, có sự tham gia của phía Nhật Bản. Dự án này có mục đích
là đào tạo ra những kỹ sư CNTT theo một tiêu chuẩn chất lượng chung của
thế giới. Tuy nhiên, dù mang tên là eLearning nhưng đây không phải là một
hình thức đào tạo trực tuyến như là tên gọi đã gợi tới.
- Trung tâm Pháp Việt Đào tạo về quản lý (CFVG- TPHCM): Theo báo cáo đã
có các triển khai thử về đào tạo trực tuyến theo như một báo cáo (“eLearning
dưới góc độ người đào tạo”) trong “Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo
năm 2001”, mặc dù không đề cấp cụ thể đến kết quả đạt được.
- Công ty Xi măng Sao mai: Qua website (www.saomai.com) Cty cho biết
đang triển khai việc huấn nghiệp qua mạng cho các nhân viên với mục đích
nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. (Sao mai là một công ty xi măng liên doanh
với Thụy Sĩ, chủ yếu cung cấp xi măng cho các thị trường phía Nam).
- Trung tâm tin học và ngoại ngữ Trí Đức (www.triduc.com.vn) : Cung cấp các
khoá học qua mạng. Người học đăng ký học qua mạng sẽ được nhận một
account để kết nối vào mạng của công ty (hoặc nếu không có điều kiện thì có
thể đến tận công ty để học). Giáo trình bao gồm các tài liệu học, có thực hiện
việc tự kiểm tra trong quá trình học, có giáo viên hướng dẫn nếu học tại công
ty. Trợ giúp cho người học được thực hiện qua hệ thống diễn đàn, email hoặc
trợ giúp qua điện thoại. Hiện nay các khoá học của Tri Đức chủ yếu là về
CNTT. Sau khoá học, công ty sẽ giúp người học có nhu cầu có thể đăng ký
thi trực tiếp trên Internet để lấy chứng chỉ từ những công ty như Sun hay
Microsoft. Công ty dự định triển khai WBT trong tháng 3/2002. Địa chỉ: 1
Yết Kiêu, Hà Nội.
23
- Công viên IT: Website của VDC (www.itpark.com.vn/dtao_ttuyen.php) giới
thiệu một số các tài liệu và các website liên quan đến WBT và eLearning tại
Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên nội dung thông tin rất nghèo nàn và lạc
hậu, không có gì đáng chú ý.
- Công ty Trí tuệ nhân tạo với giảng pháp đào tạo trực tuyến với trang
truongcongnghe.vn chuyên đào tạo về lĩnh vực công nghệ thông tin.
chính trong một hệ thống eLearning) có nội dung nghèo nàn thiếu sinh động, không được
cập nhật thường xuyên do đó không có sức lôi cuốn người học.
Kết luận
Dạy và Học trên Web hay WBT là một trong những phương thức mở rộng khả
năng và nâng cao chất lượng đào tạo nhờ vào sự phổ cập của của Internet. Là một
hình thức đào tạo mới, hiện đại và rất có triển vọng, nhưng WBT không nhắm tới
thay thế hoàn toàn hình thức đào tạo truyền thống mà là để bổ sung, đa dạng hoá các
loại hình đào tạo, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo cũng như số lượng người được
đào tạo.
WBT đang phát triển rất nhanh, được áp dụng ngày càng nhiều trong các tổ chức
giáo dục và doanh nghiệp trên thế giới với kết quả nhận được rất khả quan. Tại nhiều
trường đại học, cơ sở đào tạo của các công ty trên thế giới, ngoài nội dung đào tạo
truyền thống đã song song phát triển các chương trình đào tạo trên Web. Số người
quan tâm và sử dụng WBT ngày càng nhiều. WBT rõ ràng góp phần nâng cao tri
thức và kỹ năng nghề nghiệp của người được đào tạo bằng hình thức này.
Tại Việt Nam WBT mới chỉ nhận được sự quan tâm bước đầu của các đơn vị
đào tạo, và còn rất xa lạ với người học cũng như người dạy. Nhà nước và các đơn vị
đào tạo cần thật sự quan tâm và phát triển WBT để nâng cao chất lượng giáo dục và
đưa cơ hội được đào tạo đến với nhiều người hơn nữa. Điều này có tác động tích cực
đến nhiều mặt của đời sống, xã hội, đúng với chủ trương xã hội hoá, hiện đại hoá
giáo dục của Nhà Nước Việt Nam.
Việc triển khai WBT yêu cầu một sự đầu tư nghiêm túc và lâu dài mới có thể
mang lại kết quả như mong muốn. Phần khó khăn nhất để tiếp cận công nghệ giáo
dục mới này là ở khâu tổ chức thực hiện và thay đổi nhận thức của những người
25