Tiểu luận triết học
MỞ ĐẦU
Vấn đề con người luôn là một trong những trọng tâm nghiên cứu của triết học
hiện đại, cả ở phương Tây lẫn phương Đông; cả trong các trào lưu triết học tư sản lẫn
các nhà triết học Macxit. Trái ngược với các ý kiến từ các nhà triết học tư sản cho rằng
triết học Macxit đặt trọng tâm vào đấu tranh giai cấp mà thường ít chú ý đến con
người; trên thực tế, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác luôn quan tâm đến vấn đề
con người, bản chất con người và con người xã hội chủ nghĩa. Marx nhấn mạnh: giải
phóng xã hội phải đặt trên cơ sở của giải phóng từng con người. Đảng ta cũng luôn
khẳng định con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Trong thế giới nhiều biến động hiện nay, vấn đề con người ngày càng trở thành
một trọng tâm nghiên cứu của các nhà triết học, xã hội học. Họ quan tâm đến những
hiện tượng như sự suy thoái về đạo đức, nhất là trong giới trẻ; ảnh hưởng của quá trình
toàn cầu hóa đến bản sắc văn hóa của các dân tộc, nhất là các dân tộc phương Đông,
trong đó sự xâm nhập của văn hóa phương Tây dường như đang làm thay đổi các tiêu
chí truyền thống về con người của các xã hội phương Đông. Trong khi đó, ở phương
Tây, phong trào đòi tự do cá nhân sau khi giành được những thành công đáng kể ở các
thập niên 60 – 70 của thế kỷ trước thì nay dường như lại là nguyên nhân dẫn đến chủ
nghĩa vị kỷ, thậm chí là chủ nghĩa vô chính phủ.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, sau thời gian dài phê phán chế độ xã hội chủ
nghĩa cũ làm mất tự do cá nhân, thì các hiện tượng xuống cấp về đạo đức xã hội, rời xa
bản sắc văn hóa dân tộc, chạy theo vật chất đã làm “choáng váng” các nhà lý luận “cải
tổ” ở các nước này.
Ở Việt Nam, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường, chúng ta cũng đã chứng kiến mặt trái của nền kinh tế
thị trường, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội. Hiện tượng xuống cấp về đạo đức, chạy
theo hưởng thụ vật chất tầm thường, sùng bái văn hóa phương Tây… đang là các vấn
đề nóng bỏng trên mặt trận tư tưởng hiện nay ở nước ta.
§
§
3
Tiểu luận triết học
I. QUAN ĐIỂM CỦA MARX VÀ ENGEL VỀ CON NGƯỜI
Con người là gì? Đó là câu hỏi được tranh luận ngay từ khi triết học ra đời. Suy
cho cùng, triết học là khoa học giải đáp về cuộc sống và con người, vấn đề con người
luôn được các nhà triết học tự cổ chí kim quan tâm luận giải. Mỗi một thời đại, mỗi
một trường phái triết học lại luận giải về con người theo một cách khác nhau. Luận
điểm nổi tiếng của Marx: “Con người, trong tính hiện thực của nó, là tổng hòa các mối
quan hệ xã hội” thể hiện rõ nét quan niệm của Marx, Engel về con người. Theo đó, con
người vừa là con người – tự nhiên, vừa là con người – xã hội. Con người tạo ra lịch sử
đồng thời cũng là sản phẩm của lịch sử. Con người được hình thành qua lao động,
chính lao động quyết định con người tách ra khỏi giới động vật, tạo thành xã hội loài
người. Đối với chủ nghĩa Marx, không có con người chung chung, trừu tượng; con
người là sản phẩm cụ thể của hoàn cảnh lịch sử. Đó là những nét chính trong quan
điểm của chủ nghĩa Marx về con người. Chúng ta lần lượt làm rõ những quan điểm đó.
1. Con người là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời là sản phẩm của xã hội
Con người là một động vật có tính xã hội với tất cả nội dung văn hóa – lịch sử
của nó. Con người, cũng như toàn bộ sinh giới của chúng ta, trước hết là sản phẩm của
tự nhiên. Con người, mặc dù là sinh vật phát triển nhất, vẫn là sản phẩm của sự tiến
hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do vậy, dù tiến hóa đến đâu thì con người
vẫn chịu tác động của nhiều quy luật sinh vật học như các sinh vật khác. Để tồn tại với
tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống , tức là phải
được đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của một sinh vật để tồn tại. Điều đó giải thích vì
sao Mác cho rằng có người trước hết phải ăn, mặc, ở rồi mới làm chính trị.
Tuy vậy, con người là một sinh vật có đặc tính xã hội. Marx và Engel nhận thấy
rằng, ngay cả những hoạt động tự nhiên của con người như ăn, ngủ cũng không còn
mang tính tự nhiên thuần túy mà còn có cả tính xã hội trong đó. Con người sống, hoạt
động không phải chỉ theo những bản năng di truyền sẵn có như các động vật khác mà
chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ xã hội theo lịch sử. Ngay cả hành
không nắm giữ tư liệu sản xuất (tầng lớp bị trị) đã tạo lên những tầng lớp, giai cấp
khác nhau trong xã hội với những con người có bản tính rất khác nhau. Chính sự khác
nhau đó đã khiến nhiều nhà triết học cổ đại phân chia con người theo đẳng cấp và coi
đẳng cấp của con người là không thể thay đổi, là số phận của mỗi con người. Platon,
§
3
Tiểu luận triết học
Aristotle đều phân chia xã hội thành các đẳng cấp: các nhà thông thái là tầng lớp lãnh
đạo, các chiến binh, thợ thủ công – nông dân tự do – thương gia và họ đều coi nô lệ
chỉ là những động vật biết nói, không phải là người. Ở phương Đông, Khổng Tử phân
chia con người thành ít nhất hai loại: quân tử và tiểu nhân. Đổng Trọng Thư phân chia
con người thành ba hạng: thánh nhân là bậc toàn thiện, dân thường có thiện có ác và
những kẻ toàn ác; những đặc tính này là do trời ban, do đó không thể thay đổi và cũng
vì vậy mà “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Sự phân chia đẳng cấp này bảo đảm
cho sự thống trị của giai cấp thống trị dựa trên những quan niệm duy tâm về con
người, thủ tiêu mọi đấu tranh của giai cấp bị trị.
Sự phát triển của lịch sử xã hội cũng là lịch sử phát triển của từng cá nhân trở
thành chủ thể sáng tạo tự do. Con người tạo thành xã hội, nhưng xã hội không đơn
giản là những tập đoàn người. “Xã hội không phải là những cá thể người, mà là biểu
hiện tổng số những mối liên hệ và quan hệ của chúng, trong đó những cá thể đó tồn tại
với nhau”. Xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, có quy luật phát triển của
nó. Những quy luật này tác động thông qua hoạt động có ý thức của con người nhưng
lại không phụ thuộc vào ý thức con người. Những quy luật phát triển của xã hội là
những quy luật khách quan, nhưng được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của
con người. Chúng không chịu sự chi phối của ý chí con người, dù người đó có là một
vĩ nhân. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật về xã hội cho thấy, mặc dù không thể
khống chế quy luật phát triển của xã hội, chúng ta hoàn toàn có thể cải tạo xã hội, tức
là thúc đẩy tiến bộ xã hội thông qua phát triển con người. “Không phải ý thức của con
người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”
(Marx – Engel toàn tập). Quan điểm này phủ định các quan điểm duy tâm, mang tính
tiễn, ngày nay, mỗi hoạt động của con người đều cần được lý luận dẫn đường. Chính
nhờ có lý luận mà hoạt động thực tiễn của con người càng mang tính tự giác, có hiệu
quả cao và đạt được mục đích. Đúng như Hồ Chí Minh nói: “thực tiễn mà không có lý
luận là thực tiễn mù quáng”.
Mặt khác trong lao động con người quan hệ với nhau tạo thành quan hệ sản
xuất, quan hệ sản xuất là nền tảng để từ đó hình thành các quan hệ xã hội khác trong
các lĩnh vực đời sống và tinh thần. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi và phát
triển tùy thuộc vào các chế độ xã hội với trình độ văn minh khác nhau. Khi xã hội bắt
đầu phân chia giai cấp, đa số người bắt buộc phải sống phụ thuộc vào một số ít người,
§
3
Tiểu luận triết học
quan hệ đó được pháp luật và nhà nước bảo vệ. Đồng thời sự phân công lao động trong
xã hội dần hình thành, dẫn đến lao động trí óc tách ra khỏi lao động chân tay. Điều đó
thúc đẩy sự phát triển của xã hội và khi xã hội phát triển thì lại đòi hỏi trình độ phát
triển cao hơn nữa của mỗi cá nhân. Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi
sống con người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể
lực và trí lực. "Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó
và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính
nó" (Marx – Engel toàn tập) .
Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, con người đã hình thành
trên thế giới một quyển mới, vẫn được gọi là trí quyển. Đó chính là sản phẩm tích tụ
của lao động con người trải qua nhiều thế kỷ. Có thể nói, với lao động, loài người hiện
nay đã bước vào một giai đoạn phát triển mới: thời kỳ của kinh tế tri thức. Nhưng
đồng thời, những tiến bộ công nghệ hiện đại cũng đem lại cho con người thêm nhiều
hiểu biết về tự nhiên, trong đó hiểu biết quan trọng nhất chính là việc con người không
thể tách mình ra khỏi tự nhiên, chế ngự tự nhiên mà phải học cách sống hòa hợp với tự
nhiên, coi mình là một bộ phận của sinh giới, của tự nhiên. Những tiến bộ mới trong
khoa học càng khẳng định sự đúng đắn trong luận điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng về con người.
sử của động vật “Chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và sự phát triển dần dần của
chúng cho đến trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng
làm ra và trong chừng mực mà chúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó
diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con
người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại
càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” (Marx – Engel
toàn tập).
Lịch sử loài người, về bản chất là lịch sử hoạt động lao động sản xuất của con
người. Trong quá trình lao động, chinh phục và khám phá tự nhiên, con người đã phát
triển bản thân, hoàn thiện nhân cách cá nhân cũng như xây dựng xã hội loài người.
Trong quá trình đó, con người cải tạo hiện thực, dần dần thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải
phóng bản thân. Nhưng quá trình đó không phải là quá trình phát triển đơn giản, phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Các quá trình lịch sử có vẻ như có sự lặp
lại, quanh co, nhưng thực chất là sự phát triển của tất nhiên xuyên suốt những sự ngẫu
§
3
Tiểu luận triết học
nhiên của sự kiện lịch sử. Về bản chất, đó là sự phát triển của nhận thức con người về
thế giới và về chính bản thân mình, sự phát triển này tuân theo những quy luật khách
quan của phát triển xã hội. Những quy luật này có điểm chung nhưng cũng có những
nét riêng khác biệt với các quy luật của tự nhiên.
Hoạt động của con người tạo ra lịch sử nên để có lịch sử trước hết phải có con
người. Hành động lịch sử đầu tiên của con người là hành động lao động sản xuất, từ
đó, con người tách khỏi động vật. Con người tách khỏi động vật như thế nào thì họ
bước vào lịch sử như thế ấy.
Trong quá trình phát triển của lịch sử, các quan hệ xã hội ngày càng trở lên
phong phú và không ngừng phát triển. Quan điểm duy vật lịch sử cho ta phương pháp
nhận thức các quan hệ xã hội bằng cách quy các quan hệ tư tưởng về các quan hệ vật
chất, rồi từ đó rút ra các quan hệ sản xuất. Phép biện chứng cho phép chúng ta nhận
thức những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, từ đó thấy được sự phát triển
Marx và Engel nhận thấy ở giai cấp công nhân sứ mệnh lịch sử là đội ngũ lãnh
đạo cuộc đấu tranh chống giai cấp bóc lột. Đối với Marx và Engel cũng như những
nhà tư tưởng cộng sản chủ nghĩa khác, nhiệm vụ của triết học không có gì khác hơn là
cung cấp cho giai cấp công nhân vũ khí tư tưởng để đấu tranh giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội một cách triệt để nhất. Đồng thời, giai cấp công nhân tìm thấy ở chủ
nghĩa Marx vũ khí tinh thần cho cuộc đấu tranh giải phóng chính mình và giải phóng
nhân loại. “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai
cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” (Marx – Engel toàn tập). Marx
viết “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn
đề là cải tạo thế giới” (Marx – Engel toàn tập).
Nghiên cứu kinh tế chính trị học, Marx và Engel xây dựng học thuyết giá trị
thặng dư. Từ đó, hai ông chỉ rõ nguồn gốc của những bất công trong xã hội, cũng như
nguồn gốc của lao động tha hóa. Đó là sự tước đoạt tư liệu sản xuất khỏi tay người lao
động, sự chiếm đoạt giá trị thặng dư do người lao động làm ra. Do đó mà trong khi lẽ
ra lao động phải là hạnh phúc của con người thì nó lại bị tha hóa đến mức khiến cho
người ta sợ lao động (“tính bị tha hóa của lao động biểu hiện rõ rệt ở chỗ là một khi
không có sự cưỡng bức lao động về thể xác hoặc về mặt khác thì người ta trốn tránh
lao động như trốn tránh bệnh dịch hạch vậy” – Marx và Engel toàn tập). Không có lao
§
3
Tiểu luận triết học
động đúng nghĩa, tức là cũng không có con người theo đúng nghĩa, bởi lẽ lao động
chân chính tạo ra con người.
Từ khi xuất hiện loài người, con người đã có ước mơ về một xã hội bình đẳng,
hạnh phúc. Ở đó, con người được giải phóng hoàn toàn, sống tự do và no ấm. Faust dù
đã bị mù, vẫn nhìn rõ mục tiêu của tương lai xa xôi, ở đó, con người “đứng trên miếng
đất tự do với một dân tộc được tự do”. Cách mạng tư sản Pháp hấp dẫn dân chúng với
tuyên ngôn “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi” và khẩu hiệu: tự do – bình đẳng – bác ái.
Để thực hiện ước mơ đó, suốt quá trình lịch sử, con người đã có nhiều cách theo
của tư sản và mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp tư sản và nhân dân lao động
nói chung. Các ông kịch liệt phê phán chủ nghĩa cải lương, mị dân muốn điều hòa lợi
ích của công nhân và giới chủ. Các ông vạch rõ:
- Giải phóng cá nhân con người chỉ có thể được thực hiện trong cuộc đấu tranh
giải phóng giai cấp. Đồng thời, giải phóng giai cấp chính là giải phóng xã hội. Đây là
sự giải phóng triệt để của con người.
- Chỉ có thể giải phóng được giải cấp vô sản bằng cách mạng vô sản. Đó là cuộc
cách mạng sẽ đập tan bộ máy nhà nước – công cụ thống trị của giai cấp tư sản, xây
dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước của nhân dân lao động.
- Tính tất yếu của lịch sử là sẽ đi đến một xã hội không giai cấp. Trong xã hội
đó (xã hội cộng sản chủ nghĩa), con người “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.
Đó là con người được giải phóng hoàn toàn, tự do hoàn thiện mình đến mức cao nhất.
§
3
Tiểu luận triết học
II. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn lời bản
tuyên ngôn bất hủ của Hợp chúng quốc Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền
bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Trải qua hàng trăm năm sống dưới ách thống trị của phong kiến và thực dân,
nhân dân Việt Nam luôn hiểu rõ giá trị của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải
phóng con người tháng 8 năm 1945. Hơn 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển đã
giúp Hồ Chí Minh đến được với chủ nghĩa Marx – Lênin và người nhận ra chân lý:
giải phóng dân tộc gắn liền giải phóng giai cấp; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội. Người chỉ rõ: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích
chung là thoát khỏi ách áp bức bóc lột, được sống sung sướng, tự do, tức là thực hiện
chế độ cộng sản” (xem Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004,
coi việc đào tạo thế hệ trẻ vừa hồng, vừa chuyên là nhiệm vụ trọng yếu. Đối với người,
“người có đức mà không có tài thì dùng vào việc gì cũng khó, nhưng người có tài mà
không có đức thì không dùng vào việc gì được cả”. Đạo đức với Hồ Chí Minh là đạo
đức của con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là tinh hoa của văn hóa dân tộc qua hàng
ngàn năm, là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là trung với Đảng, hiếu với dân,
là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế.
Xét đến cùng, xã hội là do con người xây dựng lên, vì thế Đảng ta xác định con
người là mục tiêu, cũng là động lực của sự phát triển. Kế thừa các quan điểm về con
người của chủ nghĩa Marx, Đảng xác định công tác xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ mới.
Xuất phát từ nền kinh tế tiểu nông, với nông dân chiếm tuyệt đại đa số trong
dân số, với các đặc trưng của nền văn minh lúa nước; con người Việt Nam khi bước
vào công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh mang đầy đủ các điểm mạnh và yếu của
§
3
Tiểu luận triết học
người nông dân sản xuất nhỏ đó. Bên cạnh lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường
dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ
quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý; tính cần cù, sáng tạo trong
lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống là những mặt hạn chế thấy rõ. Đó
là tư tưởng cục bộ làng xã, tư tưởng bình quân chủ nghĩa, thiếu tinh thần tự giác, tư
tưởng phép vua thua lệ làng; tập quán sản xuất tiểu nông, nặng về lợi ích trước mắt,
không chú trọng đến lợi ích lâu dài; tâm lý cầu an, cầu may; đề cao thái quá kinh
nghiệm, sống lâu lên lão làng….
Xác định những điểm mạnh và yếu nói trên, ứng với yêu cầu của thời đại mới,
tại hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, Đảng ta đã ra
nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị
quyết này xác định con người Việt Nam trong thời kỳ mới là con người:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ
đặt ra đòi hỏi lớn cho nền giáo dục mỗi quốc gia.
Song giáo dục không chỉ có nghĩa là đào tạo nghề, dạy cho con người những kỹ
năng cơ bản để kiếm sống. Giáo dục, theo quan niệm của UNESCO là dạy cho người
ta: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để chung sống
(Learning to live together) và Học để tồn tại (Learning to be). Điều đó đòi hỏi con
người không những được đào tạo những kỹ năng lao động mà phải được đào tạo cả
những kỹ năng chung sống với cộng đồng, những kỹ năng tự hoàn thiện mình.
Đảng ta xác định giáo dục đào tạo là ưu tiên hàng đầu, trong giáo dục thì giáo
dục chính trị tư tưởng rất được quan tâm. Đảng và Nhà nước đã đầu tư rất nhiều tiền
của, công sức cho công tác giáo dục trong điều kiện còn khó khăn hiện nay của nước
ta. Mục tiêu của chúng ta hiện nay là tri thức hóa dân tộc, trí thức hóa công nhân. Chỉ
có con đường đó mới đưa nước ta tiến kịp với các nước tiên tiến trên thế giới, mới gia
nhập được đoàn tầu kinh tế tri thức đã lăn bánh. Tuy thế có thể thấy là nền giáo dục
nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Chương trình đào tạo còn lạc
hậu, không theo kịp thời đại, giáo dục phổ thông còn nặng nề, chưa kích thích được
tính chủ động của học sinh, sinh viên. Trình độ đội ngũ thầy cô giáo nhiều nơi còn
chưa đạt yêu cầu…
§
3
Tiểu luận triết học
Đặc biệt là công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường thời gian gần đây dường
như bị buông lỏng, các tổ chức chính trị - xã hội (như đoàn thanh niên, hội sinh viên)
dường như bị vô hiệu hóa, hoạt động hình thức. Từ sự buông lỏng đó đã dẫn đến hậu
quả là sự xuống cấp (có lúc có nơi là nghiêm trọng) về đạo đức, đặc biệt trong học
sinh, sinh viên, thanh niên hiện nay. Hiện tượng này có thể giải thích là do ảnh hưởng
của nền kinh tế thị trường vào trong giáo dục; là điều không thể tránh vì giáo dục cũng
chỉ là một bộ phận của thượng tầng xã hội, vốn chịu ảnh hưởng quyết định từ hạ tầng
cơ sở và từ các cấu trúc khác của thượng tầng xã hội, mà các cấu trúc này đang trong
giai đoạn thay đổi mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, không thể đổ hết mọi
thiếu sót, sai lầm cho khách quan mà phải thấy hết những nguyên nhân chủ quan để có
động, cống hiến của người khác. Không lao động dẫn con người tới những hiện tượng
tiêu cực như trộm cắp, cướp bóc, nổi loạn, đúng như câu nói “nhàn cư vi bất thiện”.
Tuy vậy, chứng kiến những cuộc khủng khoảng kinh tế diễn ra theo chu kỳ của
chủ nghĩa tư bản trong suốt thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI này, ta đồng thời
phải chứng kiến hiện tượng thất nghiệp hàng loạt đang nổi lên như một vấn đề xã hội
nổi cộm ngay cả ở các nước tư bản phát triển nhất. Chứng kiến hiện tượng đó, chúng
ta có thể đặt cho mình câu hỏi: phải chăng đó là bản chất của nền kinh tế thị trường?
Nói cách khác thì nói đến kinh tế thị trường bắt buộc phải nói tới thất nghiệp? Nguồn
gốc của thất nghiệp là ở đâu? Phải chăng là do khoa học – công nghệ làm tăng năng
suất lao động đã đẩy một phần không nhỏ người lao động ra khỏi thị trường lao động?
Nhưng nếu năng suất lao động cao như vậy thì tại sao vẫn còn hiện tượng nghèo đói
ngay cả ở các nước giàu nhất? Phải chăng nguồn gốc sâu sa của thất nghiệp vẫn là ở
chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất? Chế độ tư hữu đó đã đẩy một bộ phận công
nhân vào cảnh tay trắng và buộc bộ phận còn lại lao động với cường độ và năng suất
cao mà vẫn hưởng mức lương không tương xứng, trong khi giới chủ ngày càng giàu
lên từ sự tích lũy giá trị thặng dư do lao động làm ra (theo ước tính của Forbes thì 20%
người giàu nhất chiếm đến 80% của cải toàn thế giới, người giàu nhất thế giới có tài
sản đến trên 50 tỷ USD trong khi những người nghèo có thu nhập chưa đến 2
USD/ngày mà số người nghèo trên thế giới lên đến trên 1 tỷ người).
Ở nước ta hiện nay, khi chấp nhận kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa tức là chúng
ta chấp nhận sự tư hữu về tư liệu sản xuất và sự bóc lột trong mức độ nào đó giá trị
§
3
Tiểu luận triết học
thặng dư của lao động. Trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển như hiện nay,
chúng ta cũng đang phải đối phó với hiện tượng mất và thiếu việc làm đang ngày càng
gay gắt hiện nay. Vì vậy, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm là
một chủ trương lớn. Bên cạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp, chúng ta
cần tăng cường đào tạo nghề nghiệp theo yêu cầu của thị trường, thúc đẩy những
ngành sản xuất tạo ra nhiều việc làm và nâng cao trình độ của công nhân cũng như
những nguyên tắc về thực tiễn, về quan niệm lịch sử - cụ thể trong cách nhìn biện
chứng với mọi sự vật, hiện tượng. Đó là nguyên tắc về khả năng đưa tư tưởng lý luận
thành vũ khí sắc bén, tạo thành sức mạnh vật chất to lớn có khả năng tác động thúc
đẩy sự tiến bộ của thực tiễn xã hội.
Tổng kết những thành tựu và thất bại cả trong và ngoài nước trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội mấy chục năm qua, ta có thể rút ra một bài học quan trọng,
đó là bài học về xây dựng con người. Rõ ràng, sự thành bại của một mô hình cụ thể là
do chính những con người cụ thể quyết định.
Chính vì vậy, nắm vững lý luận của chủ nghĩa Marx về con người, nắm vững tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam mới, hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử
cụ thể của nước ta hiện nay, những yếu tố tác động vào con người Việt Nam hiện nay
và từ đó xây dựng một chiến lược con người dài hạn là vấn đề cấp bách đối với công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
§
3
Tiểu luận triết học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo. Giáo trình triết học (dùng cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học). NXB Chính trị - hành chính.
Hà Nội, 2008.
2. Bộ giáo dục và đào tạo. Giáo trình kinh tế chính trị Marx – Lênin (Dùng
cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng)
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành
trung ương khóa VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1998.
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Khoa Triết học). Triết học Marx
– Lênin (Chương trình cao cấp) – Tập III. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000.
5. Phạm Minh Hạc.Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996.
6. Lê Doãn Tá. Triết học Marxit, quá trình hình thành và phát triển (giai
đoạn Marx – Engel và Lênin). NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996.