1
Chương III: Thị trường tài chính
.
I. Tổng quan về Thị trường tài chính.
1. Khái niệm.
Trong nền kinh tế, luôn phát sinh các nhu cầu về vốn của các chủ thể khác
nhau.Trong đó, có những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn
những ngưòi có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư hay không biết đầu tư
vào đâu. Từ đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu
tư. Cơ chế đó được thực hiện và điều chỉnh trong khuôn khổ một thị trường,
đó là Thị trường tài chính (TTTC). Thị trường tài chính đã gắn kết những
người đó với nhau bằng cách luân chuyển vốn từ những người có dư vốn tới
những người thiếu vốn. Những ngưòi thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát
hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu … còn những người có
vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào máy móc thiết bị và nhà xưởng để
sản xuất hàng hoá thì sẽ mua các công cụ tài chính được phát hành bởi người
huy động vốn.
Vậy TTTC có thể được hiểu là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi và
chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc và luật lệ đã được ấn
định.
2. Các chủ thể tham gia vào TTTC
Chính phủ: Tham gia chủ yếu với tư cách là ngưòi đi vay. Chính phủ phát
hành Tín phiểu kho bạc, Trái phiếu để bù đắp sự thiếu hụt của Ngân sách Nhà
nước. Ngoài ra, Chính phủ còn tham gia với tư cách là người cho vay mỗi khi
có tiền nhàn rỗi.
Các hãng kinh doanh: Vào những thời gian chưa đến kỳ sản xuất kinh
doanh, các hãng kinh doanh đang có một khoản tiền nhàn rỗi thì họ có thể
mua trái phiếu của các chủ thể khác. Tuy nhiên, các hãng kinh doanh này lại
tham gia TTTC chủ yếu với tư cách là người đi vay do họ luôn có nhu cầu
vốn cho việc sản xuất kinh doanh.
Các trung gian tài chính không những mang lại lợi ích cho người gửi
tiền mà còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người đi vay để họ có được các khoản
tiền để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể nói vắng bóng của
trung gian tài chính thì thị trường tài chính khó có thể đạt được lợi ích trọn
vẹn.
4. Vai trò của thị trường tài chính
Với chức năng dẫn vốn, TTTC đã thực hiện vai trò vô cùng quan trọng
trong việc thúc đẩy, phát triển và ổn định nền kinh tế. Cụ thể là:
- Góp phần tạo lập vốn để đầu tư phát triển kinh tế.
Thông thường, Ngân sách Nhà nước không đủ để đáp ứng toàn bộ các
nhu cầu xây dựng và chi tiêu bởi để có thể tiến hành xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương buộc phải đòi hỏi
nhu cầu về tiền vốn với quy mô rất lớn đồng thời phải huy động trong một
thời gian ngắn. TTTC sẽ góp phần giải quyết khó khăn này qua việc thúc đẩy
việc tích luỹ và tập trung vốn, tạo nên nguồn vốn cần thiết phục vụ cho việc
đầu tư của Chính phủ.
Ngoài ra dân chúng có thể vay mượn trên TTTC để đáp ứng nhu cầu
chi tiêu và vì vậy cũng làm nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hoá, kích thích
sản xuất phát triển.
- Tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, trên cơ sở đó
làm tăng năng suất và hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế, góp phần thoả mãn,
giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu vốn.
Những người có vốn nhàn rỗi: có thêm cơ hội đầu tư, giúp họ có thể
làm sinh lời trên đồng tiền của họ qua việc gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần.
4
Những người đi vay: giúp họ có ý thức sử dụng đồng vốn vay một cách
hợp lý và hiệu quả. Như vậy mới có thể hoàn trả khoản vay, trả lãi và tạo một
phần thu nhập cho bản thân.
- Là môi trường quan trọng để thực hiện các điều tiết vĩ mô của nền
- Tăng nợ phải trả: tham gia vào thị trường Nợ
- Tăng vốn của chủ: tham gia vào thị trường Vốn cổ phần
a.Thị trường Nợ.
Khái niệm: Là thị trường tại đó diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi các
công cụ nợ.
Công cụ nợ (debt instruments): Là các thoả thuận mang tính chất hợp đồng
giữa chủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Với sự thoả thuận về số lượng tiền
vay, lãi suất vay, phương thức, thời điểm thanh toán và thời hạn vay (kỳ hạn
nợ).
Căn cứ vào kỳ hạn nợ: công cụ nợ dưới 1 năm; công cụ nợ ngắn hạn.
Công cụ nợ trên 1 năm: công cụ nợ trung và dài hạn
Đặc trưng của thị trường Nợ:
- Thể hiện quan hệ tín dụng
6
- Hàng hoá trên thị trường này đã được biết trước về lãi suất (biết được
về thu nhập và lợi tức trong tương lai), biết về phương thức thanh toán, thời
điểm thanh toán.
- Hàng hoá có thời hạn, ghi rõ ngày đáo hạn
- Giá cả ít biến động, rủi ro thấp, an toàn nhưng kém hấp dẫn
b. Thị trường Vốn cổ phần
Khái niệm: Là thị trường mà tại đó diễn ra các hoạt động mua bán cổ
phiếu (có thể là những cổ phiếu phát hành lần đầu hoặc được bán lại)
Cổ phiếu (share certificate): là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của doanh nghiệp.
Đặc trưng thị trường Vốn cổ phần
- Thể hiện quan hệ sở hữu
- Hàng hoá trên thị trường này không được biết trước về lợi tức
- Hàng hoá này không có thời hạn, tồn tại cùng thơi gian với doanh
nghiệp
cung cấp lãi suất tham chiếu cho thị trường vốn và tăng khả năng kiểm soát,
cung ứng tiền của NHTW
b. Thị trường vốn
Khái niệm: Là thị trường tài chính tại đó diễn ra việc mua bán các
công cụ nợ dài hạn và cổ phiếu của các công ty cổ phần.
Các chủ thể tham gia: So với thị trường tiền tệ thì có hạn chế hơn, một
số chủ thể không được tham gia vào việc mua bán một số háng hoá nhất định
trên thị trường này.
- NHTW
- Các NHTM: bị hạn chế một phần hàng hoá: không được nắm cổ phiếu của
các công ty cổ phần
- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng: Được tham gia mua bán
nhiều hàng hoá hơn các NHTM, được tham gia mua bán cổ phiếu nhưng với
một lượng hạn chế. (giá trị cổ phiếu mua vào không được quá 5% so với tổng
tài sản Có)
Đặc trưng thị trường Vốn:
- Hàng hoá mua bán trên thị trường này là trung, dài hạn
8
- Hàng hoá có tính thanh khoản thấp hơn so với hàng hoá trên thị
trường tiền tệ
- Giá cả biến động mạnh, rủi ro cao
Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các khoản đầu
tư dài hạn cho chính phủ, các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn,
nhất là thị trường chứng khoán phát triển còn được xem là “ hàn thử biểu “ đo
“sức khoẻ “ của nền kinh tế
3. Thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2
Căn cứ: vào quá trình phát hành và lưu thông
a.Thị trường cấp 1 (primary market)
Khái niệm: Là thị trường tài chính diễn ra sự phát hành lầu đầu của các
Hai thị trường này có tác động tương hỗ lẫn nhau. Thị trường cấp 1 sản
xuất ra công cụ tài chính còn thị trường cấp 2 khẳng định tính thanh
khoản của các công cụ này.
Hàng hoá được mua bán, trao đổi trên thị trường cấp 2 thông qua sở giao
dịch và thị trường trao tay.
• Sở giao dịch (Stock Exchange): Hàng hoá được mua bán một
cách công khai, có tổ chức và có địa điểm cụ thể.
VD: Thị trường Giao dịch Chứng khoán Mỹ và New York
• Thị trường trao tay OTC (Over the Counter Market): Các nhà
buôn tại các địa điểm khác nhau có một danh mục chứng khoán
và họ sẵn sàng đứng ra mua và bán chứng khoán theo kiểu mua
bán thẳng cho ai đến và chấp nhận giá của họ. Thị trường này có
tính cạnh tranh cao và không khác nhiều so với Trung tâm giao
dịch có tổ chức nói trên.
4. Thị trường chính thức và không chính thức
Ngoài ra nếu căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước còn có:
a.Thị trường chính thức (Formal Market)
Là thị trường mà tuân thủ 100% quy định của Nhà nước. VD: các NHTM.
Thị trường này có quy mô lớn và khá an toàn
b. Thị trường không chính thức (Informal Market)
Là thị trường mà không tuân theo hoàn toàn các quy định của Nhà nước.
10
VD: Các hiệu cầm đồ.
Tuy nhiên trên thực tế, cả hai thị trường này cùng song song tồn tại vì
thị trường chính thức vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của các chủ thể trong
nền kinh tế, việc tiếp cận với thị trường chính thức còn gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy mà thị trường không chính thức tồn tại bên cạnh, gắn liền với thị
trường chính thức như một sự bổ xung. Tuy nhiên đây là một thị trường
không chịư sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ do đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
phiếu.
+ Lệnh phiếu: (promissory note): là một giấy nợ do người mua ký phát
trao cho người bán, trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định
khi đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng lệnh phiếu.
c. Các loại chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn CD (certificate deposit)
Là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền. Nó thanh toán lãi
hàng năm theo một khoản đã định và khi đến kỳ hạn thanh toán thì hoàn
trả hết giá mua ban đầu. Chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi hầu hết các
NHTM và có thể được bán lại ở thị trường thứ cấp
d. Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement)
Thực tế đây là những món vay ngắn hạn. Khi các NHTM gặp khó khăn
về tiền mặt trong việc thanh toán, nhưng trong tay họ lại đang giữ một
lượng chứng khoán. Các NHTM có thể đem bán lượng chứng khoán này
với một thời hạn nhất định. Tại thời điểm bán có hai hợp động được ký kết
và giá bán được xác định ngay.
NHTM Mỹ còn có “Giấy tờ phụ” được dùng để vay nóng của dân
chúng khi quá kẹt tiền mặt. Đây là công cụ mang lại lãi suất cao nhưng
chứa đựng tiềm năng rủi ro cũng rất lớn.
e. Hối phiếu được Ngân hàng chấp nhận (Chấp phiếu )
Là một hối phiếu ngân hàng, do một công ty phát hành được thanh toán
trong thời hạn sắp tới và được ngân hàng bảo đảm với một khoản lệ phí
bằng cách ngân hàng đóng dấu: “đã chấp nhận” lên hối phiếu. Hối phiếu
của công ty sẽ được tăng thêm khả năng chấp nhận khi mua hàng hoá bởi
đã có sự bảo đảm về việc thanh toán, ngay cả khi công ty phá sản thì hối
12
phiếu vẫn được ngân hàng thanh toán đầy đủ. Chấp phiếu thường được bán
lại trên thị trường thứ cấp với giá thấp hơn, và như vậy có tác dụng tương
tự như tín phiếu kho bạc.
f. Các khoản vay ngắn hạn ở nước ngoài.
Là một giấy xác nhận một khoản nợ và người nắm giữ nó được hưởng
một trái quyền. Căn cứ vào nhiều tiêu thức người ta chia trái phiếu thành
nhiều loại.
• Căn cứ vào chủ thể phát hành
- Trái phiếu Chính phủ (government bond) là các trái phiếu do
Chính phủ phát hành như trái phiếu kho bạc, công trái quốc gia…
- Trái phiếu công ty (corporate bond) là các trái phiếu dài hạn do
các công ty phát hành với lãi suất cao, giúp công ty huy động
một khối lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn.
Khả năng bán của trái phiếu Chính phủ lớn hơn so với trái phiếu công
ty. Việc phát hành trái phiếu Chính phủ luôn chiếm một tỷ trọng lớn.
• Căn cứ vào tính chất kinh tế:
- Trái phiếu vay đơn: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được lấy
gốc và lãi vào cùng một ngày mãn hạn
- Trái phiếu hoàn trả cố định: là trái phiếu mà người mua sẽ được
trả lãi vào cuối mỗi kỳ.
- Trái phiếu giảm giá (trái phiếu chiết khấu)(discount bond) là trái
phiếu là để trả thu nhập cho người mua, người ta bán trái phiếu với
mệnh giá thấp hơn mệnh giá của nó.
- Trái phiếu Coupon: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được thanh
toán số lợi nhuận ở dạng tiền coupon cố định hàng năm và đến năm
cuối cùng của kỳ hạn sẽ nhận nốt số coupon cuối cùng và toàn bộ tiền
vốn.
Ngoài ra còn có trái phiếu Consol: đây là loại trái phiếu tồn tại vĩnh
viễn, nó không có ngày đáo hạn.
• Căn cứ vào khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu có thể chuyển đổi
14
15
nhạy cảm với các nhân tố như sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự thay đổi lãi
suất…Thị giá cổ phiếu thông thường biến động theo chiều nghịch với biến
động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ vay nợ dài hạn lãi suất cố
định và lãi suất huy động tiền gửi ngân hàng
3) Các công cụ tài chính vừa mang lại thu nhập cố định vừa mang lại thu nhập
biến đổi
Điển hình cho loại công cụ này là:
* Phiếu nợ chuyển đổi: là loại trái phiếu mà người sở hữu nó có thể chuyển
đổi thành cổ phiếu thường bất kỳ lúc nào (convertible bond)
Phiếu nợ chuyển đổi được sử dụng như một giải pháp để thúc đẩy tiến trình
cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
* Hợp đồng nợ: Có quy mô rất lớn, có khả năng được chuyển đổi thành cổ
phiếu và khi được chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ có những quy định khác biệt:
chỉ được chuyển đổi trong thời gian nhất định và chỉ được chuyển đổi một
phần trong hợp đồng nợ. Hợp đồng nợ được sử dụng như một công cụ nợ, có
tính hấp dẫn mà vẫn tránh được việc mất đi quyền sở hữu công ty
IV. Điều hành thị trường tài chính
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành hoạt động của
thị trường tài chính
1. Ban hành các quy định buộc các công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin
cho các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính. Đảm bảo thông tin
minh bạch, chuẩn mực hoá hệ thống giám sát, kế toán, kiểm toán
- Chính phủ yêu cầu các công ty phát hành chứng khoán phải cung cấp
một số yêu cầu thông tin về doanh số, tài sản, tình hình kinh doanh lỗ,
lãi…cho các nhà đầu tư nhằm tránh các hoạt động gian lận gây rủi ro
- Thành lập các kênh cung cấp thông tin cho tất cả những ai có yêu cầu
- Thành lập các công ty kinh doanh thông tin
2. Đảm bảo sự lành mạnh của các tổ chức tài chính trung gian
tài chính là một xu thế quan trọng. Để xây dựng một bức tranh về toàn cầu
hoá thị trường tài chính trên thế giới chúng ta sẽ nghiên cứu tới các thị trường
17
trỏi khoỏn quc t, th trng trỏi khoỏn Chõu u v th trng c phiu th
gii.
1. Th trng trỏi khoỏn quc t v Chõu u
a. Th trng trỏi khoỏn quc t: L th trng trỏi khoỏn m mt ch th
ca quc gia ny phỏt hnh trỏi khoỏn trờn mt nc khỏc v c gi tờn
theo ng tin ca nc ú
VD: M bỏn trỏi khoỏn nc ngoi Anh bng ng bng Anh
Trờn thc t, vo th k 19, mt t l % ln ca ng st M c xõy
dng v ti tr bng cỏch bỏn cỏc trỏi phiu nc ngoi ti Anh.
b. Th trng trỏi khoỏn Chõu u (Euro bond): L trỏi khoỏn c gi tờn
n v theo mt ng tin khỏc vi ng tin ti nc m nú c bỏn
VD: 1 trỏi khoỏn c gi tờn n v theo ng ụla M ($) li c bỏn
ti London
Hin nay th trng trỏi khoỏn Chõu u ang chim u th v cú mc tng
trng rt nhanh.
2. Th trng c phiu th gii
Trc õy, th trng c phiu M vn c coi l th trng c phiu
ln nht th gii nhng cho n thi gian ny, M khụng cũn l quc gia luụn
dn u v th trng c phiu na. Bt u t gia nhng nm 1980, giỏ tr
cỏc c phiu mua bỏn Nht ó vt nhiu ln giỏ tr c phiu c mua bỏn
M.
VI. Th trng ti chớnh Vit Nam
1. Tổng quan về thị trờng tài chính Việt Nam.
1.1. Thành tựu và bất cập trong phát triển thị trờng tài chính
Sau gần 20 năm đổi mới, hệ thống tài chính Việt Nam đã có bớc
chuyển biến từ cơ chế hành chính bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị
Một là: TTTC nói chung và các thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn nói
riêng còn ở trình độ tơng đối thấp so với nhiều nớc đang phát triển. Phần
lớn các hoạt động giao dịch chỉ diễn ra trên thị trờng sơ cấp, thị trờng thứ
cấp cha thực sự phát triển. Mối liên kết, tác động qua lại giữa các thị trờng
trong hệ thống còn thiếu chặt chẽ, năng lực giám sát và quản lý thị trờng
cha theo kịp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Khuôn khổ pháp lý cho thị trờng
và các giao dịch tài chính cha hoàn thiện.
19
Hai là: Các định chế tài chính và các công cụ tài chính hiện đại còn
cha nhiều. Đặc biệt là các công cụ tài chính phát sinh nh chứng quyền,
quyền mua trớc còn rất ít đợc sử dụng.
Ba là: Hệ thống tài chính, nhất là hệ thống các NHTM còn tiềm ẩn
nhiều rủi ro, tỷ lệ vốn cho vay trên vốn tự có cao, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay
trung, dài hạn quá mức an toàn cho phép. (60% trong khi mức an toàn là 25
30%), tỷ lệ nợ xấu vợt mức an toàn theo thông lệ quốc tế. Chúng ta sẽ đi sâu
nghiên cứu lần lợt các thị trờng trong TTTC Việt Nam.
1.2. Các thị trờng chủ yếu trong TTTC Việt Nam
a. Thị trờng tiền tệ:
Bao gồm: Thị trờng nội tệ liên ngân hàng, thị trờng ngoại tệ liên ngân
hàng, thị trờng tín phiếu kho bạc, nghiệp vụ thị trờng mở và thị trờng mua
bán các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
* Thị trờng nội tệ liên ngân hàng
Thị trờng nội tệ liên ngân hàng Việt Nam đợc thành lập năm 1993.
Đây là nơi thực hiện việc cho vay và đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng nhằm
mục đích bù đắp thiếu hụt nhu cầu vốn khả dụng và là nơi tạo điều kiện để các
NHTM tối đa hoá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của mình. NHNN tham gia vào
thị trờng này với t cách là thành viên và tác động lên thị trờng để thực thi
chính sách tiền tệ.
Trong giai đoạn đầu thành lập, các NHTM lớn thực hiện các giao dịch
1998
1999
2000
2001
6 tháng 2002
NTTM Nhà
nớc
84.456
102.220
133.582
153.156
103.261
NHTM cổ
phần
3.404
15.
235
12.578
thành viên tham gia thị trờng tăng từ 23 lên tới 59 thành viên vào năm 2003,
trong đó NHNN là ngời điều hành thị trờng và là ngời mua bán cuối cùng
can thiệp thị trờng khi cần thiết. Trong các giao dịch trên thị trờng ngoại tệ
liên Ngân hàng thì giao dịch giữa các NHTM và NHNN là chủ yếu, chiếm
khoảng 70% tổng giá trị giao dịch trên thị trờng. Tuy nhiên, những giao dịch
này thờng vẫn diễn ra theo 1 chiều. Trên thị trờng hình thành 2 nhóm Ngân
hàng là nhóm cung ứng ngoại tệ (chủ yếu là các NHTM nhà nớc) và nhóm
cần ngoại tệ( chủ yếu là các NHTM nhỏ). Bên cạnh thị trờng ngoại tệ liên
Ngân hàng, hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các tổ chức tín dụng và khách
hàng diễn ra khá sôi động, tuy nhiên các hình thức mua bán còn sơ khai, chủ
yếu là hoạt động mua, bán giao ngay. Năm 1998, nghiệp vụ kì hạn chính thức
đợc áp dụng, ngày 17/7/2001 nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ cũng bắt đầu đợc
thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn bằng VNĐ cho các ngân hàng.
* Thị trờng tín phiếu khoa bạc.
Thị trờng tín phiếu kho bạc Nhà nớc bắt đầu hoạt động từ năm 1995
và là kênh huy động vốn với chi phí thấp nhất cho NSNN. Đặc biệt, từ
T7/2000, thị trờng tín phiếu kho bạc cùng với tín phiếu NHNN đã trở thành
nguồn cung cấp hàng hoá chủ yếu cho nghiệp vụ thị trờng mở.
Tín phiếu kho bạc do Nhà nớc phát hành với lãi suất và thời hạn đợc
ấn định trớc, nhằm huy động vốn để bổ sung NSNN.
Hiện nay thị trờng có 44 thành viên, là các tổ chức tín dụng, công ty
bảo hiểm, quỹ đầu t. Mặc dù có tới 44 thành viên song số lợng thành viên
thực sự tham gia đấu thầu và thắng thầu rất ít (chỉ có 5 thành viên). Mỗi phiên
giao dịch chỉ có từ 1 đến 5 thành viên, chủ yếu là những thành viên có vốn lớn
nh các NHTM nhà nớc. Năm 2002, khối lợng trúng thầu của NHTM nhà
22
nớc là 98%. Các NHTM cổ phần, các tổ chức tài chính có vốn nhỏ và lãi suất
huy động cao thờng khó có khả năng tiếp cận với loại đầu t này.
Kì hạn của tín phiếu kho bạc nhà nớc ta cha thực sự đa dạng, thông
có văn bản nào cho việc giao dịch giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng.
Công cụ phát sinh, quyền chọn bắt đầu đợc thực hiện từ năm 2003. Một số
Ngân hàng có phát hình kì phiếu để huy động ngắn hạn nhng chủ yếu là phát
hành kì phiếu ghi danh nên không trao đổi đợc.
b. Thị trờng vốn:
* Thị trờng cổ phiếu:
Thị trờng cổ phiếu tập trung, trung tâm giao dịch chứng khoán(
TTGDCK) thành phố HCM đợc khai trơng ngày 20/7/2000. Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội đợc khai trơng vào ngày 1/3/2005.
TT GDCK thành phố Hồ Chí Minh đợc đa vào hoạt động với công
suất thực hiện 300.000 kênh trong 1 phiên giao dịch, mở cửa 3 ngày/ tuần và
thực hiện ghép lệnh 2 lần/ phiên. Trải qua 4 năm hoạt động, từ một thị trờng
ban đầu chỉ có 4 công ty niêm yết với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 387 tỷ
VND, TTGDCK đã thu hút đợc 24 công ty (đến đầu năm 2004) và tổng giá
trị cổ phiếu niêm yết là 1086 tỷ VNĐ, tăng gần gấp 3 lần số vốn cổ phần ban
đầu.
Chính phủ bắt đầu tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp từ năm
1992, cho tới năm 2004 có 2.100 công ty đợc cổ phần hoá. Nhiều công ty cổ
phần có đủ điều kiện niêm yết song không muốn niêm yết trên thị trờng cổ
phiếu tập trung. Hầu hết các công ty niêm yết trên thị trờng có quy mô nhỏ,
nhiều công ty còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý và cha sẵn lòng công bố
thông tin.
Các công ty niêm yết cha sử dụng thị trờng chứng khoán nh là một
kênh quan trọng để huy động vốn cho đầu t dài hạn. Các nhà đầu t có tổ
chức tham gia vào các giao dịch cổ phiếu trên thị trờng này là rất hạn chế,
phần lớn là các nhà đầu t cá nhân. Đến ngày 30/6/2003 mới có khoảng
14.500 tài khoản giao dịch, trong đó có 91 nhà đầu t trong nớc có tổ chức
và 35 nhà đầu t nớc ngoài có tổ chức. Sự tham gia của các nhà đầu t có tổ
chức nh công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu t còn rất ít. Thị trờng
chứng khoán Việt Nam còn đang ở giai đoạn rất sơ khai và non trẻ.
ty thành lập theo Luật doanh nghiệp còn ít chú trọng đến việc phát hành trái
phiếu. Đối với trái phiếu quốc tế thì cho đến nay vẫn cha có NHTM nhà nớc
và DNNN nào phát hành.
25
Các loại trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu công ty đợc niêm yết
tại thị trờng giao dịch chứng khoán còn ít. (Cuối năm 2003 có 100 loại trái
phiếu chính phủ, 2 loại trái phiếu Công ty và 1 loại trái phiếu địa phơng đợc
giao dịch và niên yết). Trong số các trái phiếu kho bạc đang lu hành, chỉ có
trái phiếu kho bạc thời hạn 5 năm đợc niêm yết tại TTGDCK. Cha có trái
phiếu công trình nào đợc niêm yết và giao dịch tại thị trờng giao dịch tập
trung. Trên TTGDCK, trái phiếu ít đợc giao dịch hơn cổ phiếu. Các giao dịch
trái phiếu chỉ chiếm khoảng trên dới 10% tổng số các giao dịch trên thị
trờng này. Phần lớn các loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty đợc
giao dịch trên thị trờng phi chính thức. Hiện tại, Việt Nam còn thiếu nhiều
điều kiện để phát triển thị trờng trái phiếu công ty (ngay ở nhiều nớc
ASEAN thị trờng này cũng còn nhỏ bé và còn nhiều khiếm khuyết).
2. Các điều kiện và giải pháp phát triển hoàn thiện từng thị trờng.
Phát triển và hoàn thiện TTTC là một quá trình liên tục, lâu dài và đòi
hỏi phải thực thi rất nhiều giải pháp đồng bộ. Để thị trờng tài chính phát triển
đồng bộ, lành mạnh cần phải bảo đảm các điều kiện thiết yếu nh:
* Các điều kiện để phát triển TTTC:
- Các công cụ tài chính và các định chế tài chính phải đa dạng, phong
phú, trong đó có sự tham gia của nhiều định chế tài chính lớn, có uy tín, có vai
trò đặc biệt quan trọng.
- Phải có một cơ chế lãi suất và tỷ giá đủ linh hoạt, phản ánh đúng quan
hệ thị trờng.
- Xây dựng và phát triển mạng lới thông tin, đảm bảo hệ thống thông
tin minh bạch, đầy đủ và kịp thời.
- Hệ thống pháp luật hành chính, có hiệu lực, bảo vệ đợc quyền lợi của