!"" #$
%&'(%)*+#,*-./*-'01*-.2134*+567*-'+-8*'
%&
9:*+.;<=>6?
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
@ @ # "
Lớp: <
"AB
Đầu tiên cho phép em được gửi lời chào Ban giám hiệu tới nhà trường, Khoa Lữ
Hành - Hướng Dẫn cùng cô giáo bộ môn Nguyễn Thị Thu Hương - người đồng hành và
giúp đỡ chúng em trên mọi nẻo đường trên tuyến hành trình khám phá Miền Bác 6 ngày 5
đêm lần này.
Thưa quý thầy cô trong mỗi cuộc hành trình chúng ta đi qua thì cuộc hành trình nào
nó cũng để lại cho chúng ta những ấn tượng sâu sắc, những kỉ niệm đẹp và những bài
học quý báu. Không ai có thể chắc chắn được rằng chuyến hành trình của mình sẽ hoàn
toàn tốt đẹp mà không có 1 sai xót nào. Trong chuyến đi này cũng vậy, nó vẫn còn đó
những điều thiếu xót cần được sửa chữa và những kinh nghiệm cần phải học tập và nó
thật sự thực sự bổ ích đối với chúng em. Được sự đồng ý của nhà trường, sự quan tâm
giúp đỡ của của khoa Lữ hành – Hướng dẫn mà lớp chúng em đã thực hiện được 1
chương trình tham quan rất thành công và đầy ý nghĩa.
Dưới đây là bài báo cáo của em về chuyến tham quan mà chúng em đã thực hiện.
Những điều làm được và những điều chưa làm được từ ngày 28/8/2014 – 02/09/2014.
Trong bài báo cáo này em sẽ trình bày rõ và đầy đủ những thông tin mà thầy cô giáo
đang quan tâm về chuyến đi mà lớp chúng em đã thực hiện,từ công tác chuẩn bị cho tới
khi thực hiện. Và dưới đây là bài báo cáo của em.
C
'(#'D'0 ' #'E '(
"FDG
Sáng:
6h: Dự lể chào cờ tại quãng trường Ba Đình
7h30: Xem tư liệu về những ngày cuối đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
8h: viếng lăng chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan Phủ chủ tịch - nhà 54, nhà sàn- ao
cá , nhà 67 bảo tàng hồ chí Minh và chùa Một Cột.
10h: khảo sát Văn Miếu – Quốc Tử Giám đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc
12h: ăn trưa tại Hà Nội
Chiều
Tối tự do khám khá Hà Nội
Ngày 4: Hà Nội – Hải Dương – Quảng ninh
Sáng
|5h30: Đi Quảng Ninh
Ăn sáng ở Hải Dương
8h30: Thăm Côn Sơn ở tình Hải Dương
10h: Đi Hạ Long
12h: Ăn trưa taị nhà hàng 61 Hạ Long
Chiều
1h30: Lên thuyền tham quan vịnh Hạ Long
17h: Tự do ăn tối
18h: Khảo sát các dịch vụ tại đảo Tuần Châu
22h: Nghỉ đêm ờ Hạ Long
Ngày 5: Quảng Ninh- Nam Định – Ninh Bình- Vinh
5h30: Ăn sáng trả phòng
9h30: Tham quan đền Trần . Nam Định
12h: Ăn trưa ở Ninh Bình
Chiều
17h: Nhận phòng khách sạn Beijing Vinh
Ngày 6: Vinh – Huế
Sáng
6h: Ăn buffet sang trả phòng
= 3449300 / 1SV
G 0MN-56O%5*
1. Phong Nha: 80.000 * 20 = 1.600.000
2. Tam Cốc-Bích Động: 80.000 * 22= 1.760.000
3. Đền vua Đinh vua Lê: 10.000 * 18 = 180.000
4. Văn miếu: 10.000 * 22 = 290.000
5. Côn Sơn: 10.000 * 11 = 110.000
6. Mộ Nguyễn Du: 5000 * 13 = 65.000
7. Hạ Long: 220.000 * 22 = 4.840.000
8. Tuần Châu: 180.000
G -%;P*N-56O%5*
1. Thuyền Phong Nha: 320.000 *2 = 640.000
2. Thuyền Tam Cốc - Bích Động : 100.000 * 6 = 600.000
3. Thuyền Hạ Long:
G Q%NRS
1. Beijing Vinh : (480.000 * 6) *2 = 5.760.000
2. Đặng Anh Hà Nội: ( 500.000 * 7) * 2 = 7.700.000
3. Nhà Nghỉ Hạ Long: 280.000 * 6 = 1.680.000
0G T*RQ5C
1. Nhà hàng Sơn Đòng: 70.000*22 = 1.540.000
2. Trưa ngày 2: 1.540.000
3. Ngày 3: 100.000 * 22 = 2.200.000
4. Ngày 4: hạ Long: 80.000 * 22 = 1.760.000
5. Ngày 5: ăn Thanh Hóa: 1.400.000
6. Ngày 6: Hà Tĩnh: 50 * 22 = 1.100.000
0G T*NU1C
1. Beijing: 1.760.000
2. Ngày 2: 1.200.000
3. Ngày 3 : 80.000 * 22 = 1.760.000
4. Ngày 4: 50.000 * 22 = 1.100.000
quan thật vui vẻ và có nhiều điều tú vị.
Kính thứ quý khách :xe của đoàn chúng đang đi trên đường quốc lộ 1 A đường Lê
Duẩn đi từ Huế ra Bắc,đang chuẩn bị đi ngang qua cầu An Hòa nơi đây có cống chém
ngày xưa là pháp trường sử trảm những kẻ can án theo chế độ phong kiến .Chính nơi đây
cũng là nơi chôn cất rất nhiều nghĩa sĩ yêu nước tiêu biểu có Trấn Cao Vân và Thái
Phiên.Bây giời xe của đoàn chúng ta đang chuẩn bị đi ngang qua cầu An Lỗ rẽ về phía
tay phải là đường về sịa còn rẽ về phiá tay trái của quý khách là đường vaò suối nước
nóng thanh tân spa từ đường quốc lộ vào suối nước nóng khoảng 30 km.Suối nước nóng
là nơi vui chơi giải trí tắm và có thể ngâm mình trong những bể tắm nước nóng hoặc
nước mát Bây giờ xe của đoàn chúng ta chuẩn bị đi vào thị trấn phong điền và khi nhắc
đến thị trấn phong điền thì chắc ai cũng nghĩ đến phá tam giang cầu hai trãi dài từ sông ô
lâu đến sông Hương và thuộc địa phận 3 huyện Phong Điền Quảng Điển Hương Trà.
Ngày xưa Phá Tam Giang 2 bên là đầm lầy nên thường có cướp nên thương em
cũng muốn vô nhưng cũng sợ là vì vậy.Nhưng ngày này người con gái xứ Huế đã đạp lại
rằng “Phám Tam Giang ngày nay đã cạn,Truông nhà hồ nội tán dẹ yên.Thương em anh
hãy vô liền .Cơm áo của tiền ở Huế thiếu chi.Học trò xứa quảng ra thi.Thấy cô gái huế
chân đi không rời”.
Vâng thưa quý khách:Huế còn có một ngôi làng rất nổi tiếng mà nhiều khách du
lịch đã đến rất nhiều đó là làng cổ Phước Tích.Nằm ngây bền bờ sông ô lâu nổi tiếng là
làng nghề gốm phước tích đã trãi qua nhiều thời kỳ nhưng sản phẩm của làng nghề gốm
phước tích đã có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân ở mọi vùng miền và đặc
biệt hơn sản phẩm của làng gốm phước tích là một trong những sản phẩm đã được đưa
vào trong các bữa ăn của vua chúa thời nhà nguyễn nên người dân đã có những câu thơ
như là:”om phước tích ngon cơm hoàng đế.Sen hà trì quý thể phú xuân”.Làng gốm phước
tích đã được bộ văn hóa thể thao du lịch xếp hạn di tích cấp quốc gia quý khách hãy nhìn
về phía tay phải của khách đó chính là con đường đi vào làng gốm phước tích.
Bây giờ xe của đoàn chúng ta đi trên cây cầu có tên gọi là cầu mỹ chánh đây là
ranh giới giữa quảng trị và huế từ mỹ chánh vào quảng trị còn độ khoảng 20 km quảng trị
là nơi từng giao tranh quyết liệt,là nơi trường tích với biệt danh là mùa hè đỏ lửa vào
1972 .Ở đây được coi là nghĩa trang không nấm mồ,nghĩa trang của những người lính đã
nổi dah với câu “nhất huế nhì sịa”đã từ lâu hình thành và tồn tại ở đây những van chài
như những ngôi làng trên mặt nước ven sông phá tam giang.Cúng bởi vì những giá trị
văn hóa sông nước nên đã xây dựn bảo tàng văn hoă sông nước ở huyện quảng điền
((#
Xe chúng ta đang di chuyển trên địa phận của tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị là tỉnh
thuộc vùng bác trung bộ việt nam .Phía bắc giáp với Tinh quảng bình , phía nam giarp
với thừa thiên huế ,phía đông giáp với biển đông , phía tây giáp với lào.QT nằm trên trục
giao thông quan trọng xuyên bắc –nam cả đường bộ và đường sắt lại nằm trên tuyến
đường 9 chạy theo hướng đông – tây nối QL 1A với cưa khẩu La Bảo sang lào .Tỉnh
Quảng Trị nằm ở phần eo của lãnh thổ VN hình chữ S. Trung tâm hành chính của tỉnh
QT là thành phố Đông Hà. Quảng Trị nằm trên các trục giao thông quan trọng của quốc
gia, và nằm ở QL 9 trên tuyến hành lang kinh tế đông tây qua cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo.
Vì thế rất thuận lợi cho các ngành giao thông, thương mại, dịch vụ và hợp tác đầu tư của
các nước ASIAN
Nơi đây có con sông Bến Hải- cầu Hiền Lương là giới tuyến chia cắt giữa 2 miền
Nam Bắc trong suốt 20 năm từ 1954-1975. Sau hiệp định Gionevo , sông Bến Hải được
chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời. Tỉnh quảng trị tạm thời chia cách 2 vùng . Vùng
bờ nam sông Bến Hải do chính quyền VN cộng hòa quản lí ,vùng Bờ Bắc vĩ tuyến 17 do
nhà nước VN dân chủ cộng hòa quản lí được thành lập đặc khu Vĩnh Linh. Sau hòa bình,
BÌNH-TRỊ-THIÊN đến năm 1989 thì chia lại 3 tỉnh trở về như cũ. Và hiện nay tỉnh
quảng tri phát triển rất nhiều mặt. Và trên địa phận tỉnh QT có rất nhiều khu di tích , di
tích lịch sử mà đoàn chúng ta phải đi ngang qua.
Nhìn về phía bên tay trái của đoàn chúng ta đó chính là Thánh Địa La Vang đi vào
khoảng 40km là đến. Đây là nhà thờ tôn nghiêm của người VN .Họ tin rằng Đức Mẹ
MARIA đã hiện ra ở nhà thờ này vào năm 1798 và được tòa thánh VANTICAN phong là
“Tiểu Vương Cung Thánh Đường La Vang” có rất nhiều cách giải thích cho tên gọi La
Vang này: Theo như truyền thuyết, dưới thời vua Cảnh Thịnh có chế độ chống đạo tôn
giáo nên để tránh sự trần phạt của nhà TÂY SƠN nên người dân đã kéo lên đây và lúc
trước đây là vùng đất hẻo lánh để thuận lợi cho sự liên lạc với nhau nên người ta đã la to
và khi la to thì có tiếng vang nên từ đó đã có tên La Vang ra đời. Và cũng có thêm 1 giả
rằng:
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi đôi mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm
D FD
Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi quy tập phần mộ các liệt sĩ trên tuyến
đường Trường Sơn, còn đường gọi là đường mòn Hồ Chí Minh, dùng để tôn vinh những
chiến sĩ đã hi sinh trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước trong những năm chiến tranh
thống nhất đất nước.
Nghĩa trang được xây dựng tại khu vực Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa
phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách thành phố Đông Hà, tỉnh lỵ của tỉnh Quảng
Trị khoảng 38 km về phía tây bắc, cách quốc lộ 1A (đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh)
chừng hơn 20 km về phía tây bắc. Nghĩa trang có diện tích 140.000m², nằm trên 3 quả
đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranh giới cắt chia hai miền Bắc - Nam
thời kháng chiến chống Mỹ. Đây là nơi Bộ tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn đã chọn. Đây
là một trong 72 nghĩa trang liệt sỹ của tỉnh Quảng Trị.
Mộ bắt đầu được quy tập tại đây từ cuối năm 1974. Nghĩa trang được xây dựng từ
ngày 24/10/1975 và hoàn thành ngày 10/4/1977, đây là nghĩa trang có quy mô lớn nhất
Việt Nam, có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống đa phần nghĩa trang liệt sĩ khác ở
Việt Nam. Khu trung tâm nằm trên một ngọn đồi cao 32,4m có đài tưởng niệm bằng đá
trắng cao vút uy nghiêm, rỗng ruột và khuyết ba mặt, thể hiện nỗi mất mát vô cùng. Bốn
khu đặt mộ liệt sĩ được xếp theo tỉnh, thành phố trải trên năm quả đồi. Xen kẽ các khu mộ
là những cánh rừng. Lối đi được lát đá, gạch hoặc tráng xi măng, hoa nở bốn mùa hai
bên. Mỗi khu đều có nhà tưởng niệm với kiến trúc phảng phất hình ảnh các vùng quê đất
nước. Đây là khu an nghỉ của 10333 anh hùng liệt sĩ. Vào ngày 19 tháng 5 năm 1999
nhân kỉ niệm 40 năm ngày thành lập binh đoàn Trường Sơn. Chính phủ nhà nước quyết
định nâng cấp và tân trang khu liệt sĩ để một phần nào thể hiện lòng biết ơn đối với
những người đã khuất, đã hy sinh vì đồng bào tổ quốc.
Tại thời điểm tháng 4 năm 2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chia thành 10 khu
chuyển tiếp là những dạng khác nhau xen giữa các núi đá vôi.
Nằm trong vùng có lượng mưa trung bình hàng năm khá cao nhưng nước ở đây đã
ngấm và chảy ngầm trong lòng các núi đá vôi, trải qua hàng chục triệu năm đã tạo nên vô
số hang động ở khu vực này. Tại Phong Nha - Kẻ Bàng có khoảng 300 hang động lớn
nhỏ được chia thành ba hệ thống chính: hệ thống động Phong Nha, hệ thống hang Vòm
và hệ thống hang Rục Mòn.
Hệ thống động Phong Nha có tổng chiều dài trên 57km bắt nguồn từ phía nam của
vùng núi đá vôi Kẻ Bàng. Cửa chính của hệ thống động này là động Khe Ry và động Én
nằm ở độ cao khoảng 300m so với mặt nước biển. Các hang trong hệ thống này phân bổ
theo dạng cành cây chạy theo hướng đông bắc – tây nam.
Hệ thống hang Vòm có tổng chiều dài trên 35km bắt nguồn từ hang Rục Cà
Roòng, nằm ở độ cao 360m so với mặt nước biển và kết thúc là hang Vòm. Hệ thống
hang Vòm nằm trên trục có hướng chung là nam – bắc. Sông Rục Cà Roòng lúc ẩn mình
trong núi đá, lúc lại xuất hiện trên những thung lũng hẹp và sâu, cuối cùng đổ ra sông
Chày ở cửa hang Vòm.
Hệ thống hang Rục Mòn nằm ở địa phận huyện Minh Hóa cũng là một trong
những hang động lớn nhưng chưa được khai thác nhiều.
Một số hang động tiêu biểu ở Phong Nha – Kẻ Bàng là động Phong Nha, động
Tiên Sơn, động Thiên Đường, hang Tối, hang Én, hang Khe Ry, đặc biệt hang Sơn
Đoòng được đánh giá là hang động lớn nhất thế giới với chiều cao khoảng 200m, có nơi
lên đến 250m, rộng 200m, chiều dài ít nhất là 8,5km.
Với đặc điểm về địa hình, khí hậu, đất đai, thủy văn của Phong Nha – Kẻ Bàng đã
hình thành hệ thực vật phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết quả hoạt động điều tra, khảo
sát đã ghi nhận Phong Nha – Kẻ Bàng có thảm rừng nhiệt đới rộng lớn, phủ kín 96,2%
diện tích tự nhiên, trong đó gần 90% diện tích được che phủ bởi rừng nguyên sinh hoặc
gần như rừng nguyên sinh. Sự phong phú, đa dạng về thành phần, chủng loại động thực
vật quý hiếm ở Phong Nha – Kẻ Bàng là hệ quả tất yếu của điều kiện sinh cảnh và là đặc
trưng tiêu biểu về sinh thái rừng tại đây.
Bước đầu ở Phong Nha – Kẻ Bàng đã điều tra và thống kê về thực vật có mạch
gồm 152 họ, 511 chi, 876 loài, trong đó có 38 loài nằm trong danh mục Sách Đỏ Việt
tháng 10 năm 1968, Ngã ba Đồng Lộc phải gánh chịu gần 50.000 quả bom các loại, bình
quân mỗi 1m2 đất nơi đây phải gánh chịu trên 3 quả bom, đất đá bị cày đi xới lại, hố bom
chồng lên hố bom.
Tại chiến trường Ngã ba Đồng Lộc lúc bấy giờ có nhiều lực lượng như: Bộ đội,
Thanh niên xung phong, công nhân giao thông, công an, dân quân du kích… làm nhiệm
vụ cảnh giới, giải tỏa giao thông, san lấp hố bom, phá bom nổ chậm đảm bảo an toàn cho
người và hàng hóa chi viện vào chiến trường Miền Nam.
Để giữ cho mạch máu giao thông từ Bắc vào Nam được thông suốt, biết bao nhiêu
xương máu của các chiến sỹ và nhân dân đã đổ xuống. Trong đó phải kể đến sự hy sinh
anh dũng của tiểu đội 10 cô gái TNXP thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55. Trưa
ngày 24 tháng 7 năm 1968, một ngày như mọi ngày, 10 chị ra đường làm nhiệm vụ. Đến
16 giờ 30 phút, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc, 1 quả bom đã nổ gần
căn hầm chữ A, nơi 10 chị đang tránh bom, làm sập hầm và tất cả 10 chị đã hy sinh khi
tuổi đời còn rất trẻ. Người trẻ tuổi nhất là 17 tuổi, ba người chị lớn tuổi nhất cùng 24
tuổi Ngày nay, Khu di tích TNXP Ngã ba Đồng Lộc đã và đang được đầu tư xây dựng
ngày một khang trang, nhiều công trình kiến trúc đặc biệt được xây dựng như: Khu mộ
10 nữ TNXP, Nhà bia tưởng niệm TNXP toàn quốc, Sa bàn chiến đấu, Nhà bảo tàng,
Tháp chuông Đồng Lộc và nhiều công trình văn hóa tâm linh khác đang được đầu tư xây
dựng.
Khu di tích TNXP Ngã ba Đồng Lộc là địa chỉ đỏ giáo dục đạo đức truyền thống,
cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, là điểm du lịch tâm linh thu hút được sự
quan tâm của đồng bào cả nước và du khách quốc tế.
Giờ đây chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống đã hồi sinh ngay trên tọa độ chết năm
xưa, thời gian có thể khiến cho người ta quên đi bao nhiêu ngã ba trong cuộc đời nhưng
khó có ai một lần đi qua mà có thể quên được Ngã ba Đồng Lộc. Sự hy sinh anh dũng
của Mười cô gái TNXP Ngã ba Đồng Lộc cùng với hàng trăm, hàng ngàn các anh hùng
liệt sĩ khác sẽ còn vang vọng mãi đến mai sau. Hình ảnh Ngã ba Đồng Lộc quật khởi
vươn lên giữa mưa bom lửa đạn còn ghi đậm mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt
Nam và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
FJi0
nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh.
Từ năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh
"Nghệ Tĩnh".
Qua đó , chúng ta cũng thấy được sự thay đổi tên gọi của tỉnh Nghệ An rất phức
tạp .
Nhưng từ năm 1991 thì tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh . Và
tên gọi Nghệ An cũng bắt đầu từ năm đó cho đến bây giờ.
Chúng ta cùng nhìn lại lịch sử của tỉnh Nghệ An một chút nhé.
Cũng như mình đã giới thiệu thì trước thời Hùng Vương, vùng Nghệ An và Hà
Tĩnh là nước Việt Thường, kinh đô là vùng chân núi Hồng Lĩnh. Đến thời Hùng
Vương nước Việt Thường bị sát nhập thành bộ thứ 15 của Văn Lang.
Từ thế kỷ thứ VIII, Mai Hắc Đế đã phất cao cờ nghĩa, xây thành Vạn An ở Sa
Nam (Nam Đàn) để chống lại ách thống trị của nhà Đường.
Năm 1285, trước họa xâm lăng của quân xâm lược Nguyên Mông, vua Trần Nhân
Tông đã dựa và nguồn nhân lực hùng hậu của vùng đất này.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, năm 1424, Lê Lợi tiến
quân vào xứ Nghệ An lập đại bản doanh ở đây 4 năm.
Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ trên đường hành quân cấp tốc ra Bắc để đánh đuổi
29 vạn quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, ông đã dừng lại ở Nghệ An tuyển thêm 5
vạn quân sĩ.
Những tân binh này được tổ chức thành cánh Trung quân, do Quang Trung trực
tiếp chỉ huy, đã hăng hái thần tốc tiến ra Thăng Long, góp phần làm nên chiến công vang
dội ở Ngọc Hồi, Đống Đa giữa tết năm Kỷ Dậu (1789).
Trong buổi đầu chống thực dân Pháp, dưới ngọn cờ của tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn
và Phó bảng Lê Doãn Nhạ, nhân dân Nghệ An đã dấy lên một trong trào kháng Pháp
mạnh mẽ, đứng hàng đầu trong cả nước.
Đầu thế kỷ XX xuất hiện Phan Bội Châu, một con người đầy nhiệt huyết yêu
nước, đã bôn ba hải ngoại, với khát vọng tiếp thu cái hay, cái mới, hy vọng cứu nước
thắng lợi.
Cùng với Hà Tĩnh, Nghệ An là nơi ghi dấu ấn đầu tiên của truyền thống đấu tranh
chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí,
sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa,
giấy Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm
2011, tỉnh Nghệ An xếp ở vị trí thứ 49/63 tỉnh thành.
Ngoài ra thì Nghệ An rất phát triển về du lịch có bãi tắm Cửa Lò là khu nghỉ mát;
Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu - một bãi biển hoang sơ và lãng mạn; khu
di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông. Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa
vào khai thác.
Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội
Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng
lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ
hội làng Vạn Lộc, làng Sen. Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ
Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần.
Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng
cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ
An phát triển.
Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần 200 di
tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của Hồ
Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt nhân dân và du khách đến tham quan nghiên
cứu.
Khu di tích lịch sử Kim Liên, cách trung tâm thành phố Vinh 12 km về phía Tây
Nam, là khu di tích tưởng niệm Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Nơi đây
gắn với thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu
bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình.
Làng Sen, quê nội của Hồ Chí Minh, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng). Làng
có nhiều hồ thả sen suốt hai bên đường làng. Ngôi nhà của Hồ Chí Minh sống thuở nhỏ
dựng bằng tre và gỗ, 5 gian, lợp tranh. Trong nhà có những đồ dùng giống như các gia
đình nông dân: phản gỗ, chõng tre, cái võng gai, bàn thờ Nhà được dựng năm 1901 do
công sức và tiền của dân làng góp lại làm tặng ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Hồ
Chí Minh khi ông Sắc đỗ Phó Bảng đem lại vinh dự cho cả làng.
địa chỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách.
j
Diễn Châu (Nghệ An) được biết đến không chỉ là nơi sản sinh ra nhiều nhân vật
lịch sử nổi tiếng như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Xuân Ôn, Đặng Văn Thụy, Cao Xuân
Dục mà còn là vùng đất có nhiều di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh. Theo thống
kê trong số 91 di tích lịch sử văn hóa thì đã có tới 13 di tích được công nhận là di tích
lịch sử cấp quốc gia. Một trong số các di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng là Đền Cuông nơi
gắn liền với Thục An Dương Vương – vị vua huyền thoại của lịch sử dựng nước thời xa
xưa.
Đền Cuông thuộc địa bàn xã Diễn An, huyện Diễn Châu, cách thành phố Vinh
khoảng 30 km về phía Bắc, nằm trên núi Mộ Dạ, một ngọn núi thuộc dãy Đại Hải, cận kề
quốc lộ 1A. Đền Cuông là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng, đồng thời
cũng là một danh thắng nổi tiếng – nơi kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và cảnh sắc thiên
nhiên như thể đã có một sự thỏa thuận trước giữa tạo hóa và bàn tay con người.
Nhìn về tổng thể kiến trúc Đền Cuông được xây dựng theo kiểu chữ "Tam". Trải
qua hàng nghìn năm, tam quan hiện nay đã chằng chịt rễ cây si leo bám, càng tạo nên nét
cổ kính cho ngôi đền. Tòa trung điện theo kiểu chồng diêm 8 mái, các tòa khác trong đền
đều có kiến trúc 4 mái, đầu đao cong vút. Các công trình đều đồ sộ, cột to, tường dày
vững chắc nhưng không thô vì các chi tiết, hoa văn được đắp, chạm tinh tế, mà lại toát
lên vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát. Thượng điện đặt ban thờ Thục An Dương Vương, qua
khoảng sân hẹp sang trung điện đặt ban thờ Cao Lỗ, tướng giúp vua chế tác nỏ thần. Đền
Cuông có nhiều di vật quý: trống, chiêng, tượng thờ, đồ tế khí Nơi đây còn lưu giữ
nhiều tư liệu bằng chữ Hán trên các bức hoành phi, cột, trụ biểu nhắc nhở con cháu,
muôn dân luôn nhớ ân đức Thục An Dương Vương.
Đền Cuông được xây dựng trên một vị trí thông thoáng, giàu chất sử thi. Trên núi
Mộ Dạ ngày nay là cả một cánh rừng thông bạt ngàn. Sau núi là biển cả mênh mông,
ngày đêm rì rào sóng vỗ. Ở phía Bắc chân núi là cửa Tư Hiền gắn với sự kiện bi hùng của
đất nước - nơi cha con Thục An Dương Vương trên đường chạy giặc gặp bước đường
cùng đã được Rùa Vàng hiển linh rẽ sóng mở đường cho vua cha về với biển. Tục truyền
ở trên núi này có hơn 50 tướng sĩ của vua Thục trong bước đường cùng đã tuẫn tiết ở
thi nét đẹp Đền Cuông, bóng bàn, kéo co, chọi gà, leo núi
Người dân Diễn Châu cũng như người dân khác trong tỉnh và cả nước đến với lễ
hội Đền Cuông không chỉ là dịp cầu phúc cầu tài mà còn là dịp để lòng người ghi nhớ
đoạn kết của câu chuyện Loa Thành: An Dương Vương đem công chúa Mỵ Châu trốn kẻ
thù, tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhận ra sự thật, vua chém con gái yêu rồi theo thần Kim
Quy đi về phía biển… Truyền thuyết và lịch sử, thực và hư, những dấu tích đã rêu phong,
đã hoen mờ cùng thời gian, chỉ còn lại đó là một Đền Cuông linh thiêng và lòng ngưỡng
vọng của nhân dân cũng đủ để rút ra bao điều đáng chiêm nghiệm…
Đến với lễ hội Đền Cuông du khách còn có thể đi thăm các chứng tích, nhất là các
địa danh như núi Kiếm, núi Đầu Cân ở xã Nghi Thiết (Nghi Lộc), núi Mụa (núi Mũ) ở xã
Diễn Phú, núi Mã Yên (Yên Ngựa) ở xã Diễn Thọ (Diễn Châu) Đến với Đền Cuông là
đến với một danh thắng có nhiều phong cảnh đẹp, đắm trong huyền thoại thiêng liêng
đậm chất bi hùng lịch sử. Đó cũng là cách trở về cội nguồn, được hòa mình vào hồn
thiêng sông núi của nước non Âu Lạc.
Tài liệu xưa cho rằng, tên Đền Cuông do ngày xưa trên núi Mộ Dạ có nhiều chim
công, tiếng địa phương gọi là cuông, từ đó hình thành nên tên Đền Cuông. Truyền thuyết
về Đền Cuông thì vô số, nhưng phổ biến nhất có lẽ là câu chuyện về An Dương Vương.
Sau khi lên ngôi, An Dương Vương đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc, dời đô từ
Phong Châu về Cổ Loa, trị vì đất nước trong 50 năm (từ năm 257 đến năm 208 TCN).
Năm 208 TCN, do mất cảnh giác, Thục An Dương Vương bị Triệu Đà đem quân bất ngờ
tấn công, phải rút lui về phương Nam và tuẫn tiết tại Cửa Hiền, phía Bắc chân núi Mộ
Dạ.
Để tưởng nhớ công ơn của Thục An Dương Vương, nhân dân vùng Diễn Châu đã
lập miếu thờ ngài ở Cửa Hiền. Ở đó còn có ngôi mộ công chúa Mỵ Châu. Chuyện kể
rằng, tuy đã có miếu thờ, nhưng mỗi khi màn đêm buông xuống, có những đốm lửa lập
lòe trên sườn núi Mộ Dạ, nhiều người cho đó chính là linh hồn của vua Thục muốn yên
ngự trên sườn núi nên đã lập đền thờ và rước linh hồn Ngài về đó thờ phụng.
Ðền Cuông là một di tích lịch sử được Nhà nước xếp hạng và cũng là một danh
thắng mà bất cứ ai đã đến sẽ khó quên bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và cảnh sắc
thiên nhiên. Kiến trúc đền theo kiểu chữ “Tam”. Thượng điện đặt bàn thờ Thục An
sự trùng lặp kỳ lạ đầy bí ẩn.
Mối tình và sự kết thúc của một triều đại
Thục phán An Dương Vương nổi tiếng với tài binh lược và đặc biệt gắn liền với
ông là ngôi thành Cổ Loa huyền thoại. Không chỉ vậy, ngôi thành này còn gắn liền với vị
thần Kim Quy và cái nỏ thần. Bắt đầu từ đó, đất nước Âu Lạc thời bước vào thời kỳ hưng
thịnh và không lo nạn giặc ngoại xâm. Vào cuối đời Tần, Triệu Đà gốc Hán chiếm cứ Uất
Lâm (Quý Huyện – Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Châu – Quảng Tây), Tượng Quận
(Quảng Tây), lập nước Nam Việt, xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung. Triệu Đà mang
mộng xâm lấn mở mang bờ cõi nên y nhiều lần đem quân nhằm thôn tính nước Âu Lạc,
thế nhưng mấy lần đem quân sang đều bị thất bại bèn lập kế cầu hòa.
Thục An Dương Vương không những chấp nhận mà còn gả con gái yêu là Mỵ
Châu cho Trọng Thủy, con trai vua Triệu Đà. Sau khi được “nhạc phụ” tin tưởng, Trọng
Thủy bắt đầu ý đồ ăn cắp lẫy nỏ thần và báo về cho vua cha. Có lẫy nỏ thần trong tay,
chắc thắng sẽ đánh bại Âu Lạc, Triệu Đà hí hửng cất quân đánh. Do chủ quan có nỏ thần
hộ mệnh, giặc đến sát chân thành mà quân Thục vẫn đủng đỉnh không thèm nghênh
chiến, nên thua to. Mất thành, An Dương Vương cùng con gái chạy vào Nghệ An lánh
nạn.
Một số sách sử Nghệ An chép rằng: Sau khi cùng Mỵ Châu lên ngựa phóng về
phương Nam, tới nơi bờ biển chắn ngang, đường bị cắt đứt, đò giang không thấy bóng
người, An Dương Vương kêu lên rằng: “Trời đã bỏ ta, hỡi sứ giả đại giang mà ta đã gặp,
hãy cứu ta!”. Từ mặt nước, thần Kim Quy nhô lên và nói: “Bệ hạ đang mang theo kẻ thù
trên lưng ngựa. Cớ sao còn để làm gì?”. Thục An Dương Vương rút kiếm định chém đầu
Mỵ Châu, thì nàng khẩn khoản lạy thưa: “Nếu vì lòng phản bội mà hại phụ vương thì sau
khi chết con sẽ trở thành cát bụi. Nhưng có hiếu nghĩa mà chết oan, thì con sẽ trở thành
ngọc quý…”. Vừa dứt lời, An Dương Vương chém Mỵ Châu. Nàng nằm sóng soài trên
cát trắng, máu nàng chảy xuống biển, những con trai hớp được, cô lại trong lòng thành
ngọc quý lấp lánh kỳ diệu. Những sự kiện trên diễn ra ở núi Mộ Dạ, tống Cao Xá, phủ
Diễn Châu.
Như vậy, có thể thấy, dòng truyền thuyết về An Dương Vương trên mảnh đất
Nghệ An đã thu hút không chỉ những câu chuyện về các nhân vật chính trong truyền
khu vực Nam Bắc Bộ, thành phố Thanh Hóa nằm hai bên bờ sông Mã hùng vĩ, phía bắc
và đông bắc giáp huyện Hoằng Hóa, phía nam và đông nam giáp huyện Quảng Xương,
phía tây giáp huyện Đông Sơn, phía tây bắc giáp với huyện Thiệu Hóa. Thị xã Thanh
Hóa trở thành thành phố Thanh Hóa năm 1994. Thành phố Thanh Hóa hiện nay có diện
tích tự nhiên 146,77 km² với 20 phường và 17 xã, dân số 393.294 người và thành phố đã
trở thành một trong những đô thị lớn nhất của khu vực phía bắc về dân số.
Hệ thống đô thị Thanh Hóa hình thành từ lâu đời và có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Trong đó, thành phố Thanh Hóa là đô thị trẻ, nằm hai bên bờ sông Mã, có vị trí,
cảnh quan sinh thái rất thuận lợi, khí hậu khá ôn hòa.
Quốc lộ 1A xuyên Việt chạy qua địa giới hành chính thành phố dài gần 20 km,
cảng Lễ Môn, Sầm Sơn ở phía Ðông, đường sắt Bắc - Nam chạy ở phía Tây, tạo thành
một mạng lưới giao thông đa dạng và thuận tiện. Nhờ đó, thành phố Thanh Hóa đã trở
thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời ở vào vị thế
thuận lợi trong việc giao thương với tất cả các tỉnh trong nước.
Thành phố Thanh Hóa là cầu nối giữa Bắc bộ với Trung bộ, là đô thị có vai trò
quan trọng về an ninh, quốc phòng, được định hướng để trở thành một trong những trung
tâm tài chính, du lịch, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe của vùng phía nam Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ, thành phố đang cố gắng trở thành đô thị loại 1 vào năm 2014.
Thành phố Thanh Hóa nằm ở trung tâm đồng bằng Thanh Hóa, có nhiều núi đất,
núi đá nằm rải rác với những cánh đồng rộng - hẹp, nông - sâu.
Núi:
+ Hàm Rồng: Chạy từ làng Dương Xá xã Thiệu Dương, men theo hữu ngạn sông Mã về
đến chân cầu Hàm Rồng. Núi Hàm Rồng vừa dài vừa uốn lượn,đến khúc cuối thì phình to
ra như một cái đầu có miệng khổng lồ, vì thế, dân gian đặt tên là núi Hàm Rồng. Núi
Hàm Rồng nằm án ngữ cửa ngõ phía Bắc thành phố, theo tương truyền, núi Hàm Rồng có
99 đỉnh. Đặc điểm địa hình độc đáo đã vô tình tạo nên một cứ điểm phòng không vững
chắc góp phần tạo ra huyền thoại về chiếc cầu Hàm Rồng không thể bị đánh sập trong
chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
+ Núi Mật Sơn: Là núi sót thấp nằm trên địa phận phường Đông Vệ.
Sông:
biệt là khu di tích văn hóa - làng cổ Đông Sơn với trống đồng Đông Sơn nổi tiếng.Hiện
nay Khu Du lịch Văn Hóa Hàm Rồng đang chuẩn bị khánh thành Đền thờ Các Bà mẹ
Việt Nam anh hùng và các anh hùng liệt sỹ, đây là một công trình tâm linh vô cùng ý
nghĩa, đồng thời tạo địa điểm tham quan du lịch trong tổng thể Khu Du lịch văn hóa lịch
sử Hàm Rồng. .Trong Khu du lịch Văn hóa Hàm Rồng còn có Thiền viện Trúc Lâm
Hàm Rồng cũng đang được xây dựng,là công trình không chỉ để đáp ứng nhu cầu tâm
linh, tín ngưỡng của nhân dân, mà còn góp phần thực hiện thành công dự án( Khu du lịch
văn hóa Hàm Rồng) nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần cải thiện, nâng
cao đời sống nhân dân.
- Phía Nam thành phố là khu di tích thắng cảnh đẹp mà trung tâm là núi Mật Sơn
có các hòn non bộ bao quanh như núi Long, núi Hổ, núi Vọng Phu, và các di tích lịch
sử khác như chùa Đại Bi, và đặc biệt là Thái Miếu nhà Lê - một di tích lịch sử văn hóa
quốc gia mang nhiều dấu ấn dân tộc.
- Trung tâm thành phố Thanh Hoá là Bảo tàng lịch sử, giới thiệu cho du khách đến
tham quan những khái niệm chung nhất về lịch sử Việt Nam và diện mạo văn hóa đặc sắc
của tỉnh Thanh Hoá.
- Xung quanh thành phố là các điểm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng của Thanh Hoá
như khu du lịch bãi tắm Sầm Sơn, rừng quốc gia Bến En, thành nhà Hồ hoặc khu di tích
lịch sử Lam Kinh, bãi chim Tiến Nông, động Từ Thức, đền Bà Triệu, đèo Ba Dọi.
Nhìn chung: Tài nguyên di tích lịch sử văn hóa ở thành phố nói riêng và cả tỉnh
Thanh Hoá rất phong phú đa dạng, có điều kiện để phát triển nhanh chóng ngành du lịch
dịch vụ. Với sự thuận lợi đó, thành phố Thanh Hoá có đủ điều kiện để trở thành trung tâm
dịch vụ du lịch lớn trong tuyến du lịch Bắc Nam. Hiện nay Tp Thanh Hóa có đủ các cơ sỏ
lưu trú tiện nghi, sang trọng để đón tiếp du khách như: Khách sạn quốc tế 4 sao Lam
Kinh, Khách sạn 4 sao Thiên Ý, Khách sạn 3 sao Sao Mai, Khách sạn 3 sao Phù Đổng,
Khách sạn 3 sao Phú Hưng, Khách sạn 3 sao Lam Sơn
h
Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây
Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ),
nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc
các tòa thành Đông Á. Ngày nay, nhiều phần của hào thành đã bị lấp cạn. Tuy nhiên, vẫn
có thể nhận thấy rất rõ dấu tích của hào thành ở bốn phía với chiều rộng trung bình 50m.
La Thành:
Bao quanh toàn bộ tòa thành đá và hào thành là La Thành. La Thành hiện còn là
một tòa thành đất cao khoảng 6m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,20m, chân
thành rộng khoảng 37m. Mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang, mỗi
bậc cao 1,50m, một số vị trí có trộn thêm sạn sỏi gia cố.
Thành nhà Hồ đã được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962. Mặc dù có nhiều
dự án tôn tạo nhưng vẫn chưa được triển khai và thiếu công tác nghiên cứu cơ bản, các cổ
vật đang bị phân tán và tòa thành bị tôn tạo "không đúng cách".
Tháng 6 năm 2011, thành Tây Đô đã được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo
dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đây là Di sản văn
hóa thế giới thứ 5 của Việt Nam sau phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn,
và Hoàng thành Thăng Long.
#
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng
Bắc Bộ, Việt Nam. Theo quy hoạch xây dựng phát triển kinh tế thì tỉnh này thuộc vùng
duyên hải Bắc Bộ. Mặc dù được xếp vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhưng Ninh Bình
chỉ có 2 huyện duyên hải là Yên Khánh và Kim Sơn không thuộc miền núi. Vùng đất này
từng là kinh đô của Việt Nam ở thế kỷ X, là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời
kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử
văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng. Ninh Bình được
ví như một Việt Nam thu nhỏ.