MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều nghiên cứu và thực tế đã chỉ ra rằng chính các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa là một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển và đổi mới kinh tế
- xã hội. Sự xuất hiện của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thực sự định
nghĩa lại những mảng thị trường hoàn toàn mới, khởi đầu cho những làn
sóng sáng tạo - đổi mới không ngừng không chỉ cho quốc gia mà cả thế giới.
Ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát
triển hay đang phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước. Bởi loại hình doanh nghiệp này đã
góp phần tạo sự tăng truởng cho nền kinh tế, đồng thời nó cũng tạo nên sự
phát triển đa dạng cho các ngành kinh tế, góp phần cải thiện cán cân thanh
toán tăng xuất khẩu hàng hoá thành phẩm và tạo ra việc làm chủ yếu cho
hơn 80% lực lượng lao động ở cả nông thôn và thành thị.
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế nên việc phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNN&V) là việc vô cùng cần thiết. Tuy nhiên để phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, khó khăn nhất
chính là tạo vốn cho các doanh nghiệp này. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh
tế khó khăn như hiện nay. Tiếp cận được nguồn vốn đối với DNN&V là vấn
đề bức thiết đặt ra.
Không ít các khó khăn đã đặt ra cho hệ thống Ngân hàng thương mại
nói chung và Ngân hàng TMCP Công Thương Lạng Sơn nói riêng, nhưng
với tính năng hoạt động nhạy bén trong cạnh tranh và biết hướng vào đối
tượng khách hàng mục tiêu là các cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1
đã giúp cho Vietinbank Lạng Sơn luôn duy trì và phát triển được thị phần,
vượt qua khó khăn và trở thành Ngân hàng uy tín hàng đầu trên địa bàn.
Tiến bước vững vàng theo định hướng của Ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam: Tất cả các Chi nhánh trong hệ thống sẽ trở thành những
Ngân hàng bán lẻ, đa năng - hiện đại và tốt nhất Việt Nam, nên Vietinbank
- Phạm vi nghiên cứu: Sự nâng cao hiệu quả tín dụng đối với các
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh
Lạng Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp Duy vật biện chứng và Duy vật
lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: thống kê, so sánh,
tổng hợp sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Ngân hàng.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục luc, danh mục các bảng, biểu,
biểu đồ, tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lạng
Sơn.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng doanh nghiệp
3
nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh
Lạng Sơn.
4
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.
KHÁI NIỆM VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm
năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống
NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền
kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai
đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được
một tiêu chuẩn chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh
nghiệp ở các nước. Ở mỗi nước khác nhau, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh
phát triển kinh tế cụ thể mà có cách xác định quy mô doanh nghiệp trong
từng giai đoạn cụ thể.
Hầu hết các nước trên thế giới đếu xác định DNN&V theo hai tiêu
thức: tổng số vốn kinh doanh, số lượng lao động của doanh nghiệp để phân
biệt quy mô lớn, vừa và nhỏ.
Ở Việt Nam, theo quyết định của Chính Phủ tại NĐ 90/ 2001/NĐ- CP
ra ngày 23/11/2001 về trợ giúp và phát triển DNN&V có định nghĩa sau:
"DNN&V vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành. Có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VNĐ hoặc số lao
động hàng năm không quá 300 người". Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội
cụ thể của từng ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp
chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn
và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
6
Với tiêu chí xác định DNN&V theo NĐ 90/ 2001/ NĐ- CP thì số
lượng doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê đến hết năm
2001 có tổng cộng 77.784 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh: riêng trong
năm 2000-2001 thực hiện luật doanh nghiệp mới tăng vượt bậc 35.481
doanh nghiệp, với số vốn đăng ký kinh doanh là 41.882 tỷ đồng.
•
Phân loại
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Quy mô
Khu vực
DN siêu
Nhỏ
DN nhỏ DN vừa
Lao động
<10 <10 Từ 10
đến
dưới 50
Từ 10 đến
dưới 50
Từ 50 đến
dưới 100
( Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa)
Tuỳ theo các tiêu thức ta có thể phân loại DNN&V như sau:
- Theo hình thức sở hữu bao gồm:
+ Doanh nghiệp nhà nước.
7
+ Doanh nghiệp tư nhân.
+ Công ty TNHH.
+ Doanh nghiệp cổ phần.
- Phân loại theo mục tiêu SXKD:
+ Doanh nghiệp SXKD hàng hoá công cộng không vì mục tiêu lợi nhuận.
+ Doanh nghiệp SXKD vì mục tiêu lợi nhuận.
- Phân loại theo mục tiêu ngành nghề và lĩnh vực SXKD:
+ Doanh nghiệp công nghiệp.
+ Doanh nghiệp nông nghiệp.
+ Doanh nghiệp xây dựng.
+ Doanh nghiệp thương mại dịch vụ
- Phân loại theo quy mô (về lao động,Vốn, sản lượng, doanh thu, mức
lợi nhuận )
+ Doanh nghiệp vừa.
+ Doanh nghiệp nhỏ.
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có
đăng ký kinh doanh và thoả mãn hai tiêu thức: Vốn đăng ký không quá 10 tỷ
hiệu quả sử dụng vốn kém ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn vay và bảo
toàn vốn thấp. Cho nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNN&V bị
hạn chế.
9
Thứ tư, Môi trường kinh doanh bên ngoài ảnh hưởng không nhỏ tới
DNN&V
Thật vậy, những tác động từ bên ngoài tới DN cũng gây không ít khó
khăn cho DNN&V. Trước hết, là sự tác động quản lý của nhà nước về hoàn
thiện luật DN, thực thi luật DN, các chính sách thuế, chính sáchTD, thương
mại, chính sách khoa học- công nghệ, CS giáo dục đào tạo, lao động và việc
làm còn nhiều bất cập. Tác động quản lý của nhà nước đối với DNN&V
trong khâu tổ chức còn nhiều bức xúc, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng của
một bộ phận cán bộ công chứng quản lý nhà nước. Sự thiếu hụt và rối loạn
của thị trường như: thị trường vốn, thị trường thông tin, thị trường dịch vụ
và nạn hàng giả, hàng lậu tràn lan gây nhiều khó khăn cho hoạt động SXKD
của DNN&V.
1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Mặc dù còn có các quy định khác nhau về DNN&V nhưng sự phát
triển của DNN&V ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới đã khiến
cho các nhà KT và Chính Phủ các nước nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của
DNN&V trong nền KT thị trường. Hiện nay ở hầu hết các nước, DNN&V
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển KT-XH của đất
nước. Ở mỗi nền kinh tế
quốc gia
hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số
vai trò tương đồng như sau:
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường chiếm
tỷ trọng
khách và hàng hoá, SX gần 100% sản lượng công nghiệp của nhiều mặt
hàng tiêu dùng như: đồ mỹ nghệ, đồ mộc, mây tre
DNN&V đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm
phù hợp với nhiều đối tượng, tăng thu nhập cho người lao động, góp
phần ổn định xã hội.
Nhất là những nước đông dân lại sống chủ yếu bằng nghề nông, thu
nhập thấp như nước ta. Hàng năm có thêm khoảng 1 triệu người gia nhập lực
lượng lao động mà khả năng thu hút lao động mới này vào các DN lớn thuộc
khối quốc doanh là rất hạn chế. Sự tồn tại và phát triển DNN&V là phương
tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp, là nguồn lực chủ yếu tạo ra
việc làm. Lý do thật đơn giản là DNN&V thường được dễ dàng tạo lập với
một khối lượng không lớn, thường xuyên đáp ứng được nhu cầu thay đổi của
thị trường. Vì vậy, mặc dù số lao động làm việc trong một DNN&V không
nhiều nhưng theo quy luật số đông, với số lượng lớn DNN&V đủ tạo ra phần
lớn công ăn việc làm cho xã hội. Cho đến nay ở Việt Nam tổng số LĐ làm
việc trong các DNN&V khoảng hơn 9 triệu người chiếm 26-27% lực lượng
LĐ cả nước.
DNN&V phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính
Sự ra đời và phát triển của DNN&V với nhiều loại hình như: DNNN,
công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã khơi dậy và đưa vào
hoạt động nhiều khoản vốn đang nằm phân tán trong dân cư, góp phần phát
triển SX. DNN&V góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong
dân cư và sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương.
Thật vậy, Việc thành lập DNN&V không cần quá nhiều vốn. Điều đó
đã tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong
12
quá trình hoạt động các DNN&V có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan
hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc.
Với quy mô nhỏ và vừa, lại được phân tán ở hầu khắp các địa phương,
các vùng lãnh thổ nên DNN&V có khả năng tận dụng các tiềm năng về LĐ, về
như là: DNN&V góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân
bằng và chuyển dịch cơ cấu KT; DNN&V đóng góp vào việc duy trì và phát
triển các ngành thủ công nghiệp; DNN&V góp phần tăng nguồn hàng xuất
khẩu và tăng thu cho ngân sách nhà nước.
1.3.
CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.3.1. Các hình thức cấp tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa
TD là loại tài sản lớn nhất ở phần lớn các NHTM phản ánh hoạt động
đặc trưng của ngân hàng. Trong nền kinh tế thi trường, TD có rất nhiều hình
thức đa dạng,phong phú. Tùy theo tiêu thức phân loại mà TD được phân
thành nhiều loại khác nhau.
1.3.1.1 Tín dụng phân loại theo thời gian (TD ngắn hạn, trung hạn, dài hạn)
TD ngắn hạn- thời hạn từ 12 tháng trở xuống, trung hạn- trên 1 năm
đến 5 năm, dài hạn- trên 5 năm. Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính
chất tương đối vì nhiều khoản cho vay không xác định trước được chính xác
thời hạn. Phân chia TD theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
14
hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tài sản.
Tỷ trọng TD ngắn hạn tại các NHTM thường cao hơn TD trung và dài
hạn: các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng. TD
trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn nhưng rủi ro cao hơn, nguồn
vốn đắt và khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như
tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng,
khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn
1.3.1.2. Hình thức tài trợ TD được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê
Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục TD. Cho vay thường
được định lượng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối
trợ (hàng hoá, hoặc bất động sản ) hoặc theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng doanh nghiệp
nhỏ và vừa
1.3.2.1.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng về phía ngân hàng
Để đánh giá hiệu quả tín dụng trong nội bộ ngân hàng thương mại,
người ta sử dụng “Hệ số chênh lệch lãi ròng” (NIM=Net Interest Margin) là
tỷ số giữa thu nhập lãi ròng với số tài sản có hoặc tài sản sinh lợi .
Hệ số chênh lệch lãi ròng (%)= Thu nhập lãi ròng/ Tài sản sinh lời
Công thức trên đã chỉ rõ các tiêu thức chủ yếu liên quan trực tiếp đến
khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng là thu nhập lãi ròng và tài sản sinh lời.
Trong đó nhân tố thu nhập lãi ròng của tài sản sinh lời giữ vai trò trọng yếu .
Thêm vào đó, để đánh giá đầy đủ hiệu quả tín dụng trong năm tài
16
chính, người ta còn tính đến hệ số:
Giá trị tín dụng tổn thất thực tế/Tài sản sinh lời
Tóm lại, khả năng sinh lợi của các khoản cho vay và đầu tư phụ thuộc
vào chi phí của các khoản cho vay, đầu tư, tổn thất tín dụng và lãi suất ngân
hàng áp dụng .
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ở năm tài chính nói trên
người ta còn sử dụng đến một số chỉ tiêu khác khi xem xét mặt hoạt động này
trong một quá trình nhiều năm đến thời điểm nghiên cứu, cụ thể là:
Phân tích tình hình nợ quá hạn để biết thêm chất lượng tín dụng, khả
năng rủi ro, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, từ đó có biện pháp
khắc phục trong tương lai.
Tỷ lệ nợ quá hạn (%)=Nợ quá hạn/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ khó đòi (%)=Nợ khó đòi/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ tổn thất (%)=Nợ được xếp loại tổn thất/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro(%)= Quỹ dự phòng rủi ro/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro với nợ được xếp loại tổn thất (%) = Quỹ dự
phòng rủi ro/Nợ được xếp loại tổn thất
+ Về các chỉ tiêu lợi nhuận :
Hệ số lợi nhuận (%)= Lợi nhuận thu được/Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận (%)= Lợi nhuận thu được/Tổng chi phí sản xuất
Tỷ suất doanh lợi (%)= Lợi nhuận thu được/Vốn sản xuất
Vốn sản xuất = vốn cố định + vốn lưu động
+ Về các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn :
Hiệu quả sử dụng vốn cố định= Tổng thu nhập/Vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng= Tổng thu nhập/Vốn lưu động
18
+ Về các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động:
Năng suất lao động= Giá trị thực tế tổng giá trị hàng hoá/ Số lao động
bình quân
Hiệu quả sử dụng lao động=Tổng thu nhập/ Số lao động bình quân
Vì vậy về phía khách hàng, hiệu quả sử dụng thể hiện ở sự thành đạt
qua quá trình sử dụng vốn vay để tổ chức thực hiên các phương án, dự án sản
xuất, kinh doanh đã thoả thuận với ngân hàng khi đến quan hệ vay vốn
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với
doanh nghiệp ( cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta
phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ
đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu
cực. Mặt khác cả ngân hàng và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù
hợp với quy định của Nhà nước trong hoạt động tín dụng. Có như thế thì cả
ngân hàng và doanh nghiệp mới để ra các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh
hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất. Sau đây
chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
ngân hàng thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp.
1.3.3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
- Chính sách tín dụng
- Công tác kiểm soát nội bộ.
20
Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên,
liên tục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với
các chính sách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt công tác này,
Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ,
trung thực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh. Có
như thế, công tác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng.
1.3.3.2. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp
-Năng lực của doanh nghiệp:
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại
hiệu quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được
mục đích của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ
Ngân hàng.
- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp:
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn,
kiếm thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán
được những biến động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm Do sự
bảo thủ của nhiều nhà quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu
hồi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp từ đó
ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng.
- Đạo đức của người đi vay:
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố
có liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức
sử dụng vốn vay. Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh
21
nghiệp nhận được tiền vay. Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay
không hợp lý dẫn đến không đạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh. Còn có
sách đối ngoại có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói
chung và hoạt động của các ngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng. Chính
sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có tác dụng cho cả ngân hàng và doanh
nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại ngược lại. Các chính sách này
nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó để đảm bảo cân đối
cho nền kinh tế. Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng
đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt
được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng.
- Các yếu tố thiên tai gây lên.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tính
thời vụ. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần
kinh tế Nhà nước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư
nghiệp lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng. Khi thiên
tai xảy ra như: lũ lụt, hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả
các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm cho chất lượng của các khoản
tín dụng bị giảm sút.
23
1.4. NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1 Đặc điểm cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài những đặc điểm chung của cấp tín dụng, cấp tín dụng cho
DNN&V có những đặc điểm riêng xuất phát từ những đặc thù của DNN&V.
Thứ nhất, cho vay DNN&V có số lượng khách hàng lớn, quy mô khoản
vay nhỏ. Tại nhiều quốc gia, các DNN&V luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong
tổng số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, đây là đối tượng khách hàng đông
đảo để ngân hàng khai thác. Điều này cũng đặt ra cho ngân hàng những vấn đề
về quản lí khoản vay. Song song với số lượng lớn, các khoản vay của DNN&V
có giá trị tương đối nhỏ.
nền kinh tế trong quá trình mở rộng hoạt động thường xuyên có nhu cầu về
vốn, rõ ràng đây là nhóm khách hàng dồi dào cần phải khai thác của ngân hàng.
Thứ hai, mở rộng cho vay DNN&V góp phần phân tán rủi ro, ổn định
nguồn thu cho ngân hàng.
So với các doanh nghiệp lớn các khoản vay của DNN&V có quy mô
nhỏ hơn. Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp lớn có thể bằng dư nợ của hàng
chục doanh nghiệp nhỏ cộng lại, vì vậy cho vay 1 doanh nghiệp lớn sẽ đem lại
nguồn thu tương đương với cho vay nhiều doanh nghiệp nhỏ mà quản lí
không phức tạp bằng. Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra đối với các doanh nghiệp
lớn sẽ có hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng. Cho vay DNN&V sẽ góp
phần phân tán rủi ro. Nếu như doanh nghiệp lớn tập trung vào 1 lĩnh vực thì
mỗi doanh nghiệp nhỏ lại có lĩnh vực ngành nghề hoạt động riêng. Do vậy
cho vay nhiều doanh nghiệp nhỏ trong nhiều ngành nghề sẽ giảm thiểu được
rủi ro nhờ đa dạng hóa lĩnh vực tài trợ.
25